1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn THPT (74)

62 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 332 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Rèn tư duy phản biện cho sinh THPT trong bài văn nghị luận xã hội theo định hướng phát triển năng lực người học sinh 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông 3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 9 2017 đến 5 2018 4. Đồng tác giả: … 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến …

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Rèn tư duy phản biện cho sinh THPT trong bài văn nghị luận xã hội theo định hướng phát triển năng lực người học sinh

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 9/ 2017 đến 5/ 2018

4 Đồng tác giả: …

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến

Trang 2

ĐỀ TÀI: RÈN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH THPT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC SINH

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

1 Từ yêu cầu của nền giáo dục hiện đại

Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem

những cảm giác của con người sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất,làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó Giáo sư

Edward de Bono – người được mệnh danh là cha đẻ của Tư duy về tư duy (Thinking on Thinking) và là nhà khoa học bậc thầy về tư duy, nổi tiếng với quyển Sáu chiếc nón tư duy cùng hơn 62 đầu sách về tư duy, đã nhận định: Tư duy là kỹ năng vận hành của bộ não mà nhờ đó trí thông minh được nuôi dưỡng và phát triển Có tư duy bậc thấp và tư duy bậc cao, trong đó tư duy bậc cao gắn với các khả năng: hiểu biết, ứng dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo Ba trong số các nhà thiên tài tư duy của mọi thời đại: Newton, Darwin, Eisntein thì hoàn toàn không hẳn chỉ có bộ não xuất chúng mà một cái đầu lúc nào cũng đầy ắp câu hỏi - cốt lõi của tư duy bậc cao (High-order thinking) Tiến sĩ Robert Sternberg

- chuyên gia trí tuệ con người (human intelligence), nổi tiếng thế giới với khái niệm Trí tuệ thành công cho biết: Chỉ số thông minh (IQ) cao, kết quả học tập tốt hoặc tấm bằng đại học danh giá vẫn chưa đủ Nếu như bạn không có tư duy sáng tạo thì sẽ rất khó khăn để bạn tồn tại.

Ở các nước phát triển, những khóa học tư duy cho trẻ đã có từ lâu và được coi là mộtphần quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ Nhà sư phạm nổi tiếng Maria

Montessori chia sẻ: Đừng giáo dục các em thế giới của hôm nay Thế giới của hôm nay sẽ thay đổi khi các em lớn lên, do vậy, phải ưu tiên giúp các em biết cách phát triển tư duy sáng tạo và rèn luyện khả năng tự thích nghi Trong một xã hội năng động, hiện đại như

hiện nay thì việc học của học sinh không còn đơn thuần là ghi nhớ, tiếp thu những kiến

thức trong sách vở một cách thụ động mà đòi hỏi các em phải rèn luyện kỹ thuật tư duy bậc cao (high order thinking): gạn lọc, phân tích, nảy sinh ý tưởng, ra quyết định, giải

Trang 3

quyết vấn đề và lên kế hoạch Kỹ thuật tư duy bậc cao đòi hỏi phải suy nghĩ sâu và rộng vềmột vấn đề, có thể giải quyết vấn đề, suy nghĩ sáng tạo, suy nghĩ logic, ra quyết định, luônnảy sinh ý tưởng mới, phân tích - xử lý thông tin, lên kế hoạch cho tương lai Tư duy phảnbiện là một trong những kỹ năng tư duy bậc cao quan trọng cần rèn luyện cho học sinh đểđáp ứng được những yêu cầu của thời đại.

Khác với giáo dục truyền thống, giáo dục hiện đại đi từ kinh nghiệm hiện tại củachính người học chứ không không phải của người thầy Giáo dục hiện đại đề cao dân chủ,

vì dân chủ là một đặc tính của thời đại, dân chủ trong nhà trường thuộc về cả người dạy vàngười học Cả thầy và trò tương tác để hướng tới những mục tiêu của giáo dục chứ tuyệtnhiên trò không phải là chiếc bình để thầy có thể đổ đầy Mục đích của giáo dục là làm chongười học tự chủ, phát triển tối đa trí thông minh, khả năng phán đoán, khả năng tư duyđộc lập và phản biện Đây là những phương tiện quan trọng để các em tự tạo ra kiến thứccho mình, tạo ra thói quen tự học không phải chỉ trong nhà trường mà suốt đời Tự chủtrong việc học tập sẽ tạo thành tập tính nơi học sinh khi trưởng thành Người công dântương lai sẽ có đủ khả năng làm chủ chính mình, làm chủ cuộc sống của mình, có khả năng

tự thay đổi, biết phát hiện và có khả năng giải quyết, khắc phục những khó khăn - nhữngvấn đề do cuộc sống đặt ra cho cho mình, cũng như cho môi trường sống xung quanh

Nắm bắt được xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại trên thế giới, Đảng ta xác địnhgiáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu và kịp thời có những chỉ đạo sát sao để nângtầm giáo dục Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới Nghị quyết đạihội XII đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồnnhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển,mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỉ

XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà: dạy người, dạy chữ, dạy nghề Đi đến thống nhất về sự cần thiết phải chuyển mạnh từ chủ yếu trang bị kiến

thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã chỉ đạo các địa phương, cơ sở giáo dục tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằmphát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến

Trang 4

thức kỹ năng của học sinh theo tinh thần công văn 3535/BGDDT-GDTH ngày 27/5/2013.Như vậy, rèn tư duy phản biện cho học sinh là một trong nhũng xu hướng của giáo dụchiện đại, đáp ứng mục tiêu phát triển con người toàn diện

2 Xuất phát từ sự đổi mới dạy và học trong nhà trường phổ thông

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cựchóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắnvới những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ vớihoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữagiáo viên và học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực

xã hội Để hiện thực hóa định hướng đổi mới này, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiềubiện pháp đổi mới khác nhau : từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống nhưthuyết trình, đàm thoại… đến các phương pháp mới như phương pháp dạy học nêu và giảiquyết vấn đề, phương pháp dự án, phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy họcnhóm, và các kỹ thuật dạy học hiện đại… nhằm phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạocủa người học, hình thành những năng lực chung ( Năng lực làm chủ và phát triển bảnthân: tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo và quản lý bản thân; Năng lực xã hội : năng lựcgiao tiếp, hợp tác; năng lực công cụ : năng lực tính toán, sử dụng ngôn ngữ, ứng dụng côngnghệ thông tin) và năng lực đặc thù môn Ngữ văn ( năng lực giải quyết vấn đề; năng lựcsáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực tự quản bản thân; năng lực giao tiếp Tiếng Việt; nănglực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ) cho người học

3 Xuất phát từ một trong những năng lực đặc thù cần rèn luyện và đánh giá trọng sự phát triển năng lực chuyên biệt cho người học văn là tạo lập văn bản Tạo lập

văn bản (viết) là hoạt động tạo ra một văn bản hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, thểhiện qua cách tổ chức, xây dựng văn bản đúng quy cách và có ý nghĩa Văn bản viết phảithể hiện được sự vận dụng tổng hợp kiến thức (về các kiểu văn bản, về văn học, về văn hóa

- xã hội,…), các kĩ năng tạo lập văn bản theo các hình thức biểu đạt khác nhau và cả cảmxúc, thái độ, dấu ấn cá nhân của người viết nhằm đáp ứng mục đích giao tiếp Năng lực tạolập văn bản gồm các thành phần sau: - Xác định vấn đề và mục đích văn bản: Lựa chọnchủ đề, loại văn bản để đáp ứng những mục đích, đối tượng và hoàn cảnh cụ thể; lựa chọncấu trúc, cách trình bày - Lập dàn ý: Tìm kiếm thông tin, phác thảo bài viết, sử dụng chiếnlược viết - Viết: Triển khai hệ thống luận điểm trong phần dàn ý, tổ chức bài viết cho phùhợp với phương thức biểu đạt và quan điểm cá nhân - Tìm kiếm phản hồi: chia sẻ với bạn

Trang 5

bè và giáo viên, đặt câu hỏi, cân nhắc và chọn lựa những phản hồi phù hợp để phát triểnbài viết - Xem xét lại và chỉnh sửa: đọc lại văn bản, tự chỉnh sửa, trình bày lại Học sinh ởcấp THPT có thể tạo lập được văn bản theo những phương thức khác nhau, viết được cácbài văn nghị luận (về xã hội hoặc văn học), nêu được quan điểm, tư tưởng riêng của mình

về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức thuyết phục Trong quátrình làm bài, học sinh cần vận dụng các kiến thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt,Làm văn, Văn học cũng như kiến thức liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, ) đểgiải quyết vấn đề mà đề bài nêu ra Cần khuyến khích học sinh sử dụng các thao tác khácnhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, quan điểm riêngcủa mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau miễn là tư tưởng củangười viết không đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã quyđịnh Các nhiệm vụ viết cần tạo cho học sinh cơ hội vận dụng được những điều đã học vàogiải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với trình độ của các em Giống nhưrèn luyện và đánh giá năng lực đọc hiểu, việc rèn luyện và đánh giá năng lực tạo lập vănbản của học sinh cũng phải được tiến hành thường xuyên, trong đó có rèn luyện kĩ nănggiải thích

4 Thực tế quá trình rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh trong bài văn nghị luận xã hội hiện nay

Tuy là những học sinh giỏi, có chất văn, có năng lực cảm thụ văn chương, có khảnăng diễn đạt tốt, nhưng các em vẫn còn yếu về kỹ năng làm bài, trong đó có kỹ năng từngbước thực hiện các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, bình luận… trong đó taphải kể đến một khâu vô cùng quan trọng là viết phần giải thích Để làm tốt một đề thi lànghị luận văn học hay nghị luận xã hội, học sinh trước hết phải thuần thục các thao tácnghị luận mà đầu tiên là kỹ năng giải thích

Đề văn những năm gần đây ra theo lối mở theo tinh thần đổi mới của Bộ giáo dụcnhằm để phát huy tư duy sáng tạo của học sinh Trong đề thường không có chỉ dẫn rõ ràng

về thao tác lập luận, thế nhưng khi làm bài các em cần thiết phải biết phối hợp nhuầnnhuyễn các thao tác nghị luận Phần giải thích chiếm tỉ lệ điểm khá cao trong một bài văn,nếu các em không làm tốt phần này sẽ mất đi một cơ số điểm quan trọng và không đạt yêucầu của một bài viết

Với học sinh giỏi không làm tốt bài văn nghị luận có nhiều nguyên nhân cả về kháchquan lẫn chủ quan, nhưng trong đó phải kể đến một thiếu sót đáng tiếc thuộc về phía ngườilàm bài Đó là có không ít học sinh quên không giải thích, có học sinh có giải thích nhưng

Trang 6

còn sơ sài chưa sâu sắc thấu đáo, kín cạnh và chưa thể hiện được cái chất của một học sinhgiỏi văn Hoặc nhiều học sinh không biết cách giải thích cho dù có kiến thức Có em khôngbiết viết đoạn giải thích sao cho phù hợp…Có những thiếu sót đó trong bài văn là do các

em học sinh còn thiếu kỹ năng và vận dụng kỹ năng giải thích chưa tốt khi viết bài.Có lẽcòn có nguyên nhân từ phía người dạy, mải chú trọng đến cung cấp kiến thức mà ít chú ýtới việc rèn kỹ năng cho học sinh và trong đó có kỹ năng giải thích chiếm vị trí quan trọngảnh hưởng không nhỏ tới cơ số điểm, kết quả chất lượng bài thi của các em

II Thực trạng trước khi tạo ra sáng kiến

1 Thực trạng dạy và học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng trong các nhà

trường hiện nay

Lâu nay, ở nước ta, các trường chủ yếu trang bị kiến thức cho người học, lấy nó vàdựa vào nó để phát triển năng lực Nhiều năm qua, chúng ta đã nhận ra sự bất cập, hạn chếcủa việc này, nên đã chuyển hướng sang phát triển phẩm chất và năng lực người học Tuynhiên, do thiếu tính đồng bộ và nhận thức chưa thống nhất, nên việc dạy và học vẫn theocách cũ: trang bị kiến thức là chính, phát triển phẩm chất và năng lực là phụ Về căn bảnvẫn mang tính áp đặt từ người biết nhiều (cha mẹ, thầy cô) đối với các học sinh, sinh viên(người cần được truyền kiến thức) Các bậc cha mẹ luôn muốn con mình phải nghe lời, mọiviệc các con muốn đa số bị từ chối hoặc thỏa hiệp Thực trạng này đã hạn chế nhiều sựphát triển năng lực tư duy của người học

Bộ môn Ngữ văn với những đặc thù riêng của mình hướng đến rèn luyện nhữngnăng lực cụ thể cho người học như sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, giải quyết vấn đề, sángtạo, hợp tác, cảm thụ thẩm mỹ… cũng đang gặp không ít khó khăn Về phía người dạy,dưới áp lực của định hướng nội dung và phương thức thi cử, người thầy cơ bản vẫn làngười lên lớp, giảng giải, cung cấp kiến thức và như vậy trò vẫn bị thụ động Trong khi, đểphát huy được năng lực mỗi cá nhân, người dạy phải là người hướng dẫn, thiết kế các thaotác, là người đồng hành, hỗ trợ người học Thậm chí, để phát triển tư duy phản biện, ngườithầy phải hòa mình, tạo một không khí dân chủ hóa trong giờ học, tạo cơ hội tranh biện,nêu ý tưởng, quan điểm khác cho trò trước tình huống có vấn đề mà giờ học đã tạo ra Mộtphần tạo nên những vướng mắc ở người dạy là thực tế kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn

Trang 7

Trong chương trình hiện hành, nội dung của bài học là đối tượng cũng là mục đích chínhngười học cần chiếm lĩnh, theo đó, thước đo của kiểm tra đánh giá tập trung vào việc ngườihọc hiểu như thế nào về nội dung được học Vô hình trung, kiến thức vẫn là đích đến trong

sự kiểm tra Trong khi, phương pháp giáo dục mới đòi hỏi người học phải học cách thứcphát hiện và giải quyết vấn đề, cách tư duy Cần hiểu rằng, đánh giá không phải để phânloại cao thấp, mà chính là phương pháp để cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục Muốnphát triển tư duy người học, khâu kiểm tra đánh giá cần được quan tâm để có những độtphá lớn hơn Về phía người học, đa số học sinh vẫn thụ động thể hiện xuôi chiều kiến thức

đã được cung cấp, hiếm khi dám bày tỏ những quan điểm trái chiều với quan điểm của thầy

cô, của tài liệu dạy học cung cấp do không đủ mạnh dạn tìm đến các quan điểm khác nhau,lật lại vấn đề mà thuần túy đi theo lối mòn tư duy đã định sẵn, vẽ sẵn với những cách thức

cố định Dần dần, tư duy người học sẽ bị bào mòn bởi sự bị động trước kiến thức, mất đitính chủ động trong giải quyết vấn đề, bài viết không có màu sắc, không có chính kiến… Như vậy, cách dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng trong các nhà trường hiệnnay đang rất cần một sự thay đổi trong quan điểm, tư duy của cả người dạy và người học.Rèn tư duy phản biện cho học sinh là một trong những cách để tạo nên sự thay đổi đó

2 Cách dạy và học theo hướng tích cực, phát triển năng lực học sinh, bám sát yêu

cầu đổi mới trong dạy và học và kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo dục- đào tạo: Cụ thể,chúng tôi đã đầu tư nhiều hơn về thời gian thực hành, tiến hành có hệ thống một số cáchthức rèn luyện cho học sinh làm tốt kỹ năng phản biện khi tạo lập văn bản nghị luận thểhiện quan điểm của mình trước một vấn đề xã hội hoặc văn học

- Từ thực tiễn cách học đặc biệt chú ý đến khả năng vận dụng kiến thức để giải quyếtvấn đề thực tiễn trên, học sinh đã chủ động và thực sự hứng thú hơn, năng lực tư duyphản được rèn luyện nhiều hơn Chất lượng bài viết được cải thiện, khả năng lập luận củangười học đã tăng lên rõ rệt, học sinh tự giác ý thức về tầm quan trọng cũng như cách thứcphản biện cho đến việc xây dựng được lập luận phục vụ phản biện nhuần nhuyễn trong bàivăn nghị luận

Xin được trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp quý giá của thầy cô đồngnghiệp

Trang 8

III Giải pháp

Tư duy phản biện là một trong những năng lực tư duy quan trọng nhất cần phải rènluyện cho học sinh ngay từ khi còn học phổ thông Tư duy này gắn với thực tế học tập vàhoạt động của người học trong một diện không gian, thời gian rộng lớn, lâu dài Riêng bộmôn Ngữ văn, với từng phân môn lại có chiến lược rèn luyện tư duy phản biện khác nhau.Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu việc làm thế nào để rèn luyện tư duyphản biện cho người học sinh trong quá trình viết bài văn nghị luận xã hội Xuất phát từ vaitrò quan trọng của kĩ năng phản biện trong bài văn nghị luận, từ thực tế bài làm của họcsinh, để nâng cao kĩ năng phản biện trong bài văn nghị luận cho học sinh, chúng tôi đề xuấtmột số giải pháp cụ thể như sau:

- Nhận thức đúng về dạy học phát triển năng lực của người học sinh: Không

phải là dạy để người học biết kiến thức gì mà dạy cách người học được làm chủ kiến thức,vận dụng linh hoạt kiến thức trong những tình huống cụ thể như thế nào? Bằng những kỹnăng nào?

Trang 9

Tư duy phản biện (critical thinking) có cội nguồn từ triết lý phân tích và chủ nghĩakiến tạo thực dụng từ hơn 2.500 năm trước, trong kinh Phật mà chủ yếu là kinh Vệ-đà

và A-tì-đạt-ma cũng như trong truyền thống của Hy Lạp, tiêu biểu là quan điểm của nhàtriết học Socrat Mặc dù Socrat đã tiếp cận vấn đề tư duy phản biện từ lâu, nhưng phải đếnkhi xuất hiện định nghĩa về tư duy phản biện của J Dewey (1859-1952) - nhà triết học, tâm

lý học, giáo dục học người Mỹ - thì tư duy phản biện mới được biết đến một cách rộng rãi

J Dewey gọi tư duy phản biện đó là Xem xét một cách tích cực, kiên trì và cẩn thận về một niềm tin hoặc một giả thuyết thông qua các căn cứ, lý lẽ hỗ trợ nó và hỗ trợ những kết luận mà những giả thuyết đó có xu hướng dẫn đến Sau này, Hội đồng Anh đương thời quan niệm: tư duy phản biện là tư duy tự định hướng để đưa ra những ý tưởng mới, sáng tạo và giải quyết vấn đề Phản ánh qua kinh nghiệm, quá trình học tập và đưa ra những quyết định hiệu quả (Theo Giáo trình Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, Hội đồng giáo dục Anh, 2016) Từ điển Wikipedia định nghĩa: Tư duy phản biện hay là tư duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm (https://vi.wikipedia.org/wiki/)

Tóm lại, tư duy phản biện là tư duy phân tích, đánh giá thông tin về một vấn đề đã

có theo những cách nhìn khác nhau nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác củavấn đề; là tư duy chất vấn các giả định, giả thiết nhằm tìm kiếm sự thật, lý lẽ rõ ràng, nhấtquán về vấn đề nhất định; là sự khám phá những khía cạnh khác nhau của một vấn đề; lànhận định để khẳng định đúng sai, chứ không đơn thuần là sự tiếp nhận, duy trì thông tinmột cách thụ động Tư duy phản biện còn là tìm cách lý giải hay tìm tòi giải pháp mớinhằm giải quyết vấn đề, phân tích những giả định và chất lượng của những phương phápmới hợp lý hơn về một giả thuyết nào đó, chứ không phải sự phản đối với nghĩa tiêu cực;thể hiện sự nhạy cảm trước bối cảnh (nhận biết tình huống ngoại lệ, khác thường)

1.1.2 Đặc điểm

Trang 10

Vốn là hoạt động tinh thần dựa trên nền tảng của ba loại tư duy: lập luận, đưa raquyết định, phán xét và giải quyết vấn đề, tư duy phản biện có ba đặc điểm chính:

- Tính hiệu quả: Đảm bảo tránh nững sai lầm phổ biến như chỉ nhìn nhận một mặt

của vấn đề, bỏ qua những bằng chứng mới phản bác lại ý kiến cũ, suy luận chủ quan hơn làlập luận logic, không lập luận dựa trên những bằng chứng

- Tính mới lạ: Đảm bảo người tư duy không chỉ đơn giản nhớ một giải pháp duy nhất

hoặc một tình huống tương tự

- Tính tự định hướng: Đảm bảo sự độc lập trong suy nghĩ và giải quyết vấn đề của

người học

1.1.3 Yêu cầu

Thực hiện kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề cần chú ý các yêu cầu sau:

- Phải xem xét một vấn đề từ nhiều quan điểm khác nhau Điều này rất quan trọng

để đảm bảo suy nghĩ hiệu quả và tránh những lỗi thường gặp như chỉ nhìn một mặt của vấn

đề Chẳng hạn khi nhìn về nước Mỹ, người ta vừa thấy đây là một đất nước giàu có với nềnkinh tế phát triển mạnh nhất thế giới; nhưng cũng là một nước có tới 15% dân số- khoảng

48 triệu người đang chịu cảnh nghèo đói

- Sẵn sàng xem xét mọi bằng chứng, kể cả khi các bằng chứng mâu thuẫn với các

quan điểm trước đây của người học Bằng chứng/ minh chứng là những dữ liệu để dựa vào

đó có thể đưa ra đánh giá hoặc quyết định Thu thập và đánh giá minh chứng là yếu tố quantrọng của tư duy phản biện, bởi nếu đưa ra quan điểm mà thiếu căn cứ xác thực, quan điểm

đó sẽ bị bẻ gẫy trước ánh sáng chân lý

- Giải quyết các vấn đề không thường lệ, nghĩa là các vấn đề không quen thuộc,

không được xử lý thường xuyên, hoặc chưa có phương hướng giải quyết Vấn đề thường

lệ có thể được trả lời bằng các phương pháp quen thuộc, theo đúng quy trình đã được học.Còn vấn đề không thường lệ gắn với những câu hỏi có yếu tố bất ngờ, không có sẵn một

Trang 11

hướng tiếp cận đã được luyện tập kỹ Nếu quan tâm đến điều này, học sinh sẽ được thựchành tính tự định hướng và suy nghĩ theo cách mới lạ hơn.

- Cố gắng tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu hơn ngoài các cấu trúc bề mặt của một vấn

đề cụ thể để hiểu rõ các nguyên tắc cơ bản có liên quan đến vấn đề Yêu cầu này quantrọng bởi lẽ: để vận dụng được kiến thức vào hoàn cảnh mới, một người vừa phải nhận rarằng có thể so sánh được vừa quy chiếu được vấn đề mới với những vấn đề quen thuộc.Kiến thức thường không linh hoạt, để vận dụng rộng rãi, kiến thức cần được lưu trữ dướidạng cấu trúc bề sâu, nhưng đa phần ta hay lưu trữ dưới dạng cấu trúc bề mặt

1.1.4 Vai trò

Tư duy phản biện có vai trò to lớn trong đời sống xã hội: giúp con người vượt rakhỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen có sẵn; hướng đến cái mới, thoát ra khỏinhững rào cản của định kiến; tìm hiểu, phát hiện những ý tưởng, giá trị mới của vấn đề; tạotâm thế sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ trong suy nghĩ và hành động; có ý thức nhìnnhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới, đưa lại kết quả mới, kích thích khả năng sáng tạo

Tư duy phản biện giúp con người suy nghĩ một vấn đề theo nhiều hướng khác nhauvới những cách giải quyết khác nhau; khắc phục tình trạng nhìn nhận vấn đề một chiều,phiến diện, chủ quan, duy ý chí; suy nghĩ để giải quyết vấn đề theo hướng xem xét kỹ ởmọi góc độ, khía cạnh, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn phương án tối ưuvới những lập luận có cơ sở vững chắc; ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôntrọng ý kiến người khác khi tranh luận; sẵn sàng chấp nhận sự thật khách quan, lắng nghe ýkiến khác với ý kiến của mình và cố gắng tìm hiểu bản chất của vấn đề trước khi đưa ra kếtluận; dám thừa nhận cái chưa đúng, sẵn sàng thừa nhận cái đúng của người khác và vì vậy,

dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với mọi người

Tư duy phản biện giúp con người có phương pháp tư duy độc lập, nhìn ra những hạnchế, sai lầm dễ mắc phải trong quá trình tư duy của mình, từ đó đưa ra những nhận định,phán đoán tối ưu; có suy nghĩ tích cực, giảm thiểu trạng thái tâm lý buồn rầu, thất vọng,mất lòng tin; khám phá những tiềm năng vốn có của bản thân, tạo động lực vượt lên chính

Trang 12

mình, tự khẳng định mình, hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo; nỗ lực cậpnhật, chắt lọc những thông tin cần thiết, có giá trị, bổ ích cho bản thân; nâng cao kỹ năngtiếp cận và xử lý thông tin; trình bày vấn đề một cách sáng tạo; đưa ra luận điểm/luận cứmột cách rõ ràng; tăng cường khả năng suy nghĩ theo hướng mở, rõ ràng, đáng tin cậy,không hấp tấp, vội vàng; dễ dàng hòa đồng vào tập thể, cộng đồng.

Tư duy phản biện, hơn nữa, còn trở thành một động lực phát triển xã hội, có giá trịrất lớn quyết định tới sự thành bại của tổ chức xã hội và sự tiến bộ của loài người Xã hội

có phản biện là xã hội phát triển, tránh được rủi ro, thúc đẩy cải tiến cái cũ và sáng tạo cáimới Tư duy phản biện giúp con người giải quyết vấn đề một cách thấu tình, đạt lý; kế thừanhững giá trị trong quan điểm cũ, hình thành quan điểm mới nhằm cải biến nhận thức vàhành động trong thực tiễn; chủ động, tự giác, thể hiện tính chính xác, triệt để, có căn cứ vàchứng minh được các lập luận, nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội; tìm kiếm con đườngđúng đắn, hiệu quả nhất để đạt tới chân lý; phát hiện ra những sai lầm; rèn luyện phươngpháp tư duy biện chứng

Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, tư duy phản biện giữ vai trò đặc biệt quantrọng, vì khoa học cần đến thực nghiệm, ứng dụng thông qua những hoài nghi và phảnbiện Trong thực tiễn, tư duy phản biện cùng với những loại hình tư duy khoa học khác đãtạo ra sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học; trở thành một trong những tiền đề tưtưởng cho các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Tư duy phản biện là một trongnhững phẩm chất cốt lõi của hoạt động trí tuệ của đội ngũ những người làm khoa học vàphát minh, sáng chế

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tư duy phản biện là một trong những kỹ năngquan trọng nhất và cũng khó nhất, đặc biệt là trong giáo dục - đào tạo hiện đại Phươngpháp giáo dục - đào tạo hiện đại bao hàm tư duy phản biện, cung cấp cho người học khôngchỉ cách giải quyết vấn đề mà cả cách nêu vấn đề Phát triển năng lực tư duy phản biện chongười học là phát triển năng lực tư duy độc lập, tiếp nhận và xử lý thông tin, tri thức Với

tư duy phản biện, giáo dục - đào tạo ngày càng chuyển từ phương pháp truyền thống sang

Trang 13

chuyển từ hình thức học chủ yếu trên lớp sang hình thức tổ chức học tập đa dạng, chú ý cáchoạt động xã hội, ngoại khóa; chuyển từ cung cấp tri thức, kỹ năng là chủ yếu sang cungcấp phương pháp nghiên cứu, học tập là chủ yếu; chuyển từ đánh giá tri thức là chủ yếusang đánh giá năng lực là chủ yếu; v.v nhằm giáo dục, đào tạo những lớp người mới tíchcực, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.

1.2 Tư duy phản biện trong bài nghị luận xã hội

1.2.1 Đặc điểm của bài nghị luận xã hội

Trong chương trình phổ thông, môn Ngữ văn có “chức năng kép”: vừa là môn họcnghệ thuật vừa là môn học công cụ Nếu bài nghị luận văn học (NLVH) chú ý hướng tớiđánh giá, bồi dưỡng ở người học năng lực cảm thụ thẩm mĩ thì bài nghị luận xã hội(NLXH) nghiêng về rèn luyện và phát triển ở người học những năng lực chung như: nănglực giải quyết vấn đề, năng lực quản lí bản thân, năng lực tương tác xã hội….Có thể nói,

ở bài NLXH, sự nối liền giữa bục giảng và đời sống được thể hiện một cách trực tiếp rõnét nhất

Theo từ điển từ và ngữ Hán Việt: nghị luận là dùng lập luận để phân tích ý nghĩa

phải trái, bàn bạc mở rộng vấn đề, còn xã hội là những gì thuộc về quan hệ giữa người vớingười trong đời sống Từ đó, có thể hiểu NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc vềcác vấn đề liên quan đến mối quan hệ của con người với con người trong đời sống xã hội

(Dẫn theo Đỗ Ngọc Thống - Dạy và học nghị luận xã hội, tr.5)

Như vậy về nội dung kiến thức, bài NLXH là nơi người viết thể hiện những hiểubiết, quan điểm, chính kiến của bản thân về các vấn đề xã hội; tin tức thời sự cập nhật;những truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức; những vấn đề chính trị, pháp luật, tâm lí, xãhội… Bài NLXH vừa mang hơi thở thời đại, vừa quan tâm đến những vấn đề muôn thuởtrong quan hệ giữa người với người, vừa thể hiện góc nhìn, quan điểm, thái độ riêng củangười viết Vì thế, các chủ đề của bài NLXH quen mà không cũ, mới mà không lạ, có khảnăng kích hoạt tư duy, tăng cường tranh biện, đối thoại Sau đây là một số ví dụ:

Đề thi của Pháp

Trang 14

- Bạn có thể yêu quý người mà mình không tôn trọng?

- Sự thật có cần chứng minh?

- Hạnh phúc có cần phải đi tìm?

- Lí trí có thể giải quyết mọi việc hay không?

- Người ta có thể thoát khỏi văn hoá của mình không?

Đề thi của Trung Quốc

- Hãy viết về một loài hoa, loài cây, con vật, món đồ - thứ tạo cảm hứng cho niềm

đam mê của anh/chị.

- Hãy nhận xét về những hành vi thiếu văn minh ở thủ đô Bắc Kinh.

- Một người trung thực có thể không thông minh, một người thông minh có thể không sáng suốt Anh/chị hãy viết bài luận về chủ đề này, bài không được ít hơn 800 từ.

- Một cô gái đã báo cảnh sát vì bố cô ta vừa lái xe vừa nhắn tin, cảnh sát tới và phạt người bố, hãy viết bài luận dựa trên góc nhìn của cô con gái, người bố hoặc anh cảnh sát Bài không được dưới 800 chữ.

Đề thi của Việt Nam

- Tuổi trẻ có cần sống khác biệt?

- Một con sâu bò cả ngày có thể di chuyển được 1 mét Nếu trước khi chết nó muốn

di chuyển được 10 kilômét thì phải làm thế nào đây? Phải gồng mình và bò quyết liệt hơn? Không phải vậy Phải biến thành bướm và vỗ cánh bay đi Hãy viết về một bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra từ đoạn văn trên.

- Viết một bài văn với chủ đề : Khoảng trống

Có thể thấy, các đề NLXH hay thường gắn liền với các vấn đề của cuộc sống thườngnhật, khơi gợi được hứng thú của người viết và tạo điều kiện để người viết được tự do bộc

Trang 15

Về kĩ năng, bài NLXH đòi hỏi học sinh phải biết cách lập luận, tức là phải biết sửdụng lí lẽ và dẫn chứng để xây dựng luận cứ, luận điểm; từ đó đánh giá, bàn bạc về vấn đề.

Độ chính xác, tính thuyết phục, sự sắc sảo của lập luận phụ thuộc vào vốn hiểu biết củangười viết Nhưng yếu tố quyết định chất lượng lập luận chính là kĩ năng tư duy Để viếtbài NLXH, học sinh phải vận dụng phối hợp nhiều kĩ năng tư duy từ bậc thấp (ghi nhớ, táihiện…) đến bậc cao (phân tích, đánh giá, phản biện, giải quyết vấn đề…) Nếu việc tíchlũy kiến thức là một quá trình lâu dài và được giáo viên, học sinh chú trọng thì việc rènluyện các kĩ năng tư duy đặc biệt là kĩ năng tư duy bậc cao (high oder – thinking) chưathực sự được quan tâm Thiếu các kĩ năng tư duy bậc cao, bài văn NLXH của học sinhthường đi theo những lối mòn, thiếu bản sắc, thiếu sáng tạo Để mỗi bài NLXH trở thành

“tiếng nói riêng” giàu sức thuyết phục về các vấn đề thời sự cập nhật, các vấn đề đạo đứcnhân sinh…không thể không chú ý đến việc hình thành và phát triển ở người học tư duyphản biện – một trong những kĩ năng tư duy bậc cao có ý nghĩa thiết yếu đối với con ngườitrong xã hội hiện đại

1.2.2 Vai trò của tư duy phản biện trong bài nghị luận xã hội

Khi bàn bạc, đánh giá các vấn đề xã hội nói chung, khi viết bài NLXH nói riêng đôi

khi việc đưa ra câu trả lời có/không, đúng/sai không quan trọng bằng việc lí giải vì sao người viết lựa chọn như vậy Không phải ngẫu nhiên, trả lời câu hỏi: “Câu danh ngôn mà cha thích nhất?” của con gái, C Mác đáp: “Biết hoài nghi tất cả” Biết hoài nghi tức là

phải có tư duy phản biện khi nhìn nhận đánh giá các vấn đề Tư duy phản biện gắn liền với

quy luật triết học: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó Tư duy phản biện hướng

người học nhìn sự việc hiện tượng ở khía cạnh mà ít người quan tâm Vì vậy, nó có thểđem đến những góc nhìn mới lạ khi tiếp cận vấn đề Đó là cơ sở để bài NLXH thoát khỏinhững “khuôn mẫu”, những “lối mòn” và thể hiện được chính kiến cá nhân của người viết

Tư duy phản biện không chỉ yêu cầu HS tiếp cận sự việc, hiện tượng ở cấu trúc bềsâu để có cái nhìn đa chiều, sắc sảo mà còn làm cho bài NLXH có tính chất đối thoại và giá

Trang 16

trị thức tỉnh Chính điều đó làm nên sự sâu sắc và sức hấp dẫn của bài viết Sau đây là một

số ví dụ:

Ví dụ 1: Góc nhìn phản biện thể hiện quan điểm và chính kiến cá nhân của GS Trần

Ngọc Thêm khi bàn về giáo dục của người Việt:

Trong gia đình, mục tiêu ngoan theo nghĩa biết vâng lời khiến cho người Việt Nam

từ xưa đến nay hầu như chưa bao giờ được là chính mình Đứa con khi còn nhỏ đi học vì cha mẹ, chọn trường chọn nghề theo ý cha mẹ, lấy vợ vì cha mẹ, đẻ con, nuôi con có khi cũng vì cha mẹ, theo ý cha mẹ Nếu cha mẹ còn sống thì dù có lên ông lên bà rồi nhưng làm gì cũng vẫn phải hỏi ý kiến các cụ Nhờ thế mà có kết quả là gia đình cực kỳ ổn định,

êm thấm, dù đôi khi chứa đựng cả một bi kịch bên trong.

Trong nhà trường, mục tiêu giỏi theo nghĩa thuộc bài đã đẻ ra các căn bệnh học gạo, học tủ, học lệch , đẻ ra nghề luyện thi và các lò luyện thi Nhờ thế mà có nhiều người đỗ đạt, nhận bằng Xã hội có nhiều người thành đạt nhờ thuộc bài và biết vâng lời như thế là một xã hội rất ổn định.

Tóm lại, triết lý “con ngoan trò giỏi” đã giúp cho Việt Nam trong một thời gian dài

có một nền văn hóa cực kỳ ổn định mà không một cuộc xâm lăng nào có thể phá đổ Nền giáo dục theo triết lý “con ngoan trò giỏi” đã thực hiện được sứ mệnh xây dựng văn hóa bảo tồn đất nước, chống ngoại xâm.

Từ sau đổi mới chúng ta hướng đến một xã hội phát triển Từ truyền thống “trọng tĩnh”, ở một số phương diện nào đó chúng ta đã chuyển sang “trọng động” Ngày xưa giàu có phải giấu đi nhưng giờ thì khoe ra, phải tự hào Dân giàu nước mạnh, triết lý sống

đã thay đổi Trong khi đó thì triết lý giáo dục vẫn như cũ, không thay đổi gì cả Với triết lý

“con ngoan trò giỏi” thì mọi thứ đều bị rập khuôn (bài mẫu, cách giải mẫu, đề mẫu ), mọi hoạt động đều mang tính đối phó.

Sự độc lập suy nghĩ có thể được khuyến khích một cách hình thức, còn thực chất là thường bị thủ tiêu Sự sáng tạo thường bị dập tắt Độc lập suy nghĩ tất sẽ hình thành thói quen phản biện, mà phản biện thì sẽ không còn ngoan và biết vâng lời Sáng tạo thì sẽ mới

Trang 17

lạ, độc đáo, không theo khuôn mẫu nào Không theo mẫu, không đúng đáp án là không thuộc bài, ít thầy cô dám xem là trò giỏi.

Để yên ổn, ổn định thì mọi người phải giống nhau Nếu trồi lên khác người thì sẽ phá vỡ sự ổn định và do vậy sẽ bị dập xuống…Nền giáo dục của chúng ta đã tạo được một

số trường chuyên rất nổi tiếng Các trường này có thể có tỉ lệ 100% (hoặc gần 100%) thi

đỗ đại học, có thể có nhiều học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế Những học sinh này đều là những người rất giỏi, thông minh, nhưng điểm lại hầu như chẳng có mấy ai trở thành nhà khoa học lớn Những tài năng như GS.VS Trần Đại Nghĩa,

GS nhạc sĩ Trần Văn Khê, GS Ngô Bảo Châu…, nếu không được đào tạo tiếp nhiều năm

ở phương Tây thì chắc cũng chẳng thành danh Văn hóa phương Tây là văn hóa hướng đến phát triển nên xã hội phương Tây khuyến khích học trò tranh luận, phản biện Có phản biện, có tranh luận thì mới có phát triển Nhu cầu xã hội của Việt Nam thời nay là phát triển, nhưng nền giáo dục vẫn bị triết lý giáo dục thuở xưa chi phối, không thay đổi bao nhiêu, cho nên không còn thích hợp (Dẫn theo vietnamnet.vn)

Ví dụ 2: Cái nhìn phản biện có giá trị thức tỉnh của TS Đặng Hoàng Giang khi bàn

về một hiện tượng đời sống:

Vì sao chúng ta lại ưu tiên tin xấu, đắm đuối với chúng, thay vì chú ý tới những điều tốt lành? Vì sao chúng ta muốn kêu ca, phàn nàn thay vì vui tươi chuyền tay những tin vui, những câu chuyện đẹp? Hội chứng “bức xúc” mới nghe thoạt tưởng vô lý, nhưng nó có những lý do tâm lý đằng sau.

Trước hết, khi lên tiếng phê bình hay than phiền về một điều gì đó, chúng ta chứng

tỏ cho người khác và cho bản thân là chúng ta không thờ ơ, vô cảm, mà vẫn quan tâm, lo lắng Hơn nữa, khi chê trách người khác, chúng ta cảm thấy ưu việt về mặt đạo đức, và tự hài lòng vì thấy mình tốt đẹp hơn Càng có nhiều vụ cướp tiệm vàng, bác sĩ vứt xác bệnh nhân, bảo mẫu đánh trẻ, hôi của, bẻ hoa, chúng ta càng có nhiều cơ hội tự nhủ là chúng ta không phải “họ”, chúng ta chỉ không may bị chung sống cùng “họ”, nhưng thực chất chúng ta ưu tú hơn “họ” nhiều.

Một điểm quan trọng nữa là khi bức xúc, chúng ta phát ra tín hiệu là chúng ta vô can và vô tội Các chính trị gia đã nhận ra điều đó; các bạn có thấy gần đây các quan

Trang 18

chức cũng bức xúc rất nhiều? Khí bày tỏ sự bức xúc, một cách khéo léo, chúng ta tuyên bố

là mình không thể thuộc về bên “thủ phạm” được, mà mình đứng về phía bị thiệt thòi, mình cũng là nạn nhân.

Dần dần, chúng ta đâm ra nghiện những cái lắc đầu, những cái chép miệng, lúc thì

ta phẫn nộ, khi thì chỉ cười buồn Cảm giác mình tốt đẹp, đầy sự quan tâm, cộng với sự vô can, không liên đới, không chịu trách nhiệm, là một cảm giác êm ái Nó cũng giúp xoa dịu những bứt dứt lương tâm thi thoảng nổi lên, khi chúng ta lờ mờ cảm thấy mình không đủ dũng cảm để làm hết những gì có thể làm trước những sai trái trong xã hội Những lúc đó, cách trấn an bản thân hiệu nghiệm là tỏ ra bức xúc một cách gay gắt.

Nhưng chúng ta không vô can Cuộc sống của mỗi cá nhân chúng ta đang đặt trên nền của bao nhiêu bất công và phi lý Những viên gạch xây nền ngôi nhà của ta được đóng bởi những đứa trẻ có tuổi thơ vất vả Cái ti vi ta dùng được bởi những người công nhân di

cư có một cuộc sống buồn tẻ và khốn khó, con cái họ bị khó dẽ khi tới trường vì không có

hộ khẩu (Dẫn theo Bức xúc không làm ta vô can)

Ví dụ 3: Cái nhìn phản biện và cách tiếp cận vấn đề ở cấu trúc bề sâu trong bài viết

của HS khi bàn về văn hóa xếp hàng của người Việt:

Dạo trước, tôi có đọc một bài báo nhan đề "Người Việt không xếp hàng vì đã mất niềm tin vào sự công bằng" Đại ý là dân mình ai cũng sợ kẻ khác tranh mất phần, mất quyền lợi nên chọn đi đường tắt để đạt được mục đích Thời bao cấp, người ta chịu khó xếp hàng vì mọi người xung quanh đều làm thế Nhưng thời nay, nhiều người viện đến các mối quan hệ để chen ngang, nhỏ thì khi xếp hàng khám bệnh, lớn thì khi đi xin việc, xin học cho con, Vậy nên người ta lo sợ rằng kẻ xếp hàng sẽ phải chịu thiệt Điều này cũng không phải không có cơ sở Ngay từ thời còn bé tí, rất nhiều người đã chứng kiến cảnh tượng bố mẹ nhờ cậy khắp nơi để giành cho con mình vị trí trong lớp chọn, trường điểm Rồi thì bố mẹ tìm mọi cách để con mình đến sau nhưng vẫn được vào khám bệnh trước Suy cho cùng là "bố mẹ muốn tốt cho con" mà thôi Điều đó vô tình đã hình thành nếp nghĩ

ăn sâu vào tiềm thức của những tâm hồn thơ trẻ: lợi ích cá nhân phải được ưu tiên hơn hầu hết mọi thứ, kể cả việc xếp hàng Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng tình trạng tiêu cực ấy chỉ

là nhất thời, không thể coi là bộ mặt chung của toàn xã hội Hơn nữa, chúng ta cũng

Trang 19

không nên đổ lỗi cho các yếu tố khách quan xung quanh Nguyên nhân cốt lõi nhất, vẫn là

do ý thức cá nhân Người ta không xếp hàng vì họ không cảm thấy cần thiết: quỹ thời gian

eo hẹp của họ không đáng phải hao hụt thêm cho những giờ phút chờ đợi vô nghĩa nữa Đành rằng hầu hết những người thành công trong xã hội hiện đại đều cực kỳ bận rộn, nhưng nếu muốn đạt được một nhu cầu nào đó thì buộc phải tuân theo những quy luật bất thành văn, mà xếp hàng là một trong số đó…

"Chờ đợi là hạnh phúc" Xét trên phương diện một nét đẹp văn hóa, thì một xã hội biết xếp hàng đúng là một xã hội hạnh phúc Mới đầu có thể còn cảm thấy đôi chút gò bó, nóng vội, nhưng tôi sẽ kiên nhẫn chờ, chờ đến đúng chuyến tàu của mình Đến một ngày,

tự khắc lòng sẽ thấy an yên khi được dự phần vào một chỉnh thể ngay ngắn Có khi, xếp hàng cũng là để đợi niềm vui như vậy, đợi cầu vồng phía sau những cơn mưa, như chờ đến đúng lượt mà mẹ tạo hóa đã ban tặng, "như chờ tình đến rồi hãy yêu" ( Bài làm của học sinh)

Tư duy phản biện không chỉ chi phối cách thức tiếp cận vấn đề mà còn quyết địnhcách lập luận, cách thể hiện của bài NLXH Nhà thơ Latvia, Imant Ziedonis trong bài thơ

Lẽ phải của riêng mình từng đề nghị:

Hãy đồng ý rằng bình minh cũng đẹp như hoàng hôn Cùng một lúc hãy công nhận với người này là mặt trời đang mọc và với người kia là mặt trời đang lặn Từ góc độ này,

từ góc độ khác

Đèn sáng trên bàn Cây đèn phải nhưng bóng tối luẩn quất ở góc phòng cũng phải Những người trầm trồ: "Chà, thơm quá!" rất phải, nhưng những người kêu ca: "Ôi, mùi gì khó chịu thế!" cũng phải không kém.

Ví dụ như tỏi Hay rong rêu Hay con ngựa Hay pho mát Hay các loại nước hoa chẳng hạn Vừa mũi người này nhưng chắc gì đã vừa mũi người khác.

Có rất nhiều lẽ phải khác nhau trên cõi thế Nếu ta không có lẽ phải của riêng mình thì ta có thể phát điên.

Rõ ràng, góc nhìn sẽ quy định cách viết Xuất phát từ “góc nhìn không thường lệ”,

tư duy phản biện yêu cầu người viết phải “tìm được lẽ phải của riêng mình” Tất nhiên, “lẽ

Trang 20

phải” ấy không phải là những lời bàn lùi, bàn ngược hay là những ngụy biện vô căn cứ.Phản biện cũng hoàn toàn không phải là nhận định chủ quan, cảm tính, cố tình đưa ranhững ý kiến khác thường để chứng tỏ cái tôi cá nhân Phản biện là những quan điểm,những đánh giá khác với số đông dựa trên lí lẽ, dẫn chứng và những suy nghĩ sâu rộng,

mang tính phát hiện về vấn đề Nhận định của GS Văn Như Cương: Giáo dục Việt Nam đang thay đổi chứ chưa đổi mới, bởi vì những cải cách giáo dục gần đây chưa tạo ra sự thay đổi về chất (Theo vietnamnet.vn); ý kiến của một cựu chiến binh ở Thái Bình: Theo tôi, đã lấy phiếu tín nhiệm thì chỉ để hai loại phiếu: tín nhiệm và không tín nhiệm thay vì tín nhiệm cao và tín nhiệm thấp Về bản chất, tín nhiệm cao và tín nhiệm thấp đều là tín nhiệm và việc bỏ phiếu không có giá trị pháp lí (Theo VOV.vn) Đó là những phản biện với

những lí lẽ sắc sảo, đầy sức thuyết phục

Tóm lại, tư duy phản biện là kĩ năng tư duy bậc cao, đòi hỏi người viết phải biết đặtcâu hỏi để phát hiện vấn đề, biết kết hợp lí lẽ và dẫn chứng để trình bày vấn đề Trong dạyhọc NLXH, tư duy phản biện có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ở người học thái độhọc tập chủ động, tích cực; đó là yếu tố cần để tạo ra những bài viết có chiều sâu, giàu bảnsắc và cá tính

1.2.3 Mục đích của việc rèn tư duy phản biện trong dạy học nghị luận xã hội

Do tính chất trường quy, đa số các bài NLXH của HS trong nhà trường phổ thôngthường thiếu ý tưởng; mang tính rập khuôn trong diễn đạt và lập luận Việc hình thành vàphát triển tư duy phản biện trong dạy học NLXH có ý nghĩa tích cực trong việc khắc phục

sự khuôn mẫu công thức, nâng cao chất lượng bài viết, đưa quá trình dạy học về gần vớiđời sống và làm cho hoạt động học tập có tính ứng dụng, thực hành cao

Không dừng lại ở đó, tư duy phản biện trong bài NLXH còn có tác dụng kích hoạt tư

duy sáng tạo Carlos Williams từng đề nghị: Nếu bạn được đưa giấy có đường kẻ, hãy viết bằng mặt còn lại Tiếp cận vấn đề từ góc nhìn riêng, khác với số đông trong tư duy phản

biện chính là những bước đi ban đầu của hành trình tìm tòi, sáng tạo ra cái mới Tư duyphản biện bao giờ cũng gắn với tư duy sáng tạo

Trang 21

Mặt khác, trong quá trình thực hành phản biện, HS sẽ hình thành cho mình những kĩnăng cần thiết được coi là “chìa khóa thành công” trong xã hội hiện đại: kĩ năng thu thập

và xử lí thông tin, kĩ năng tự định hướng, kĩ năng giải quyết vấn đề

Như vậy, rèn kĩ năng phản biện trong bài NLXH không đơn thuần là rèn luyện cho

HS kĩ năng làm bài mà là một khâu trong quy trình dạy học theo hướng phát triển nănglực Tư duy phản biện là “tập con” của tư duy sáng tạo; tư duy phản biện cũng là tiền đềcủa những phẩm chất cá nhân cần thiết trong môi trường xã hội năng động: sự độc lập, bản

lĩnh, sự tự tin J Rosseau từng khẳng định: Chọn con đường đối lập với lối mòn, bạn gần như sẽ luôn làm tốt Khuyến khích người học phản biện tức là khuyến khích HS tách khỏi người khác để không phải sống, thở, đọc và viết hàng ngày dưới gông cùm những ý kiến của họ (Emerson), giúp HS trở thành những cá nhân có năng lực tư duy độc lập, có khả

năng sáng tạo chứ không phải những con người công cụ

2 Các giải pháp trọng tâm rèn tư duy phản biện cho học sinh trong làm bài nghị luận

xã hội

2.1 Thiết kế nội dung học tập kích thích tư duy phản biện

Là kiểu tư duy định hướng, đưa ra những ý tưởng mới khi giải quyết vấn đề, tư duyphản biện bắt nguồn từ tinh thần hoài nghi và tinh thần dân chủ Không dễ dàng để HS cóthói quen học tập thụ động và tiếp nhận thông tin một chiều thay đổi để tìm tòi, xem xétcác vấn đề bằng những góc nhìn đa chiều, mới mẻ, độc lập trong phân tích đánh giá để đưa

ra những quyết định cá nhân

Là một kĩ năng, tư duy phản biện cần được hình thành, củng cố và phát triển trongnhững hoạt động đa dạng của quá trình dạy học Tư duy phản biện không phải chỉ dànhcho học sinh giỏi, tất cả các HS đều cần kĩ năng tư duy phản biện khi làm bài cũng như khi

đối diện với các vấn đề của đời sống Trong cuốn Quốc gia khởi nghiệp, người ta nhắc đến

“văn hóa phản biện” như một nét đặc trưng của người Isarel Có lẽ trường học Việt Namcũng cần xây dựng “văn hóa phản biện” Câu hỏi “Làm thế nào để phát triển tư duy phảnbiện cho HS?” là một bài toán lớn, có nhiều lời giải Xét riêng trong phạm vi bài nghị luận

xã hội ở môn Ngữ văn, có thể bắt đầu tìm lời giải từ việc lựa chọn, thiết kế các chủ đề họctập, cụ thể là việc ra đề bài

Trang 22

Bản chất của tư duy phản biện là tìm kiếm các ý tưởng mới trong tiếp cận vấn đề,đưa ra những hướng đi mới trong giải quyết vấn đề Vì vậy, không phải đề NLXH nàocũng “có đất” cho tư duy phản biện Cách ra đề truyền thống với những câu lệnh cụ thể:hãy chứng minh, hãy phân tích, hãy bình luận ; những nội dung “đóng” mang tính chất

“khép kín” như: lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường; tình thương mang lại hạnh phúc cho con người; tầm quan trọng của việc tự học đã mặc định chủ đề dẫn ra là một chân lí Do đó,

người học khó có thể tìm hướng đi mới, góc nhìn mới

Để kích hoạt tư duy phản biện, cần đặt người học vào những tình huống có vấn đề

để họ có thể xem xét chủ đề nghị luận bằng cái nhìn đa chiều, huy động tri thức và tiếp cậnvấn đề ở cấu trúc bề sâu Nội dung nghị luận cần được chọn lọc kĩ lưỡng để HS có thể tiếpcận theo những hướng khác nhau, đặc biệt cách hỏi phải có độ “mở” cần thiết có thể khơigợi đối thoại, tranh biện Ví dụ:

Đề 1: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng kiên định thì không có cuộc sống” (L Tôn-xtôi) Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy bàn về tầm quan trọng của lí tưởng đối với cuộc sống.

Đề 2: Phải chăng người Việt trẻ ngày nay sống không có lí tưởng?

Cùng bàn về chủ đề lí tưởng sống, cách hỏi “đóng” của đề 1 không có chỗ cho tưduy phản biện, cách hỏi “mở” của đề 2 dễ kích hoạt tranh biện, phản biện ở người học Trở

lại với câu NLXH trong đề thi THPTQG 2017 : Từ phần Đọc – hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn bàn về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống Cách hỏi của đề (bàn về) mang

tính chất “mở”, nhưng nội dung nghị luận (ý nghĩa của sự thấu cảm) lại không kích thích

được tư duy phản biện TS Trịnh Thu Tuyết đề xuất hướng hỏi “mở”: Anh/chị có chia sẻ quan điểm của tác giả khi cho rằng: “Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ Thấu cảm là hiểu biết trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy

ra mà không có sự phán xét” Giải thích nguyên nhân khiến anh/chị đồng tình hay phản đối Cách hỏi này lập tức tạo ra những tranh luận trái chiều Đáp án TS Trịnh Thu Tuyết dự kiến như sau: HS nhận ra yêu cầu “nhìn thế giới bằng con mắt của người khác hiểu biết

Trang 23

trọn vẹn một ai đó” là phi lí, không tưởng bởi nếu khả năng ấy được thực hiện, bạn sẽ

không còn là chính mình với những thấu hiểu, cảm thông mang tính khách quan nữa Mỗingười hãy luôn là chính mình với những trải nghiệm cùng khả năng quan sát , xétđoán Nhưng ngay trong bình luận phía dưới, một HS đã phản biện đáp án và đề xuất cách

tiếp cận của mình: Việc đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu, cảm thông

là biểu hiện của sự xúc động chân thành từ trái tim, là khởi nguồn của lòng nhân ái, là níu một tâm hồn ra khỏi những suy nghĩ ác ý về người khác Không thể cho rằng đó là đánh mất mình Lập luận như vậy là đang biện minh cho lối sống vô cảm.(Dẫn theo Newzing.vn) Như vậy, chủ đề và cách hỏi cuả đề luôn là điểm khơi nguồn, kích hoạt tư

duy phản biện Và kiểu đề NLXH theo hướng mở chính là mảnh đất tốt để gieo mầm vànuôi dưỡng tư duy phản biện cho HS Cần lưu ý: đề mở phải đảm bảo nội dung mở, cáchhỏi mở và đáp án mở Sau đây là một số đề NLXH biên soạn theo hướng mở, nhằm kíchthích tư duy phản biện của HS:

Đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí:

Đề 1: Phải chăng tiền không mua được hạnh phúc?

Đề 2: “Sống cho người khác là điều tốt, nhưng sống cho mình cũng quan trọng không kém” (J Hoden) Anh/chị cho rằng sống cho mình quan trọng hay sống cho người khác

quan trọng hơn?

Đề 3: Tỉ phú Jack Ma phát biểu: “Việc thay đổi thế giới là của Obama, còn chúng ta hãy tự thay đổi chính mình” Anh/chị có đồng ý với quan điểm của Jack Ma không? Vì sao?

Đề 4: Nhà triết học Hy Lạp Platinus nói: “Chúng ta do đòi hỏi mà khẳng định con người

là thành viên sáng giá nhất, tồn tại trí tuệ nhất của vũ trụ, nhưng sự thực thì con người đứng giữa thiên thần và ác quỷ, có lúc ngả về phía này, lúc ngả về phía kia, có khi ngả về

cả hai phía, phần lớn người giữ mình ở khoảng giữa.” Hãy viết bài văn đối thoại với nhà

triết học cổ và nêu quan niệm của anh/chị về con người

Đề 5: Là phụ nữ, nên chọn sắc đẹp hay trí tuệ?

Đề nghị luận về một hiện tượng đời sống:

Trang 24

Đề 1: Bạn đồng tình hay phản đối ý tưởng Việt Nam nên gộp Tết Dương lịch và Tết cổ

truyền?

Đề 2: Tại Asiad Incheon (Hàn Quốc) 2014, vận động viên Ấn Độ - Sarita Devi đã từ chối

nhận Huy chương đồng trong lễ trao huy chương để phản đối sự thiên vị của trọng tài dànhcho vận động viên nước chủ nhà Theo anh/chị, có nên ủng hộ hành động của Sarita Devi?

Đề 3: Anh /chị có cho rằng: Một người ngồi sau xe Lexus nhưng cáu bẳn, lo lắng và bị xâm chiếm bởi cảm giác trống rỗng sẽ bất hạnh hơn người đi xe đạp bên cạnh, tâm trạng thanh thản và thấy những gì mình làm thật có ý nghĩa?

Đề 4: Áo dài cách tân – sáng tạo hay thảm họa?

Đề 5: Có ý kiến cho rằng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là một cuộc chạy trốn những năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua Nhưng từ chối con người mình cũng là từ chối khả năng thấu hiểu cuộc đời bao gồm cả sự tổn thương, tính vô thường và cái chết” Hãy

chia sẻ suy nghĩ của anh/chị về phẫu thuật thẫm mĩ

Đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:

Đề 1: Từ phần kết của truyện Tấm Cám, anh chị hãy viết bài văn trả lời cho câu hỏi: Cô Tấm ác hay không ác?

Đề 2: Có nên tin vào cổ tích?

Đề 3: Đọc “Ông già và biển cả”, anh/chị suy nghĩ gì về thông điệp mà Hemingway gửi

gắm: “Con người có thể bị tiêu diệt nhưng không thể bị đánh bại”?

Đề 4: Con hổ hỏi người thợ cày đang điều khiển con trâu cày ruộng: “Tại sao con người nhỏ bé mà lại khuất phục được con trâu to thế kia?” Người nông dân trả lời: “Vì ta có trí khôn” Hổ lại hỏi: “Thế trí khôn của người đâu cho tôi xem” Người nông dân đáp: “Trí khôn ta để ở nhà Nếu muốn xem thì để ta trói hổ vào gốc cây, nếu không thì khi về nhà hổ

ăn mất trâu của ta” Hổ bằng lòng để người trói Trói xong người nông dân lấy roi đánh túi bụi vào con hổ, vừa đánh vừa bảo: “Trí không ta đây Trí khôn ta đây” Đánh rồi còn đem lửa đốt hổ, hổ nóng quá vùng thoát chạy lên rừng Từ đó con hổ có những vệt cháy sém loang lổ trên da nó Từ nội dung truyện cổ, nghĩ về trí khôn của con người.

Trang 25

Đề 5: Về một thông điệp mà anh/chị tâm đắc từ bài thơ “Đò Lèn” (Nguyễn Duy).

2.2 Hướng dẫn học sinh xây dựng “chiến lược” phản biện trong bài nghị luận xã hội

Trên thực tế, để tạo nên sự phản biện thành công, người viết văn nghị luận nói chung

và nghị luận xã hội nói riêng cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phản biện Thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi hay Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là những

minh chứng xuất sắc cho điều đó Với bài văn nghị luận xã hội của học sinh, chúng tôi đềxuất một “chiến lược” phản biện gồm các bước sau:

Bước 1: Phát hiện vấn đề phản biện; xác định phạm vi, mục đích phản biện cho vấn đề xã hội đã cho ở đề bài

Đối với bất kì đề bài nghị luận xã hội nào cũng có thể sử dụng tư duy phản biện Tấtnhiên, tùy vào dạng đề, vấn đề nghị luận, cách hỏi đã cho ở đề bài, cần phát hiện cho đúng:

vấn đề cần phản biện ở đề bài này là gì? tư duy phản biện có thể sử dụng ở phạm vi nào, với mục đích gì? Việc trả lời các câu hỏi này sẽ là những định hướng cho nội dung, cách

thức phản biện và định hướng về quan điểm cho người viết nghị luận xã hội Chẳng hạn:

biện

Phạm vi sử dụng phản biện

Mục đích phản biện

1 Đề bài cho một ý

kiến trái chiều

Ý kiến đã cho Toàn bài viết

(phản biện luậnđề)

Chỉ ra sự chưađúng đắn củaquan điểm/ hiệntượng và đề xuấtmột quan điểmđúng

2 Đề bài cho nhiều ý

kiến để người viết lựa

chọn

Ý kiến khôngđồng tình

Toàn bài viết(Phản biện luận

đề, luận điểm)

Khẳng định ýkiến của bảnthân

3 Đề bài cho một ý Ý kiến thuận Một phần bài Mở rộng/ bổ

Trang 26

kiến thuận chiều chiều viết (phản biện

khái niệm, luậncứ)

sung, lật giở vấn

đề

Bước 2: Thu thập thông tin về vấn đề nghị luận

- Mục đích: Đây là thao tác đầu tiên để tiếp cận với vấn đề nghị luận Trước một vấn

đề, muốn có ý kiến phản biện thuyết phục rất cần phải có những hiểu biết chính xác, đủrộng và đủ sâu về đối tượng nghị luận Càng biết được nhiều thông tin, ý kiến khác nhaungười viết càng sáng suốt và tự tin hơn trong việc đưa ra ý kiến cá nhân, bảo vệ quan điểmcủa mình và có cơ sở để đánh giá các ý kiến của người khác

- Cách thức thực hiện: Hầu hết các vấn đề xã hội được chọn làm đối tượng của đề

bài nghị luận hiện nay thường là các vấn đề mang tính thời sự Vì vậy, việc tìm kiếm thôngtin về các vấn đề này tương đối thuận lợi Có thể hướng dẫn học sinh thu thập thông tinbằng cách thâm nhập thực tế (ví dụ: sử dụng phương pháp điều tra); có thể tìm kiếm trênmạng xã hội (sử dụng công cụ tìm kiếm google); trên các phương tiện thông tin đại chúng

(ví dụ: Chương trình “Góc nhìn khán giả” của VCT14); trên sách báo; hỏi từ người khác

(sử dụng phương pháp phỏng vấn)… Muốn vậy, người viết luôn cần có ý thức quan tâmđến tình hình thời sự, các vấn đề xã hội diễn ra xung quanh mình Điều này không chỉ giúpngười viết có tư liệu viết bài, có cơ sở bày tỏ quan điểm bản thân mà còn góp phần đánhthức sự vô cảm của đa số học sinh hiện nay trước các vấn đề của cuộc sống

Trên thực tế, người viết có thể phản biện thông qua những kiến thức thu được từ một

số nguồn sau: Những trải nghiệm của cá nhân người viết: họ nghe gì, thấy gì về vấn đề đótrong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau; Những luồng ý kiến khác nhau về vấn đềnghị luận;…

Bước 3: Xử lí thông tin

- Mục đích: Vì thông tin về vấn đề nghị luận đến từ nhiều nguồn khác nhau nên việc

xử lí thông tin là vô cùng cần thiết giúp người viết bài nghị luận có lựa chọn sáng suốt khiđưa ra ý kiến phản biện của mình và tạo cơ sở lí lẽ và dẫn chứng cho lập luận

Trang 27

- Cách thức thực hiện:

+ Phân loại thông tin: Có thể căn cứ vào quan điểm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức

xã hội,… để phân thành thông tin trái chiều/ thuận chiều; căn cứ vào chất lượng thông tin

để phân thành thông tin đúng/sai; có thể căn cứ vào nguồn thông tin để phân loại thông tinchính thống/ không chính thống; … Sự phân loại thông tin giúp kiến thức của người viết cótính hệ thống và dễ dàng sử dụng thông tin

+ Phân tích thông tin: Khi đã có thông tin, hãy phân tích với một tâm trí mở, khách

quan, không thành kiến Đây có thể là bước khó khăn nhất nhưng cũng thú vị nhất Người

có tư duy phản biện phải là người biết phân tích những đúng/sai; phải/trái của vấn đề một

cách khách quan và công tâm nhất

Để phân tích thông tin tạo cơ sở cho việc đưa ra ý kiến phản biện trong bài nghị luận

xã hội, chúng tôi sử dụng đề xuất giải pháp sử dụng câu hỏi Albert Einstein từng nói: Điều quan trọng là đừng bao giờ ngừng đặt câu hỏi Hầu hết những người có tư duy phản

biện đều luôn tò mò và có thói quen tự đặt câu hỏi cho những gì diễn ra trước mắt họ Việcđặt câu hỏi giúp người viết có cái nhìn rộng, sâu và khách quan hơn để lựa chọn nhiều cáchtiếp cận vấn đề khác nhau Đặt câu hỏi là một cách để kích hoạt tư duy phản biện, đặc biệt

là những câu hỏi mở để kích thích trao đổi, tranh luận và thảo luận

Căn cứ vào đặc trưng của bài nghị luận xã hội, chúng tôi khuyến khích người viết sửdụng hệ thống câu hỏi sau để kích thích tư duy phản biện:

1 Câu hỏi làm rõ khái

niệm

Hiểu chính xác kháiniệm, đặc biệt là nhữngkhái niệm đang thảoluận, tranh cãi

Bản chất của kháiniệm đó là gì?/ Cóthể diễn đạt điều đóbằng cách kháckhông?/ Có thể phânbiệt khái niệm nàyvới khái niệm …không? /Có thể lấy

Trang 28

Có thể giả địnhnhững gì kháckhông?/Làm thế nào

có thể xác minh haybác bỏ giảđịnh?/Điều gì sẽ xảy

ra nếu … ?/ Nếu…,bạn nghĩ thế nào?/Nếu…, bạn đồng ýhay phản đối?/ Ta cóthể đưa ra giả địnhnào thay thế?

3 Câu hỏi điều tra lý do,

nguyên nhân và bằng

chứng

Giúp đánh giá mức độ tincậy, trung thực của thôngtin, tạo sự tin cậy về lí lẽ

và dẫn chứng hỗ trợ cholập luận phản biện

Tại sao điều đó xảyra?/

Làm thế nào để biếtđiều này?/ Bạn nghĩ

gì về nguyên nhân

… ?/Bản chất củaviệc này làgì?/Những lý do này

có đủ tốt?/Điều đó

có đứng vững đượckhông?/ Làm thế nàotôi có thể chắc chắn

về những gì bạnđang nói?/ Tại sao

… xảy ra?/Có bằngchứng hỗ trợ những

Trang 29

gì bạn đang nóikhông?/Dựa vào đâu

để bạn nói như thế?

Dữ liệu được thuthập như thế nào?/Bạn sử dụng phươngpháp nào để thuthập?/Tại sao bạnnghĩ thông tin mìnhđưa ra là có thể tincậy được?/ Tại saobạn nghĩ rằng điều

đó là đúng?/ Có lý

do nào để nghi ngờbằng chứng nàykhông?/ Đây là ýkiến của bạn hay làbạn lấy từ mộtnguồn nào khác?

4 Câu hỏi về quan điểm

và lập trường

Giúp đánh giá quan điểm,tình cảm, suy nghĩ của cánhân Hầu hết các lậpluận được đưa ra từ mộtlập trường hay vị trí nhấtđịnh Vì vậy, đây là cơ sở

để đưa ra ý kiến phảnbiện

Bạn đánh giá nhưthế nào về…?/ Bạn

đã từng ở trong tìnhhuống đó chưa vàbạn xử lý rasao?/Điều gì khiếnbạn tin như thế?/ Cónhững cách nào khác

để nhìn vào đókhông?/Tại sao nó

Trang 30

lại cần thiết?

5 Câu hỏi điều tra ý

nghĩa và hậu quả

Giúp đánh giá lập luậnđưa ra có thể có những tácđộng như thế nào đếncuộc sống

Hậu quả của việc giảđịnh rằng … làgì?/

Ý nghĩa của ……

là gì?/Làm thế nào

để … ảnh hưởng đến

… ?Tại sao … lại quantrọng?/Đâu là điềutốt nhất để … ?

6 Câu hỏi đào sâu, mở

rộng, lật giở vấn đề

Giúp mở rộng vấn đề,nhìn vấn đề nghị luận ởnhững khía cạnh khácnhau, giúp tìm hiểu bảnchất vấn đề

Bạn có thể mở rộng

ý này như thếnào?/Theo bạn, bướctiếp theo có thể làgì?/ Bạn có thể nóitheo cách kháckhông?/

Bước 4: Tổ chức lí lẽ, dẫn chứng và sử dụng các thao tác lập luận để thuyết phục người đọc

Tư duy phản biện là đưa ra những ý kiến tranh luận với những giả thiết, giả định củangười khác nhằm khẳng định ý kiến, quan điểm của bản thân Như vậy, quá trình tư duyphản biện là tìm lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình tư duy khác để xác địnhtính chính xác của thông tin Vì vậy, rèn kĩ năng tư duy phản biện là rèn kĩ năng sử dụng,

tổ chức những luận cứ và dẫn chứng phù hợp để bảo vệ quan điểm của mình Lập luậnphản biện cần rõ ràng, lôgic, đầy đủ bằng chứng, thuyết phục và công tâm Muốn vậy,trước hết phải xác lập được luận điểm - thể hiện cách người trình bày suy nghĩ như thế nào

về một vấn đề cụ thể Để trình bày một luận điểm, ta thường sử dụng các lí lẽ và luận

Trang 31

chứng để giải thích và minh họa Lí lẽ là lời giải thích mang tính logic, cho thấy tại sao ýkiến của mình đưa ra là đúng Luận chứng là những sự vật, sự việc tồn tại trên thực tế,được sử dụng để minh họa cho lí lẽ và ý kiến của người viết (có thể là các công trìnhnghiên cứu, bài báo, câu chuyện, câu chuyện có thật trong cuộc sống, những vấn đề diễn rahàng ngày quanh ta,…) Luận chứng càng mang tính cập nhật, lấy từ những nguồn tin đángtin cậy càng có sức thuyết phục cao Khi có lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng xác đáng cũng cần đếnviệc sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các thao tác lập luận như thế nào để có thể tạo ra sứcthuyết phục nhằm bảo vệ được quan điểm của mình Sau đây là một số ví dụ:

Ví dụ 1: Để giải thích khái niệm: “hạnh phúc”, người viết đã dùng tư duy phản biện,

tổ chức lí lẽ, dẫn chứng, kết hợp các thao tác lập luận như: giải thích, chứng minh, bác bỏ,

… để phân biệt hạnh phúc với sự thỏa mãn, niềm vui hay sự sung sướng tạo nên một lập

luận thuyết phục

“Phải thừa nhận rằng, nếu không có cảm giác thoả mãn thì con người không thể có cảm giác hạnh phúc Sự thoả mãn cũng sẽ chỉ đến khi con người được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu của mình và cảm thấy hài lòng với cuộc sống Nhưng những người tham nhũng có hạnh phúc không? Những kẻ buôn lậu, những kẻ buôn bán ma tuý, có sự thoả mãn thật về tiền bạc nhưng có hạnh phúc hay không? Tôi không cho rằng cảm giác thoả mãn đồng nghĩa với hạnh phúc Một bữa ăn ngon có thể đem lại cảm giác thoả mãn nhưng cũng có thể tăng lượng cholesterol và do đó nó không mang lại hạnh phúc Con người nhầm lẫn giữa thoả mãn và hạnh phúc, đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Hạnh phúc không phải là cảm giác thoả mãn thuần tuý và nhất thời Thoả mãn là một khái niệm bản năng Nhưng hạnh phúc không phải là một khái niệm bản năng, hạnh phúc là một khái niệm văn hoá Muốn biết mình hạnh phúc hay bất hạnh, con người phải có được các nền tảng văn hoá hay những kinh nghiệm về hạnh phúc Những giới hạn thấp làm cho con người thoả mãn nhưng không làm cho con người hạnh phúc, bởi vì chỉ cần nhìn lên những giới hạn cao hơn, họ sẽ đau khổ Vì thế, càng thoả mãn một cách giản đơn bao nhiêu thì con người càng chậm phát triển bấy nhiêu và do đó mà không thể có hạnh phúc bền vững”.

(Tài liệu tham khảo)

Ngày đăng: 21/04/2021, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hội đồng giáo dục Anh , Giáo trình Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, , 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề
2. Nguyễn Văn Bảo, Thành ngữ cách ngôn gốc Hán, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ cách ngôn gốc Hán
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
3. D. Bohm: Tư duy như một hệ thống, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy như một hệ thống
Nhà XB: Nxb. Tri thức
4. Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá, Từ điển văn học, NXB Văn học, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: NXB Văn học
5. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
6. Đặng Hoàng Giang, Bức xúc không làm ta vô can, NXB Hội nhà văn, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức xúc không làm ta vô can
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
7. Nhiều tác giả, Chủ đề tự chọn Nâng cao Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề tự chọn Nâng cao Ngữ văn 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Nhiều tác giả, Tuyển tập những bài làm văn đạt giải Quốc gia, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập những bài làm văn đạt giải Quốc gia
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Nhiều tác giả Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận xã hội ,NXB Giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
10. Nhiều tác giả, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ các số 189 năm 2009; 212 + 213, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và Tuổi trẻ
11. Nhiều tác giả, Từ điển các biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển các biểu tượng văn hóa thế giới
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
12. Nhiều tác giả, Những bài nghị luận xã hội theo hướng mở và tích hợp liên môn, NXB ĐHSP, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài nghị luận xã hội theo hướng mở và tích hợp liên môn
Nhà XB: NXBĐHSP
13. Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải: Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa họccông nghệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
14. Nguyễn Duy Khang, Tại sao tư duy phản biện trong giáo dục khó thực hiện ở Việt Nam?, Baomoi.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao tư duy phản biện trong giáo dục khó thực hiện ở ViệtNam
15. Nguyễn Đăng Mạnh, Muốn viết bài văn hay, NXB Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết bài văn hay
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Nguyễn Đăng Mạnh, Văn bồi dưỡng học sinh giỏi phổ thông, NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bồi dưỡng học sinh giỏi phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Robert J Marzano, Các phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục, 2013 18. Trần Quang Minh, 150 bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn, NXB Giáo dục, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả", NXB Giáo dục, 201318. Trần Quang Minh, "150 bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Đỗ Ngọc Thống, Bài tập tự luận Ngữ văn 10, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tự luận Ngữ văn 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Tài liệu chuyên văn ba tập, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên văn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
21. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Dạy và học nghị luận xã hội, NXBGD, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học nghị luận xã hội
Nhà XB: NXBGD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w