Cũng về vấn đề này, một chuyên gia về văn học Việt Nam hiện đại đã viếttrong một bài nghiên cứu: “Quan niệm về con người chính là những nguyên tắc chiếmlĩnh , cắt nghĩa đời sống của nhà
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học từ 1945 đến sau 1975
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2021
4 Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
1 Giải pháp 1: Giới thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người
2.2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở phương diện
nghệ thuật trong văn học 1945 - 1975
3.2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở phương diện
nội dung trong văn học sau 1975
32
3.2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở phương diện
nghệ thuật trong văn học sau 1975
33
4.1 Hướng dẫn học sinh triển khai một số đề vận dụng 39
Trang 4Phần I Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
1 Xuất phát từ vị trí của vấn đề
Lí luận văn học cho rằng: Đối tượng và nội dung của văn học chính là cuộcsống, con người Nhà văn chân chính, dù viết về điều gì và thể hiện như thế nào trongtác phẩm thì điểm xuất phát và đích đến cuối cùng cũng là cõi nhân sinh lớn rộngngoài kia Con người trong nghệ thuật chính là sự phản ánh những mẫu người trong
thực tại Nhưng dù có là hai vòng tròn đồng tâm thì con người trong đời sống và con
người trong nghệ thuật cũng không bao giờ là một Bởi từ đời thực bước vào tácphẩm, hình tượng con người đã trở thành đứa con tinh thần của nhà văn, in dấu và thểhiện cả quan niệm, sự hình dung, cách thức và phương tiện tạo tác của chủ thể nghệ
sĩ Vì vậy, hoàn toàn chính xác khi cho rằng: tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về conngười chính là bước đi thiết thực để khám phá tính độc đáo, chiều sâu tư tưởng trongcách thể hiện con người của nhà văn cũng như của mỗi thời đại văn học
Tuy nhiên, thời đại nào, văn học ấy Phải nói thêm, mỗi thời đại lại xây lên
một quan niệm nghệ thuật mới về con người Trải qua 30 năm chiến tranh (hết chốngPháp rồi chống Mĩ), với đại thắng mùa xuân năm 1975, chúng ta bước sang một trangmới: độc lập, thống nhất, đồng thời cũng phải vươn dậy mạnh mẽ để thay đổi chínhmình Văn học không nằm ngoài hiện thực lịch sử ấy Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay giúpchúng ta một lần nữa nhìn nhận rõ hơn một vấn đề quan trọng của văn học ở mỗichặng đường lịch sử cũng như sự khác nhau giữa chúng, từ đấy thấy rõ hơn sự pháttriển của tiến trình văn học dân tộc
2.Xuất phát từ thực trạng dạy và học:
Trong thực tế dạy văn và học văn, không ít người còn chưa lí giải được: vì saocũng là con người ấy nhưng xuất hiện trong văn học thời chiến tranh họ lại mang mộtsuy nghĩ khác, một hành động khác Trong suy nghĩ của học sinh, có thể các em đều
ghi nhớ được rằng con người trong văn học 1945-1975 là con người mang vẻ đẹp sử thi, còn con người trong văn học sau 1975 là con người đời tư, đời thường; các em
hoàn toàn có thể lấy được dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm trong chương trình để làmsáng tỏ những đặc điểm cơ bản ấy Nhưng lí giải vì sao lại có sự khác nhau như thế, vìsao lại có bước chuyển như vậy trong cách nhìn về con người ở các nhà văn thì vẫncòn không ít học sinh thực sự lúng túng
Nhiệm vụ của chúng ta là phải giúp các em hiểu thấu vấn đề để khi cần thiếtcác em có thể tự tin cắt nghĩa, giải thích; cũng là một cách thiết thực chúng ta góp vào
phong trào chống học chay, học vẹt hiện nay.
Trang 5II Mô tả giải pháp
1 Giải pháp 1: Giới thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những vấn đề vấn đề đượcquan tâm hàng đầu trong nghiên cứu, lí luận phê bình Dễ hiểu vì sao đã có nhiềuquan niệm của nhiều nhiều nghiên cứu về vấn đề này
Nhà lí luận hàng đầu - Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật
về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết , tầm đánh giá, tầm trí tuệ,tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người trong tác phẩm của mình”
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìnkhá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn vàchiều sâu triết lí của tác phẩm”
Cũng về vấn đề này, một chuyên gia về văn học Việt Nam hiện đại đã viếttrong một bài nghiên cứu: “Quan niệm về con người chính là những nguyên tắc chiếmlĩnh , cắt nghĩa đời sống của nhà văn, là nơi đánh dấu trình độ tư duy nghệ thuật, củamột thời đại, một trào lưu, một tác giả”
“Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người
là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm Nó gắn vớicác phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thước đo
của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật”.
Mới đọc, có lẽ nhiều người sẽ cho rằng: cùng một vấn đề nhưng mỗi người đã
có một cách hiểu và một cách đặt vấn đề khác nhau
Song tìm hiểu kĩ sẽ thấy, các khái niệm trên khác nhau mà không mâu thuẫn,khác nhau mà vẫn thống nhất trong một cái nhìn về bản chất của quan niệm nghệthuật về con người Có khác chăng chỉ là do lối diễn đạt muôn hình muôn vẻ của ngônngữ nghệ thuật và nếu có sự khác nhau nào đó trong cách đặt vấn đề thì đó là do cácnhà nghiên cứu đã nhìn nhận quan niệm về con người ở các góc độ khác nhau màthôi
Từ việc tham khảo tài liệu, kết hợp với thực tế tìm hiểu, nghiên cứu và giảngdạy văn học, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một cách hiểu như sau:
Quan niệm nghệ thuật về con người là phạm trù quan trọng của thi pháp học Đó là cách nhìn, cách cảm, cách cắt nghĩa, lí giải và cách thể hiện đầy độc đáo, sáng tạo của mỗi nghệ sĩ, mỗi thời đại nghệ thuật về con người Quan niệm ấy thể hiện cụ thể, sống động trong tác phẩm của nhà văn.
Trang 62 Giải pháp 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1945 - 1975
2.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa mới từ 1945 - 1975 và quan niệm nghệ thuật về
con người
2.1.1 Từ sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội mới, văn hóa mới…
Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là một bước ngoặt trong lịch sử, mà còn
mở ra một thời đại văn học mới của dân tộc Ba mươi năm văn học từ 1945 đến 1975 là kếtquả, công sức sáng tạo lớn lao và phong phú của các thế hệ nhà văn, của cả dân tộc ta, đồnghành với sự nghiệp dựng xây, bảo vệ và phát triển chế độ XHCN Như một quy luật, văn họcluôn gắn liền với cuộc sống và có ích cho đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học ngàycàng có vị trí rộng lớn và sâu xa trong đời sống xã hội, nhà văn ngày càng thấy rõ hơn tráchnhiệm sáng tạo cao cả của mình Vì mục tiêu Độc lập, Tự do và CHXH, sự nghiệp cáchmạng vô cùng to lớn của Đảng, của toàn dân tộc đã dành cho văn học nghệ thuật một vai trò
quan trọng “ Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Bắt nhạy với yêu cầu của thời đại, các nhà văn đã tìm thấy con đường vươn tới lý tưởngChân, Thiện, Mĩ của con người và nghệ thuật trong sự gắn bó với Cách mạng và khángchiến Hiện thực cách mạng nóng hổi và “ sắt lửa mặt trận” đã tạo nguồn cảm hứng sáng táccho biết bao nhà văn, thổi bùng lên ngọn lửa trong tâm hồn họ Chính những nhận thức mới
về vai trò, vị trí của văn nghệ, về trách nhiệm của nhà văn trong đời sống đã có ý nghĩa rấtquan trọng trong ý thức nghệ thuật của văn học 1945 – 1975 Vì thế, những định hướngmiêu tả con người của nền văn học mới đã được xác lập và phát triển
Song song với sự trưởng thành của cả nền văn học là trưởng thành về ý thức nghệ thuậtcủa lớp lớp nhà văn nghệ sĩ Đường lối văn nghệ luôn bám sát sự phát triển của cuộc sống vàvăn học, giữ vai trò chỉ đạo và định hướng, tạo điều kiện để mỗi nghệ sĩ có thể phát huy tàinăng của mình để đóng góp vào sự nghiệp chung Quan niệm nghệ thuật về con người vì lẽ
đó cũng gắn chặt với nhiệm vụ và chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học vàđời sống, về tính giai cấp, tính dân tộc của văn học Vì thế, vấn đề quan niệm về con người
đã được trực diện nêu ra như một trọng điểm trong ý thức nghệ thuật của người nghệ sĩ, củanền văn học mới
2.1.2 …đến những quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1945- 1975
Trong quá trình phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám, quan niệm nghệ thuật về conngười trong ý thức của nhà văn ngày càng phong phú và tăng cường khả năng cảm thụ,miêu tả cuộc sống và con người Những tìm tòi, sáng tạo của mỗi tác giả là vô cùng đáng quý
và cần thiết nhưng chỗ dựa của họ vẫn là sự lãnh đạo của Đảng Đảng đã trang bị cho độingũ nhà văn một phương pháp suy nghĩ, một cách nhìn mà họ vừa có thể hòa nhập vào vừa
có thể tách ra để nhìn nhận, suy nghĩ và thấu hiểu Có thể thấy, quan niệm về nhân sinh,cách hiểu và hình dung về con người, phương hướng đi sâu vào cuộc sống để khám phá conngười trong ý thức nghệ thuật của giai đoạn 1945 – 1975 biểu hiện trên các khía cạnh sau:
Trang 7- Nếu con người lý tưởng của văn học trung đại chủ yếu là những kẻ sĩ, những tài tửgiai nhân; nếu văn học 1930 – 1945 chú ý đến những thanh niên trí thức hoặc hướng về tìmhiểu số phận, phẩm chất của những con người bé mọn thì trong giai đoạn 1945 – 1975, thực
tế cách mạng đã mang lại cho người cầm bút những định hướng mới về quan niệm conngười Đối tượng thẩm mĩ chính của văn học giai đoạn 1945 – 1975 là con người quần chúngcách mạng Vì thế, quan niệm con người trong ý thức nghệ thuật giai đoạn này được xâydựng trên sở quan niệm về con người cách mạng, về quần chúng cách mạng Chính vai tròcủa quần chúng nhân dân trong cách mạng xã hội, trong thực tiễn lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc là nền tảng, là cơ sở nảy sinh ý thức cho quan niệm con người quần chúngcủa nền văn học mới Trong suy nghĩ của người cầm bút, quần chúng nhân dân như một tậpthể, như những con người cụ thể ngày càng phát triển phong phú và toàn diện hơn, trởthành nhân vật chính của văn nghệ Từ đây, con người cao đẹp mà văn học hướng tới miêu tả
là con người quần chúng cách mạng, là con người của cộng đồng dân tộc trong nhiệm vụcách mạng với các phẩm chất cách mạng của mình Cái đẹp, cái cao quý của con người mànền văn học mới tìm tòi, phát hiện, xây dựng, cổ vũ là thuộc về những con người xuất hiện,trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, xây dựng CNXH và chống Mỹ cứunước của toàn dân ta
- Vẻ đẹp thẩm mĩ của con người được nhìn nhận và thể hiện trong ý thức và hành độnghướng về cách mạng, về nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc Vẻ đẹp ấy trước hết đượcbiểu hiện ở sự giác ngộ và tự nguyện gánh lấy những sứ mạng xã hội, sứ mạng cách mạngcủa con người, ở những nỗ lực, cố gắng cải biến thiên nhiên, cải biến xã hội và bản thân vìhạnh phúc của nhân dân Vẻ đẹp của nhân vật văn học phải gắn liền với tinh thần anh dũng,chí căm thù, xả thân vì dân tộc, quên mình vì lý tưởng So với văn học công khai trước cáchmạng, quan niệm về vẻ đẹp của con người quần chúng là biểu hiện mới của ý thức nghệ thuật
1945 – 1975 Nhìn nhận con người trong sự gắn bó với lí tưởng xã hội tốt đẹp, với lực lượngcộng đồng với ý thức tự giác thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, văn học đã xây dựng đượccác nhân vật khỏe khoắn, phơi phới trong cái giản dị rất đời thường của con người, kế thừađược những thành tựu khám phá và thể hiện sức mạnh của con người lao động, con ngườiyêu nước chống ngoại xâm, con người yêu tự do, chống áp bức bóc lột trong văn học truyềnthống, mở rộng và khơi sâu vẻ đẹp sức mạnh của con người đến những tầm cao mới của dântộc và thời đại, mang lại sức hấp dẫn và có tác dụng giáo dục mạnh mẽ cho văn học
Như vậy, với quan niệm về vẻ đẹp của con người gắn với ý thức về sứ mạng và lítưởng cách mạng, với sức mạnh và hành động cải tạo và dựng xây cuộc sống của dân tộcngày càng tốt đẹp, với tinh thần thời đại, văn học 1945 – 1975 đã thực sự đổi mới ý thứcnghệ thuật từ trong quan niệm con người Trên cơ sở quan niệm về con người ấy, các nhàvăn đã sáng tạo ra những hình tượng điển hình, sống động, khắc họa chân dung và vẻ đẹptinh thần của con người Việt Nam trong một chặng đường lịch sử sáng chói chiến công củadân tộc Tất cả những điều đó được minh chứng rõ nét qua các thể loại tiểu thuyết, truyệnngắn, thơ ca – các thể loại đạt được những thành tựu đáng kể của giai đoạn văn học này
Trang 82.2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở phương diện nội dung trong văn học 1945 - 1975
2.2.1 Con người sử thi và những dạng thức biểu hiện:
Trong ý thức nghệ thuật của nền văn nghệ mới, con người được chú ý khám pháthể hiện trước hết ở các phẩm chất anh hùng cao đẹp với thái độ ngợi ca, biểu dương nhưnhững tấm gương ngời sáng Cách nhìn nhận đánh giá ấy đã gắn liền văn học với cảmhứng sử thi và con người trong văn xuôi 1945 – 1975 cũng chủ yếu được miêu tả từ quanniệm sử thi về con người như thế
2.2.1.1 Con người sống đời sống cộng đồng của dân tộc và cách mạng
Từ cuộc phục sinh của tâm hồn dân tộc trong lòng mỗi người dân và mỗi nghệ sĩsau Cách mạng tháng Tám, từ những phẩm chất tốt đẹp của các tầng lớp nhân dân tronghai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong sự nghiệp cải tạo và xây dựng đấtnước ngày càng đổi mới, các tác giả văn xuôi 1945 – 1975 đã khắc họa nổi bật hình ảnhnhững thế hệ người Việt Nam sống hết mình với sự nghiệp chung của cộng đồng Ở loạihình nhân vật này, đời sống chung của dân tộc và cách mạng được cảm nhận như đời sốngriêng của con người Nhân vật như không hề có cảm giác về riêng bản thân mình, không
có cá tính, không nhu cầu, đòi hỏi Nhân vật phát ngôn như đại diện cho ý thức của cả mộtlớp người, hoặc hòa tan vào tập thể, bình đẳng với mọi người trong những hoạt động vìnghĩa lớn, vì lí tưởng chung Xuất hiện trong các tác phẩm văn xuôi viết về đêm trước củacuộc Cách mạng là kiểu nhân vật sống cuộc đời lầm than đói nghèo của nhân dân, họ cấttiếng nói phê phán chế độ thực dân, phát xít, đòi quyền sống Thảm họa đói năm 1945
trong đời sống dân tộc cũng được ghi đậm trong Vợ nhặt (Kim Lân), Lột xác ( Nguyễn
Tuân) …Anh Tràng có thể khác người ở việc lấy vợ trong hoàn cảnh trời đất tăm tối vìđói khát nhưng cả câu chuyện ấy cũng tồn tại trong khung cảnh nghèo đói chung củakhông chỉ xóm ngụ cư mà của cả bao vùng miền đất nước Nhân vật Thị không giốngmuôn người phụ nữ khác trong cách liều lĩnh theo không một người đàn ông xa lạ về nhà,sẵn sàng gửi phận cho người vừa đãi mình bốn bát bánh đúc và đâu biết hạnh phúc ấy sẽ
là dòng trong hay bến đục đợi chờ nhưng câu chuyện đầy éo le của Thị được nảy sinh từchính cái đói trong thảm họa kinh hoàng của dân tộc năm ấy và số phận bất hạnh đó củaThị chỉ là một trong số ít nhưng điển hình cho bao người phụ nữ khác cũng lăn lóc trongcái chốn chợ đời ấy Cảnh đời cơ cực ấy cũng giống như nhân vật Xan trong truyện ngắn
Buổi chiều xám , nhân vật người ăn mày trong Tiếng nói của Nguyên Hồng
Khi cả dân tộc tưng bừng chào đón và một lòng tham gia cách mạng, trong sáng táccủa các nhà văn Hoài Thanh, Trần Đăng, Nguyễn Tuân, Nam Cao…xuất hiện mẫu hìnhmới về con người sống trong những ngày náo nức đó Đó là những cô thôn nữ “ tươi cười
trong nón”, nai nịt gọn gàng cứ chiều chiều lại tập múa đại đao trong sân trường ( Dân khí miền Trung – Hoài Thanh); đó là những đứa trẻ bán báo, bác hàng rong, anh em thợ thuyền, các bà, các mẹ,… ( Một lần tới thủ đô – Trần Đăng) Cùng với phong trào kháng
Trang 9chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến, đội ngũ những người viết ngày cảng đôngđảo Đề tài về con người kháng chiến ngày cảng mở rộng, đồng thời cách nhìn con ngườitrong cuộc sống cộng đồng ngày càng được khẳng định Hình tượng những đơn vị bộ đội,những cơ quan, những làng quê, những cán bộ, đội viên vệ quốc, những chị cứu thương,
em liên lạc, những bà mẹ, người dân ở mọi miền quê, mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh đượcnhìn nhận và miêu tả trong những hoạt động “ toàn dân kháng chiến, toàn diện khángchiến”, theo tinh thần “ Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” Đó là những người dân vùng
căn cứ địa kháng chiến trong tập Núi Cứu Quốc ( Tô Hoài) một lòng tin vào cách mạng, ở
cụ Hồ, ở cán bộ dù trong hoàn cảnh nào cũng hết lòng đi theo tiếng gọi của sự nghiệp
chung Cứ nghe Độ nói về những người dân quê trong Đôi mắt ( Nam Cao) chuyện trò:
“viết chữ Quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên Mở miệng ra
là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít… Họ hát Tiến quân ca nhưngười buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm” Luôn hướng vềkháng chiến, kiến quốc của dân tộc là những dấu hiệu của kiểu nhân vật làm nhiệm vụchung, nghĩ sự nghiệp chung” rất phổ biến trong văn xuôi kháng chiến
Con người sống trong cuộc sống cộng đồng “ vì nghĩa quên thân” đã từng xuất hiệntrong văn học dân tộc Nhưng chỉ sau cách mạng, phẩm chất này mới này được ý thức mộtcách đầy đủ nhất Vẫn là con người của đời sống cộng đồng, nhưng từ sau cách mạng,
nhân vật ông Hai làng chợ Dầu ( Làng – Kim Lân) đã có những đổi thay Từ con người
của làng quê, ông trở thành con người của kháng chiến, của sự nghiệp chung Sự thay đổitrong tình cảm, trong cách nhìn của ông với ngôi mộ của viên tổng đốc,với phong cảnhtrong làng, sự thay đổi trong thái độ của ông trước và sau khi nghe tin cải chính về làng
đã chứng tỏ điều đó Nếp sống của ông, niềm vui, nỗi buồn của ông là những minh chứngsinh động của hình tượng con người toàn tâm, toàn ý trong đời sống kháng chiến chungcủa dân tộc
Văn xuôi chống Mỹ cũng xây dựng hàng loạt hình tượng những con người sống hếtmình cho lý tưởng Độc lập - Tự do Trong truyện ngắn Nguyễn Thi, những người dân, từ
những em bé, đến mẹ Nguyễn thị Út ( Mẹ vắng nhà) hay Những đứa con trong gia đình
đều náo nức tham gia, bận rộn hay vui mừng lo lắng theo diễn biến của trận đánh Khó cóthể kể hết các nhân vật luôn hòa mình giữa phong trào, giữa cuộc chiến đấu như Phước (
Hoa rừng – Dương Minh Hương), Hựu, Quế ( Khói – Anh Đức), Cam ( Hai anh em – Phan Tứ), Ông Hai (Truyện bên bờ sông Vàm Cỏ- Lê Văn Thảo)…luôn coi việc tham gia
cách mạng, cầm súng đánh giặc giải phóng quê hương, thống nhất đất nước là niềm vuisướng nhất trên đời
Như vậy, trong suốt 30 năm sau Cách mạng tháng Tám, bám sát cuộc sống củanhân dân bảo vệ và xây dựng đất nước, văn học đã sáng tạo nhiều dáng vẻ cụ thể tô đậmbiểu tượng con người sống đời sống cộng đồng, sống với những lo toan, vất vả những vuisướng tự hào chung của Tổ Quốc, nhân dân Những nét vẽ ấy khiến văn học nước ta đã
Trang 10thể hiện kịp thời và bao quát các sự kiện cơ bản của đời sống xã hội, giúp văn học cảmnhận và miêu tả được sự vươn mình trưởng thành của con người dưới ánh sáng cáchmạng, cảm nhận và miêu tả nhân cách mới, tầm vóc và sức mạnh mới mẻ, kỳ vĩ chưa từng
có của các thế hệ người Việt Nam làm nên những chiến thắng lịch sử suốt hai cuộc khángchiến chống pháp và chống Mỹ
Không chỉ xuất hiện ở thể loại văn xuôi, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam,các nhà thơ giai đoạn 1945 – 1975 mang tới một quan niệm nghệ thuật về con người xãhội với một số đông, tạo thành một lực lượng xã hội hùng hậu Họ là số đông “ vạn nhà”,vạn kiếp” “vạn đầu”, là “bao hồn khổ” với “ những lưng cong xuống luống cày, là “ khối
người, khối đời, đoàn chiến hạm, đoàn chim quyết thắng, dòng người cuộn thác” ( Từ
ấy-Tố Hữu) Họ là “ Tây tiến đoàn binh không mọc tóc” ( Tây Tiến _ Quang Dũng), là “ Lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ…” ( Ngày về - Chính Hữu), là “người người lớp lớp” ( Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm) sống giản dị, bình tâm, vô danh mà làm nên Đất Nước… Các tác giả đã xây dựng nên những hình tượng tập thể kì vĩ, đầy sức mạnh, hào hùng chưa
từng có trong thơ ca cách mạng Số đông ở đây không chỉ là số nhiều, nó là sự giàu có,phong phú, bất tận, vững bền, vô địch Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gọi là “nhân dân”,
Tố Hữu gọi họ bằng nhiều cách khác nhau “ bạn đời, bạn lòng, bạn muôn đời”… ChínhHữu gọi bằng hai tiếng “đồng chí”…
2.2.1.2 Con người xả thân vì nghĩa lớn
Trong cách nhìn nhận con người của văn học dân tộc, cha ông ta đã từng đề caonhững nhân vật “ trọng nghĩa khinh tài”, những nhân vật “ vị nghĩa vong thân” Sau Cáchmạng tháng Tám, trong quan niệm của những người làm chủ cuộc đời, làm chủ quê hươngđất nước và giác ngộ lí tưởng tiên tiến của thời đại, “trung với nước, hiếu với dân” là tiêuchuẩn đạo đức cao nhất Đó là cách sống quên mình để thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đểhoàn thành sự nghiệp chung Trong mọi hoàn cảnh, con người xả thân vì nghĩa lớn luônhướng về lợi ích chung, gạt bỏ những đòi hỏi và quyền lợi riêng tư để thực hiện nhiệm vụ
Trong văn xuôi viết về đề tài kháng chiến, các tác giả đã thể hiện loại hình nhân vậtnày từ nhiều phương diện khác nhau của cuộc sống Có kiểu nhân vật tự thu xếp, khắcphục hoàn cảnh, nguyện vọng,thói quen riêng để gia nhập vào sự nghiệp chung như nhân
vật chính trong Một đêm năm ngoái ( Nguyễn Huy Tưởng), nhân vật Sìn ( Đi dân công –
Tô Hoài) dù biết rõ cảnh vợ con nheo nhóc, vất vả vẫn thu xếp việc nhà để hoàn thànhcông việc Cách mạng giao Hay nhà văn Đỗ Chu kể chuyện kháng chiến của vợ chồng
anh Khang, chị Tiềm ( Mùa cá bột), chị nói với anh “ nếu còn Tây thì nhất định không
chịu có con”…Hay kiểu nhân vật gắn thù nhà với nợ nước, vượt qua những mất mát riêng
tư để phấn đấu cho những thắng lợi chung Nhân vật Tnú ( Rừng xà nu – Nguyễn Trung
Thành) đã vượt lên nỗi đau khôn xiết của đời mình Mười đầu ngón tay bị kẻ thù thiêu đốtkhiến thể xác anh như rụng rời, ứa máu Vợ con bị kẻ thù sát hại, tra tấn bằng roi sắt một
Trang 11cách mạn rợ trước mắt anh khiến nỗi đau như đẩy đến cùng cực của đời người Nén chặtnỗi đau trong tim và gạt đi nước mắt, Tnú đã tham gia lực lượng, giết tên tướng chỉ huytrong hầm cố thủ bằng chính đôi bàn tay tàn tật của mình Ba năm đi lực lượng, nỗi nhớquê hương cũng thật khôn xiết nhưng chỉ được phép cấp trên, anh mới về thăm làng vàsáng hôm sau lại vội vã lên đường Đó còn là một thiếu nữ đẹp từ cái tên đến vóc dáng
con người như Nguyệt ( Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu) dù mảnh dẻ là thế
mà kiên cường dám giành các ác liệt của đạn bom về mình để che chở cho người lính lái
xe Trường Sơn trong lần đầu gặp gỡ Với các mô típ nghệ thuật trên, văn xuôi 1945 –
1975 đã nêu bật và ca ngợi những tấm gương quên mình vì nước của tầng lớp những conngười Việt Nam, họ là những con người bình thường, biết chủ động tự vươn lên để trởthành con người cao cả, khắc họa và mở rộng hình ảnh con người sử thi trong nền văn họcmới
Liền mạch với văn học kháng chiến, hình thức nhân vật xả thân vì nghĩa lớn cũngđược phổ biến ở các sáng tác viết về cuộc sống và con người trong sự nghiệp đấu tranhgiải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Hình tượng các thế hệ miền Nam kiên cường,chấp nhận hi sinh gian khổ để giữ gìn uy thế của cách mạng, để thể hiện tình cảm củangười dân Thành Đồng Tố Quốc với miền Bắc, với Bác Hồ, với sự nghiệp chung Toát lên
ở hầu hết các nhân vật là lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng quên
mình vì sự nghiệp chung như hình tượng ông Tám Xẻo Đước ( Đất – Anh Đức) thà chết
chứ không dời nhà để giữ trọn ân nghĩa với cách mạng, làm gương cho lối xóm, giữ vữngphong trào đấu tranh chống địch dồn dân, lập ấp Trong truyện ngắn của Phan Tứ, không
chỉ có bác Tám Sành ( Lửa đêm) bị cảm nặng vẫn tham gia đốt rào, phá ấp chiến lược, cùng bà con nổi dậy mà còn có Cam (Hai chị em) cũng hăng hái lao vào trận mong giải
phóng cho quê hương…Truyện ngắn Nguyễn Trung Thành đã khắc họa được những thế
hệ nối tiếp nhau, một lòng đi theo cách mạng, bất chấp gian khổ hi sinh ( Rừng xà nu),
nhà văn cũng nhiệt thành ngợi ca những du kích, chiến sĩ giải phóng quân vì mục đích diệt
thù mà quên cả mạng sống của mình ( Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc)
Cùng với văn xuôi giai đoạn này, thơ ca cũng khơi gợi, đề cao tinh thần yêu nước,
lòng tự hào dân tộc, ý thức làm chủ và quyết tâm xả thân của con người thời đó (Ðất nước - Nguyễn Ðình Thi ; Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông ; Bên kia sông Ðuống - Hoàng Cầm ; Ðôi mắt người Sơn Tây - Quang Dũng) Các phẩm chất của kiểu con người
sử thi trong thơ ca cũng được biểu hiện ở tinh thần đoàn kết, đấu tranh, có tình hữu áigiai cấp, tình cảm nhân loại, khát vọng tự do, xả thân vì quê hương đất nước… Đó chính
là sự kế thừa những vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam như lòng thương người,tình cảm nhân đạo, tình yêu nước, tình yêu nam nữ và sáng tạo ra nét mới phù hợp vớihoàn cảnh thời đại Thơ Tố Hữu là một minh chứng điển hình cho điều đó Từ con người
số đông mang hận thù xã hội cũ, say mê tương lai, quyết tử đấu tranh của Từ ấy, đến con người làng quê bình thường đầy tin tưởng, ân tình sâu nặng đối với cách mạng trong Việt
Trang 12Bắc, con người trẻ trung sung sức, son sắt mang tầm vóc đất nước của Gió Lộng, con người bốn nghìn năm đầy khí phách hiện ngang trong Ra trận và con người thể chất, xương thịt nhưng rất đỗi kiên cường, anh dũng trong Máu và hoa Mỗi quan niệm mới về
con người của Tố Hữu đều rọi một ánh sáng mới, mở rộng giới hạn thể hiện các khả năngcách mạng vô hạn của con người Việt Nam luôn sống bằng đạo lý, lẽ phải, tình thương,cao hơn mọi thử thách gian khổ và luôn luôn gắn bó với thiên nhiên, đất nước, Tổ quốc
2.2.1.3 Con người tìm thấy ý nghĩa và giá trị cuộc đời mình trong sự gắn bó với cộng đồng
Văn xuôi 1945 – 1975 đã góp phần khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp chói ngời và khảnăng cải tạo cuộc sống, cải tạo con người của cách mạng và thời đại khi xây dựng kiểu
nhân vật hồi sinh nhờ Cách mạng Lột xác của Nguyễn Tuân đã thể hiện khá tỉ mỉ và cảm
động hình tượng chàng thanh niên Nguyễn đi tìm ý nghĩa và giá trị cuộc sống cho mình.Anh đã có những giây phút bế tắc, tự cho rằng cuộc đời mình là vô nghĩa Rồi Nguyễngặp Cách mạng, soi mình vào cuộc đời chung rộng lớn, anh đã từng bước tìm thấy niềm
tin trên con đường hòa vào với sự nghiệp chung Trong Vợ nhặt, Kim Lân để cho vợ
chồng Tràng bén duyên hạnh phúc vì cái đói cũng đã nghĩ đến “ đoàn người đói ầm ầmkéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”, nghĩ tới việc tham gia cách mạngnhư là con đường để giữ gìn mạng sống và hạnh phúc vừa mới nhen nhóm của mình
Con đường đi của Nguyễn, của vợ chồng Tràng, dù xuất phát từ hoàn cảnh khác
nhau, cũng đi chung con đường của Độ ( Đôi mắt – Nam Cao), của vợ chồng A Phủ, Lưu, Hoan ( Đường về - Nguyễn Đình Thi)… Nhờ sức mạnh của bản năng sống mãnh liệt mà
Mị và Aphủ dìu nhau thoát khỏi ách bóc lột, sự đày đọa bố con Thống Lí, nhưng sau khigặp A Châu, gặp cách mạng, họ mới thực sự sống tự do, chống lại áp bức bất công Như
A Phủ nói với Mị: “ Em phải đi họp du kích thì cái gan em nó mới to ra, mới khỏi sợ, mớibiết thù nó được” Và chỉ trên đường cùng chồng đi họp du kích bàn cách đánh giặc, lần
đầu tiên nghe đến bố con Pa tra, Mị không còn thấy sợ nữa” Hay nhà văn Độ ( Đôi mắt –
Nam Cao), từ tình trạng bế tắc “ chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo không biếtbán cho ai”, Độ đã tìm thấy niềm tự tin ở sự dẻo dai “ đi hàng mười lăm cây số, ngủ ngaytrong nhà in, đèn sách và máy chạy ầm ầm, tìm thấy những cảm hứng mới cho văn nghệ”khi “đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền, nhập bọn với đoàn văn hóa kháng chiến”,cuộc sống của Độ như được hồi sinh với những trang đời mới như thế Xây dựng kiểunhân vật này chứng tỏ các tác giả đã tiếp cận dòng chảy lớn của phong trào dân tộc từnhững cảnh ngộ đa dạng của cuộc sống con người, phản ánh và cắt nghĩa đầy đủ hơn lựclượng và sức mạnh chiến thắng của nhân dân cũng như khả năng cảm hóa, tóa sáng của sựnghiệp Cách mạng
2.2.1.4 Con người hiện thân cho dân tộc và thời đại
Trang 13Kiểu nhân vật hiện thân cho dân tộc và thời đại là những con người mang ý thức,
tư thế tiêu biểu cho dân tộc và thời đại Loại hình nhân vật này không chỉ sống đời sốngchung của cộng đồng, không chỉ hết mình vì tập thể mà còn là những hình tượng kết tinh
và tiếp nối những phẩm chất tốt đẹp trong trường kì lịch sử của dân tộc, quê hương, giácngộ sâu sắc lí tưởng tiên tiến của thời đại, trở thành hiện thân của sự gặp gỡ giữa quá khứ
và hiện tại, đại diện cho cộng đồng Đâycũng là kiểu nhân vật có ý nghĩa khái quát và tầmvóc sử thi
Từ những ngày đầu kháng chiến, các tác giả truyện ngắn đã phát hiện và miêu tảkiểu nhân vật suy nghĩ và hành động với tư cách là người dân nước Việt, con cháu củaBác Hồ Dù già hay trẻ, khoẻ mạnh hay thương tật, chiến đấu ở chiến trường hay sinhsống ở hậu phương… những nhân vật này đều thể hiện sức mạnh và niềm tự hào của dân
tộc vừa được giải phóng Một em bé 13, 14 tuổi mang tinh thần là Cháu Bác Hồ ( Nguyễn
Công Hoan) dùng dao bắt hai tên xâm lược đền tội, khi bị thương chỉ “nghĩ đến Bác vàgọi Bác” Tình cảm với lãnh tụ là một biểu hiện của tình cảm với đất nước và mỗi nhân
vật như đều cảm thấy mạnh mẽ hơn Đọc Làng ( Kim Lân), ta còn nhớ một chi tiết Kim
Lân khắc họa hình ảnh nhân vật ông Hai khi ông đau khổ vì bị coi là dân của làng theogiặc Sức mạnh duy nhất để ông có thể tự tin ở danh dự của mình được khơi lên từ niềmtin và lòng trung thành của bố con với Cụ Hồ, dù trong trường hợp nào,ông cũng thuộc về
Cách mạng và kháng chiến Nhân vật Hoàng ( Đôi mắt – Nam Cao) khi muốn chứng minh
với Độ rằng mình vẫn thuộc về cộng đồng nhân dân, vẫn tin tưởng ở kháng chiến đã viện
lí do “ có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông Cụ” Hay có những nhân vật chỉ thoáng xuât hiện trongtruyện nhưng tính chất đại diện cho dân tộc lộ ra rất rõ khi họ được miêu tả với ý thứcchung của cộng đồng Một anh thanh niên vác bó tre đi ngăn quân thù mang ý thức “ cuộc
trường kì kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn…” Hay cán bộ A Châu ( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) chỉ có ước mong “ bao giờ ta lấy lại độc lập, bấy giờ tha hồ đi, đi
đâu cũng được ở yên, làm ruộng làm nương, làm buôn làm bán, ở đâu cũng sungsướng…” Bên cạnh đó, các nhà văn cũng nhìn thấy ở mỗi sự việc, con người cụ thể kiểunhân vật biểu hiện sự vận động và khí thế chung của thời đại Các tác giả thường bộc lộcách cảm nhận và miêu tả nhân vật trong những liên tưởng khái quát sâu rộng Những đổi
thay của cảnh vật và con người ở nông trường Điện Biên ( Mùa Lạc – Nguyễn Khải)
không chỉ liên quan đến Đào, Duệ…mà cũng là câu chuyện “ cuộc sống vĩ đại đã trở lạirồi”, là chuyện sức vóc con người có thể thay đổi được cuộc sống nhiều đến thế
Thời kì chống Mỹ, trong văn xuôi xuất hiện phổ biến hàng loạt hình tượng conngười hiện thân của truyền thống chống ngoại xâm, tiêu biểu cho sức mạnh của các thế hệngười Việt Nam không ngừng đấu tranh cho lí tưởng Độc lập, Tự do và chủ nghĩa xã hội.Tầm vóc của con người Việt Nam chống Mỹ không chỉ thể hiện trong chiều rộng của miềnvùng đất nước, trong chiều sâu của truyền thống dân tộc mà còn bằng dấu hiệu và thước
đo chung của nhân loại trên tầm cao thời đại Hình tượng Chiến và Việt của Những
Trang 14đứa con trong gia đình ( Nguyễn Thi) không chỉ là hình ảnh cụ thể của cả thế hệ, cả dân
tộc vùng dậy đau thương mà còn là sự tiếp nối truyền thống oanh liệt của cha ông thủa
trước Các nhân vật trong Rừng xà nu ( Nguyễn Trung Thành) được miêu tả như hiện thân
của truyền thống bất khuất gìn giữ buôn làng và đoàn kết đánh giặc của dân tộc TâyNguyên Sâu thẳm trong sức mạnh diệt thù, trong tâm hồn Tnú là cả quá trình trưởngthành nhờ sự nuôi dưỡng dạy dỗ của buôn làng và cán bộ cách mạng, là “ tiếng chàychuyên cần, rộn rã của người đàn bà và những cô gái Stra, của mẹ anh ngày xưa, của Mai,của Dít từ ngày lọt lòng anh đã nghe tiếng chày ấy rồi” Cũng vậy, ông Tám Xẻo Đước (
Đất - Anh Đức), ông Tư ( Giấc mơ ông lão vườn chim- Anh Đức), ông Sần ( Về làng –
Phan Tứ)… là những người mang truyền thống gắn kết nhất mực với quê hương, bởi vìtrên mảnh đất ấy, con người đã nối nhau làm ra lịch sử của mình Hay tiếp bước cụ Mết (
Rừng xà nu) là các thế hệ Tnú, Mai, anh Brôi, sau đó là Dít, bé Heng Họ giống như
những thế hệ xà nu với sức sống bất diệt mà đạn đại bác không thể tiêu diệt nổi Tiếp nối
ông nội là ba, má, chú Năm (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) và sau đó là
Việt, Chiến Dòng sông truyền thống của gia đình Việt được hòa kết từ khúc thượngnguồn đến hạ nguồn, khúc sông sau hứa hẹn sức chảy mãnh liệt hơn khúc sông trước vàhòa vào dòng sông truyền thống của cả dân tộc
Cùng chung đặc điểm đó về con người trong văn xuôi, thơ ca cũng khắc họa đượcnhững hình tượng vừa bình thường, chân chất vừa phi thường, chói sáng Truyền thốngcha ông và khí phách của giai cấp vô sản được kết tinh ở người anh hùng thời đại mới.Tiêu biểu hơn cả là hình ảnh người Vệ quốc quân, hình tượng Chủ Tịch Hồ Chí Minh kính
yêu Rất nhiều bài thơ hay về Bác : Hồ Chí Minh, Sáng tháng Năm (Tố Hữu) ; Ảnh cụ Hồ, Thơ dâng Bác (Xuân Diệu) ; Bộ đội ông Cụ (Nông Quốc Chấn); Ðêm nay Bác không ngủ
(Minh Huệ) Tất cả góp phần xây lên hình tượng cao đẹp về lãnh tụ, đó là một con ngườitài năng kiệt xuất, có lòng nhân ái mênh mông và lối sống giản dị, khiêm tốn
Đó còn là những con người có lí tưởng cao cả vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội,
có ý thức sâu sắc về tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại Mỗi cá nhân được thể hiện như làbiểu hiện tập trung ý chí, khát vọng và sức mạnh của cộng đồng, dân tộc, thời đại Nói vềchị Trần Thị Lý, Tố Hữu viết:
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại Còn một giọt máu tươi còn đập mãi Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời Cho quê hương em, cho Tổ quốc, loài người
Khám phá và miêu tả những con người tiêu biểu của thời đại mình bao giờ cũng là khátvọng của các nhà văn chân chính ở mọi thời đại Lịch sử văn học các thời đại đều gắn liền
với mẫu người tiêu biểu của thời đại ấy Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu; Hoa ngày thường, Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới, Ngày vĩ đại của Chế Lan
Viên; nhiều bài thơ của Xuân Diệu, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Huy Cận, Phạm Tiến
Trang 15Duật, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Nam Hà… đều xây dựng được những hình tượngtiêu biểu cho ý chí, khí phách của con người và thời đại Lâm Thị Mỹ Dạ đã phát hiện ra
sự hoá thân của con người vào đất nước lung linh kì ảo:
Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói lung linh
Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
Đã hoá thành những vầng mây trắng?
(Khoảng trời hố bom)
Lê Anh Xuân khắc họa một dáng đứng Anh Giải phóng quân, dáng đứng Việt
Nam: Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công
Đó là những con người dù ở trong hoàn cảnh nào cũng sống với những lí tưởng lớnlao, những tầm vĩ mô trong ý thức về dân tộc, thời đại, lịch sử Con người ấy đối diện với
thời gian hai mươi thế kỉ của dân tộc để tự hào Cả năm châu chân lí đang nhìn theo (Tố Hữu) Trong thời đại ra ngõ gặp anh hùng, với sức mạnh dân tộc dồn tụ Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận (Tố Hữu), con người cũng như sống lại với sự thử thách và lựa chọn của cha
ông, đồng cảm với khí phách hào hùng, ngưỡng mộ những chiến công oanh liệt Khônggian, thời gian được đo bằng kích thước vĩ mô như thời đại, thế kỉ, có khi kết hợp vớithước đo vi mô nhưng đều biểu hiện con người trong tầm vóc lớn lao, kì vĩ Khí phách của
tổ tiên và truyền thuyết lịch sử sống dậy, xôn xao náo nức trong những trang thơ:
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng
(Chế Lan Viên)
Mang lửa tự ngàn năm về trước Lấy từ thưở hoang sơ Giữ qua đời này đời khác
(Phạm Tiến Duật)
Có thể nói, hướng vào đời sống xã hội rộng lớn với những biến cố trọng đại, các nhà thơ, nhà văn trong giai đoạn 1945 – 1975 đã sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về các tầng lớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống, vừathấm sâu tinh thần thời đại
Trang 162.2.2 Những nhận thức về con người cá nhân
Tuy nhiên, nền văn học của 30 năm sau Cách mạng cũng như cả dòng văn họcmang cảm hứng anh hùng không hề bỏ qua lĩnh vực con người cá nhân Trong văn xuôi,con người cá nhân được phát hiện, cảm nhận, miêu tả khá đa dạng qua nhiều kiểu nhânvật Nổi bật là kiểu nhân vật mang những đặc điểm và nhu cầu tự nhiên có nhu cầu khẳngđịnh mình trước cuộc đời, muốn được sống, được hưởng hạnh phúc, muốn biến những mơmộng, những nguyện vọng riêng thành hiện thực Có kiểu nhân vật sống sâu sắc vớinhững mất mát đau thương trong mối thù chung, họ cũng có những nỗi đau khôn nguôi
về thể xác Ngoài ra còn có kiểu nhân vật mang tính cách năng động phức tạp, dấu ấn cánhân hiện lên qua những suy nghĩ, việc làm trực tiếp hướng về bản thân, hoặc không dễquy kết đơn giản…Những kiểu nhân vật như vậy chứng tỏ các tác giả văn xuôi giai đoạnnày không chỉ cảm thụ và đánh giá con người chủ yếu ở phương diện sử thi mà còn coicác biểu hiện cá nhân là một phạm vi cuộc sống mà văn học khám phá, ghi nhận để làmnhạy bén và giàu có hơn thế giới tinh thần của con người Vì dung lượng chuyên đềkhông cho phép, nên chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu kiểunhân vật này Xét cho cùng, đóng góp của nền văn học này chính là sáng tạo ra kiểu nhânvật sử thi với những biểu hiện của nó, khẳng định sự trưởng thành,vươn lên của con ngườicủa dân tộc trong hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc
Ở thể loại thơ, nhân vật trữ tình dù có xa lạ với những nét mềm yếu, đau thươngnhưng người ta vẫn không né tránh sự hi sinh, mất mát Cái chết được nói tới là một cách
để khẳng định sự bất diệt của con người trong ân nghĩa thuỷ chung, trong sự sống muônđời; khẳng định sự bất tử của mỗi cá nhân hữu hạn trong Tổ quốc Từ cái chết của người
chiến sĩ vô danh trong Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, đến sự hi sinh của người
thanh niên xung phong trong bài thơ của Lâm Thị Mĩ Dạ, đều chung một nguồn cảmhứng: đất nước, Tổ quốc chính là cõi vĩnh hằng, bất diệt mà con người có thể hoá thân.Những khía cạnh bình thường khi được nói tới cũng nhằm thể hiện trạng thái tinh thầnvượt lên tình thế của một dân tộc vốn lạc quan, tự tin, quyết thắng Người ra đi trong lòng
có “hương thầm”, “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, “tiếng cười hăm hở đầy sông, đầy cầu” Tình yêu đôi lứa quyện chặt trong tình yêu Tổ quốc Vì đất nước người ta hy sinh, đất nước cũng sinh ra để vì tình yêu đôi lứa: Anh yêu em như yêu đất nước (Nguyễn Đình Thi); Đất nước là nơi ta hò hẹn (Nguyễn Khoa Điềm); Đất nước theo em ra ngõ một mình
(Hữu Thỉnh)… Người chiến sĩ mang theo lòng yêu nước, mang theo tình yêu mà ra trận
Trên đường ra trận, họ còn nhận thêm tình yêu Ngọn đèn bọc trong ống bơ/ Để em mờ tỏ đến giờ trong tôi (Hữu Thỉnh); Đường đánh giặc trẩy xuôi về bến bãi/ Lý ngựa ô em hát đợi bên cầu (Phạm Ngọc Cảnh) Và cái đích cuối con đường đánh giặc của họ là làm sống lại những tình yêu, xóa sạch những đợi chờ hóa đá của cả nghìn năm trước: Anh sẽ về cho
đá lại là em (Nguyễn Đức Mậu).
Trang 172.3 Nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1945 1975.
-2.3.1 Nghệ thuật thể hiện trong văn xuôi
2.3.1.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, các kiểu nhân vật tập thể đã tỏ rõ sự cách tântrong quan niệm nghệ thuật về con người giai đoạn này so với giai đoạn trước Cách mạng,giúp nhà văn khái quát và miêu tả nổi bật vẻ đẹp mang tầm cỡ dân tộc, giai cấp của conngười Có thể kể một số hình tượng tập thể người lao động xây dựng cuộc sống mới trong
truyện ngắn Mùa lạc ( Nguyễn Khải), Rẻo cao (Nguyên Ngọc), Mùa cá bột (Đỗ Chu) Hay hình tượng tập thể trong truyện ngắn chống Mỹ như Lửa từ những ngôi nhà (Nguyễn Minh Châu), Những ngôi sao xa xôi ( Lê Minh Khuê), Quán rượu người câm (Nguyễn
Quang Sáng)… Việc miêu tả chân dung nhân vật, ngoài hình tượng nhân vật tập thể với sốlượng đông đảo thì các ở hình tượng điển hình, các truyện ngắn đều phác họa được diệnmạo chung của nhân vật với những nét cương nghị, mạnh mẽ, nụ cười tin tưởng, lạc quan;những vóc dáng chắc khỏe – đó là dấu hiệu gợi lên sức mạnh vô địch của con người dântộc, của nhân dân kháng chiến Thế giới nội tâm của nhân vật thường là biểu hiện đa dạngcủa tình cảm yêu nước, của tâm lý biến chuyển ngày càng hướng về cách mạng, khángchiến, hướng về tập thể Việc thể hiện các nội dung và phạm vi nhân vật qua các thời kì đãphản ánh sự vận động của cách nhìn nhận và đánh giá của nhà văn về con người
2.3.1.2. Về phương diện kết cấu, cốt truyện:
Các tác phẩm văn học giai đoạn này đã xây dựng được các tình huống đa dạngnhưng đều là cách triển khai qua các mâu thuẫn giữa địch với ta, mâu thuân cá nhân – tậpthể để thể hiện quan niệm của tác giả về con người về con người sử thi, hoặc trình bày cáctình huống nội tâm nhân vật để thể hiện quan niệm về con người cá nhân Những tìnhhuống như vậy thường đan xen nhau, thường được miêu tả trong những dấu mốc thời gianlịch sử, thời gian sự kiện xã hội, trên nền những không gian rộng lớn của các hoạt độngcộng đồng Dù đó là hoàn cảnh thực hay chỉ được thể hiện qua nội tâm, nhà văn nhưmuốn soi chiếu, thể hiện con người trong khung cảnh cuộc đời chung Cách xây dựng cáchình thức không,thời gian như vậy không chỉ tái hiện phông nền câu chuyện, mà còn thểhiện quan niệm con người của nhà văn
2.3.1.3. Việc sử dụng phối hợp các giọng kể:
Các tác phẩm văn xuôi gia đoạn này khi mang tới giọng thân mật, khi trang trọng ngợi ca,khi châm biếm hài hước hay trăn trở tìm tòi nghiên cứu cũng như lời phẩm bình khi trầnthuật đã góp phần thể hiện sự phong phú trong cảm thụ, lập trường nhìn nhận đánh giá củanhà văn về con người Đó cũng là dấu hiệu chứng tỏ nỗ lực của nhà văn trong việc tạo racác hình thức nghệ thuật không ngừng làm giàu khả năng miêu tả, sự độc đáo và tác độngthẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn nói riêng, văn học nói chung
Trang 182.3.2 Nghệ thuật thể hiện trong thơ
2.3.2.1.Thể thơ.
Sự đa dạng là nét nổi bật của thể thơ giai đoạn này Các thể thơ cổ (thất ngôn tứtuyệt, bát cú, cổ phong) hiện diện bên cạnh những tìm tòi mới mẻ (thơ không vần, phá thể,hợp thể, tự do) Những thể truyền thống như lục bát, ngũ ngôn được sử dụng phổ biến
Hiện tượng này ta gặp nhiều trong thơ Tố Hữu với tập thơ Việt Bắc, thể thơ truyền thống
quen thuộc giúp nhà thơ chuyển tải được những vấn đề chính trị lớn lao, dễ đi vào lòngngười Hình thức câu thơ tự do hơn: số lượng câu, số chữ trong một dòng thơ đã thực sự
được giải phóng như thơ Chế Lan Viên: Ôi độc lập/ Xanh biết mấy là trời xanh Tổ Quốc/ Khi tự do về chói ở trên đầu Thơ Nguyễn Đình Thi có những tìm tòi mới lạ, đã cách tân
thơ kháng chiến, đưa nó thoát khỏi ảnh hưởng của thơ Mới Ông muốn thơ phải là tiếngnói tự do chân thực, phóng túng, không lệ thuộc vào vần điệu
2.3.1.2 Ngôn ngữ, hình ảnh.
Ngôn ngữ thơ giai đoạn này mang vẻ đời thường, tự nhiên, phong phú đến vô cùng.Lời ăn tiếng nói của quần chúng hàng ngày được chú ý vận dụng trong quan niệm thẩm
mỹ mới mẻ, mạnh dạn đưa vào thơ từng đoạn, câu, khổ , bài ca dao dân gian Nhớ về thơ
những ngày đầu kháng Pháp, bài Vui bất tuyệt của Tố Hữu – ca ngợi cách mạng với lời lẽ rất nồng nhiệt, sử dụng không ít từ Hán Việt có ý nghĩa trìu tượng: như đại hội, hoa đăng, ngân hà,… cách nói khoa trương : xôn xao, cuồn cuộn tác phẩm tuy mang nội dung mới nhưng vẫn là cách biểu lộ của thời thơ Mới Chỉ độ hai năm sau, đọc Cá nước, Bầm ơi
của Tố Hữu mới nhận ra một cốt cách khác, một giọng thơ khác, giản dị gần gũi như ca
dao : Ai về thăm mẹ quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/ Bầm ơi có nhớ không bầm/ heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn.
Hình ảnh thơ cũng tươi mới hơi thở của cuộc sống mới, chất liệu thơ sáng Pháthuy tinh hoa ngôn từ khi còn thơ Mới, Thâm Tâm đã phả vào đó chất liệu tươi sáng của
cuộc sống mới phục sinh Trái hồng trĩu xuống cây rơm/ Sáng nay mùa cốm dậy thơm khắp làng/ Lúa vươn thân hút ánh vàng/ Nguồn tươi vồng nở thu sang tốt lành" Qua thời
gian, hình tượng thơ, cảm hứng thơ cũng không còn màu sắc yêng hùng, lãng mạn củanhững năm đầu kháng chiến mà trở nên gần gũi, bình dị, phù hợp với quan niệm về ngườianh hùng thời đại mới Đại chúng hoá trở thành một tiêu chuẩn thẩm mỹ trong thơ Nếu
đọc những câu thơ : Trầm ngâm nghê bay trong lãnh cung/ Xuân thơm bối rối ngọt vô cùng/ Chao ôi, thánh thượng vô tâm quá/ Lòng thiếp buồn như một tâm nhung , dù giấu
tên tác giả đi, người ta vẫn có thể đoán nó được viết trước cách mạng; không phải chỉ ở
các chữ như lãnh cung, thánh thượng… mà còn bởi vẻ đài các của câu thơ nữa Và nếu đọc những câu thơ của Tế Hanh như: Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất/ Căng như đồng/ Tay ghì cán cuốc/ Tay ghì tay xe/ Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao / Có mối tình nào hơn thế nữa? không thể nhầm lẫn với giai đoạn nào khác bởi đó là vần thơ tràn đầy lãng mạn của thơ những năm đầu cách mạng Thơ thời kì này trực tiếp, gần gũi , nghe giản dị : Ôi
Trang 19những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều- Nguyễn Đình Thi; hình tượng người chiến sĩ – hình tượng nghệ thuật trung tâm được viết thật giản dị, họ đi ra từ cuộc sống lao động hàng ngày, họ bước vào chiến trường với quê hương anh nước mặn đồng chua/ làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.(Đồng chí- Chính Hữu )
2.3.2.3 Giọng điệu
Với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng trữ tình - sử thi, thơ ca thời kì này được thểhiện bằng giọng điệu thơ phong phú, đa dạng mà âm hưởng bao trùm là hào hùng, sảngkhoái, lạc quan Tâm thế các nhà thơ tựa như những ca sĩ cất lên những giai điệu hào
hùng, hướng về quê hương xứ sở: Thơ ta ơi hãy cất cao tiếng hát / Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta (Tố Hữu) Chất giọng hào sảng được hiện lên ngay ở tiêu đề thi phẩm, từ Gió lộng, Ra trận, Hai đợt sóng, Hoa dọc chiến hào, Mặt đường khát vọng , Vầng trăng
và quầng lửa… đến: Người con gái Việt Nam, Dáng đứng Việt Nam, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng… Các nhà thơ như đều muốn vươn tới tầm không gian bao quát, cao rộng để: Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau / Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu (Tố
Hữu)
Bên cạnh giọng hùng ca làm chủ âm, thơ ca giai đoạn này còn có thêm giọng trữtình thống thiết, xuất phát từ cảm hứng trước vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Namtrong những tháng năm gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng
Tiểu kết
Từ quan niệm nghệ thuật về con người đến những kiểu con người trong thơ văn bamươi năm sau Cách mạng là một trong những đóng góp nổi của nền văn học giai đoạnnày Quan niệm ấy chịu sự quy định của ý thức nghệ thuật đương thời, nảy sinh và pháttriển trên cơ sở đề cao vai trò, tác dụng giáo dục, nêu gương của văn học trong quan hệgắn bó và phục vụ các nhiệm vụ cách mạng, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh củanhân dân ta Ý thức ấy là cơ sở khơi dậy những truyền thống tốt đẹp trong văn học dântộc, làm phát triển một dòng văn học mang ý thức sử thi với những đặc trưng thẩm mĩriêng Nhìn khái quát, dòng sử thi mới sau Cách mạng thiên về khám phá, thể hiện conngười quần chúng, tiêu biểu là Công – Nông – Binh – lực lượng chủ yếu của cách mạng,luôn ý thức mối quan hệ và ý nghĩa công việc mình làm với tập thể, với cộng đồng; mang
vẻ đẹp khỏe khoắn, mãnh mẽ của những hành động cống hiến, luôn đặt lợi ích cộng đồnglên trên lợi ích cá nhân, hoặc biết điều chỉnh mình sao cho hài hòa với sự nghiệp chung…Những cảm nhận sự thi về con người ấy là cơ sở để sáng tạo ra những biểu tượng phongphú về con người quần chúng trong nhiều tác phẩm văn học 1945 – 1975 với các kiểunhân vật sống đời sống kháng chiến và cách mạng, những hình tượng con người xả thân vìnghĩa lớn, tìm thấy giá trị đời mình trong sự gắn bó với cộng đồng, những con người hiệnthân của dân tộc và thời đại Qua việc khảo sát các tác phẩm cụ thể, dù lĩnh vực con người
cá nhân đã được đề cập đến nhưng chuyên đề đã nhận thấy con người trong văn học cách
Trang 20mạng 1945 – 1975 vẫn chủ yếu là hình tượng con người sử thi Cùng với những hìnhtượng nghệ thuật sinh động ấy, các phương diện hình thức nghệ thuật cũng được phát huyhiệu quả gắn với đặc trưng thể loại, tiêu biểu ở truyện ngắn và thơ ca, khiến cho quanniệm nghệ thuật về con người trở nên mật thiết với quá trình sáng tạo, với toàn bộ các yếu
tố của cấu trúc chỉnh thể trong tác phẩm văn học
Trong quá trình ba mươi năm ấy, chúng ta có thể nhận ra các nhà văn đã sớm nhận
ra và dần khắc phục những nhược điểm trong quan niệm và miêu tả con người, khôngngừng làm cho hình tượng con người trong văn xuôi và thơ ca trở nên đa dạng và có sứckhái quát sâu rộng Tuy nhiên, về cơ bản, các nhà văn cũng chỉ đổi mới làm giàu có trongphạm vi quan niệm nghệ thuật về con người sử thi Khả năng cũng như hiệu quả cảm thụ
và miêu tả con người của văn học giai đoạn này chỉ trở nên phong phú, sâu sắc hơn khicùng với sự vận động của lịch sử, xuất hiện những bổ sung, đổi mới có tính chất loại hình
về quan niệm con người Và điều đó đã được thể hiện khá rõ trong giai đoạn văn học sau1975
Giải pháp 3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học sau 1975
3.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa mới sau 1975 và sự thay đổi quan niệm nghệ
thuật về con người
3.1.1 Từ sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội mới, văn hóa mới…
Thắng lợi ngày 30/4/1975 đưa dân tộc ta bước vào một giai đoạn mới, đồng thờiđánh dấu một thời kì mới của nền văn học dân tộc Sau khoảng 10 năm chuyển tiếp,văn học bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ
Khác với hoàn cảnh chiến tranh, đời sống hòa bình đưa con người trở về với quỹđạo đời thường, tạo điều kiện nảy sinh những nhu cầu mới, những quan niệm thẩm mĩmới, hình thành nên những lớp công chúng mới Ý thức cá nhân đã được đánh thức trởlại với những đòi hỏi cụ thể, bình thường nhất Nhiều giá trị trong thời chiến đã đổi khác
và thay thế nó là những hệ giá trị mới đang trong quá trình hình thành Đời sống vănhóa tư tưởng vì vậy cũng vô cùng phức tạp, thậm chí khủng hoảng ở một bộ phận nào
đó Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ vào ý thức của nhà văn và được phản ánh trongthực tiễn sáng tác
Bên cạnh sự đổi thay của xã hội - lịch sử trong nước, chúng ta cũng chịu ảnhhưởng trực tiếp của quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, đặc biệtmạnh mẽ từ sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự kết thúc của tình thế chiến tranhlạnh giữa hai phe trên thế giới Đường lối đổi mới của Đảng đề ra chủ trương mở cửa,từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, vì thế, ảnh hưởng của toàn cầu hóangày càng rõ rệt đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở nước ta.Toàn cầu hoá đã mở ra nhận thức mới cho con người Việt Nam hôm nay Cái nhìn về
Trang 21con người từ đó cũng thay đổi Bên cạnh việc khẳng định những giá trị mang bản sắcdân tộc, con người còn được nhấn mạnh trong tính nhân loại, trong bản chất phổ quátcủa con người Mặc dù kinh tế nước ta còn chậm phát triển, nhưng con người Việt Namhôm nay vẫn có những dấu ấn thể hiện tâm thức của con người thời đại hậu côngnghiệp trên thế giới.
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập quốc tế, văn học Việt Nam không còn bị khépkín trong tính chất khu vực của những nền văn học XHCN như trước đây mà đã từngbước mở rộng sự giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn học trên thế giới.Các trào lưu, lí thuyết văn học vốn đã quen thuộc, có ảnh hưởng sâu rộng ở phươngTây trong thế kỉ XX đã từng bước được giới thiệu và tiếp nhận ở Việt Nam qua việcdịch thuật (cả sáng tác và lí luận), qua một lớp tác giả, công chúng có điều kiện tiếpxúc trực tiếp với đời sống văn học thế giới, nhất là bộ phận người Việt ở hải ngoại Từphân tâm học đến chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thựchuyền ảo đến chủ nghĩa hậu hiện đại, các quan niệm mới về tiểu thuyết ở phươngTây… đã dần trở nên quen thuộc với người viết và công chúng văn học ở nước ta
Còn phải kể đến một trong những nhân tố tác động đến sự đổi mới quan niệmnghệ thuật là những định hướng phát triển văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước
ta Đường lối đổi mới tại Đại hội lần thứ VI của Đảng và sau đó là Nghị quyết 05 của
Bộ chính trị về một số vấn đề văn hóa văn nghệ, cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư NguyễnVăn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987… đã thực sự thúc đẩy côngcuộc đổi mới văn học theo tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Chưabao giờ vai trò, trách nhiệm của người cầm bút và tính chân thực của văn học lại đượcđặt ra một cách ráo riết, toàn diện đến thế Một không khí dân chủ trong đời sống vănhóa và văn học đã thực sự có tác động lớn lao đến đội ngũ những người sáng tác
Tất cả những yếu tố nói trên đã làm biến đổi ý thức nghệ thuật của nhà văn vàcông chúng văn học Trung tâm của sự đổi mới ý thức nghệ thuật đó chính là đổi mớiquan niệm nghệ thuật về conngười
3.1.2 …đến những đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học sau 1975
Chịu tác động của hoàn cảnh thời chiến, văn học trước 1975 tập trung vàonhiệm vụ giáo dục con người mới, con người cộng đồng Hình mẫu con người đượcgửi gắm vào các nhân vật lí tưởng Phát hiện con người cộng đồng trong mỗi cá nhân,con người như một sản phẩm hoàn hảo của hiện thực cách mạng là cống hiến của vănhọc thời vệ quốc Xung đột dân tộc và xung đột giai cấp đã buộc văn học đặt conngười vào trong điểm nhìn ý thức hệ Chiến tranh kéo dài khiến một số nguyên tắcmiêu tả con người trở thành quy phạm Con người bị lấn át bởi sự kiện, trở thànhphương tiện “xâu chuỗi các sự kiện lịch sử”, giúp nhà văn khám phá và biểu hiện lịchsử
Trang 22Văn học sau 1975 không thể không tự điều chỉnh khi cái phông thời đại đã hoàntoàn thay đổi Ý thức về con người cá nhân, sự khích lệ tinh thần dân chủ khơi thôngnhững ẩn ức dồn nén, những khát khao được nghiên cứu, thể hiện con người trong vănhọc Văn học đã thực sự có nhiều phát hiện phong phú về con người và điều đó khẳngđịnh bước trưởng thành của tư duy nghệ thuật Xuất phát từ quan niệm con người khôngđơn trị, con người đa diện, con người luôn biến đổi, phức tạp, bí ẩn…., văn học giai đoạnmới ít có những nhân vật đẹp hoàn hảo, nhất phiến Nhân vật đời thường, phàm tục đivào tác phẩm, hiển hiện như lẽ tự nhiên Con người bị đồng tiền làm cho biến dạng, trởnên độc ác, con người cứng đờ, đóng hộp trong khuôn mẫu, tẻ nhạt, tham lam, conngười dị dạng, tha hóa, giống quỷ hơn giống người, con người xơ cứng với những giáođiều và niềm tin mù quáng, con người u mê, tăm tối, hoang dãc con người ắp đầy thamvọng, sẵn sàng đánh đổi cả tình thân, nhân tính cho uy quyền và danh lợi - Con người từđiểm nhìn sử thi đã được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư Con người đa ngã, phức tạp,
bí ẩn tạo ra nhiều đối thoại với con người trong văn học giai đoạn trước đó, nhưng lạixác thực hơn với những gì diễn ra trong thực tại của cuộc sống mỗi một con người
Trong giới hạn cho phép, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ vấn đề trong phạm vivăn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn, tiểu thuyết, kí – các thể loại phát triển vượt trội, tạo ragương mặt mới cho văn học) và thơ sau 1975, trên bình diện nội dung và sự đổi mớitrên phương diện nghệ thuật
3.2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người ở phương diện nội dung của văn học sau 1975
3.2.1 Tiếp tục khuynh hướng ca ngợi những phẩm chất con người nhưng ở
những cung bậc đa dạng
Vừa bước ra khỏi chiến tranh, dư âm của cuộc chiến vẫn còn, hào khí mangtính cộng đồng vẫn khắp, cộng với niềm vui đất nước thống nhất nên trong một sốlượng sáng tác nhất định, các tác giả vẫn tiếp tục hướng đến ca ngợi những con ngườimang tâm thế nhập cuộc tích cực gắn với thành tố tập thể, sự phân tuyến ranh giớigiữa tốt xấu, thiện ác vẫn tương đối rạch ròi So với giai đoạn trước, văn học đã tiếptục một cuộc khám phá sâu hơn về con người trên cảm hứng nhân văn sâu sắc vớinhững cung bậc đa dạng
Cùng với hướng tiếp cận chiến tranh ở cự li gần, từ chiến hào vào người lính
hoặc những cán bộ chỉ huy ở đơn vị cơ sở (các tiểu thuyết Trong cơn gió lốc – Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thế - Nguyễn Trí Huân, Họ cùng thời với những
ai – Thái Bá Lợi) là cách tiếp cận chiến tranh từ cái nhìn toàn cục (kí sự Tháng Ba ở Tây Nguyên – Nguyễn Khải, Đại thắng mùa xuân – Văn Tiến Dũng, Đất miền Đông –
Nam Hà) Từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn, nhìn lại và tái hiện những khó khăn,
thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong chiến tranh cũng chính là cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hi sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng.
Trang 23Bên cạnh việc tiếp tục bộc lộ khuynh hướng ca ngợi những con người giàutruyền thống đấu tranh cách mạng, mang đậm những phẩm chất của tâm hồn Việt, vănhọc sau 1975 đã nhìn nhận con người dưới góc độ đời tư mang tính chất “phi sử thihóa” (Trần Đình Sử) Hình tượng con người ở nhiều tác phẩm giai đoạn trước đổi mớikhông chỉ xuất hiện như những giá trị để khẳng định tư tưởng xả thân mà chủ yếu là
sự tự khẳng định những giá trị bản thân trong ngọn lửa cách mạng Mảnh đất
tình yêu với phẩm chất tốt đẹp trong mỗi người vẫn được Nguyễn Minh Châu thể hiện
bằng niềm tự hào và ngợi ca sâu sắc Với những truyện của Chu Lai, Khuất QuangThụy… người đọc tìm thấy ý chí và phẩm chất tuyệt vời của người lính: quả cảm,chân thành, cố gắng thích nghi, hội nhập với cuộc sống mới
Nhưng chiến tranh không chỉ được nhìn từ mặt trước mà còn được nhìn từ phíasau với bao nỗi đau trĩu nặng, bao nhức nhối khó lành Họ nói về niềm vui chiếnthắng, nhưng còn nói nhiều hơn về sự hi sinh, về những chịu đựng thầm lặng của nhândân, về những gương mặt đồng đội, kẻ còn người mất Nói khác đi, trong khi cố gắng
miêu tả sự lớn lao, kỳ vĩ của Tổ quốc, các nhà thơ đã quan tâm trực diện đến số phận của cá nhân, thậm chí nhiều khi số phận của đất nước được đo ướm bằng nỗi
đau của cá nhân: Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền (Hữu Thỉnh - Đường tới thành phố) Ý thức về thế hệ
mình với sự lựa chọn trách nhiệm trước lịch sử, bên cạnh lòng tự hào, còn có cả nỗi
xót xa: Chúng tôi đã đi không tiếc cuộc đời mình/ Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc (Những người đi tới biển – Thanh Thảo) Trong những tác phẩm này, mặc dù cái bi chỉ là yếu tố để làm nổi
bật cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với
những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người.
3.2.2 Con người tự ý thức
Từ sau 1975, cuộc sống đã dần trở lại với quy luật bình thường của nó cùng lúccon người đối mặt với những biến động, đổi thay của xã hội Guồng quay xã hội giántiếp cho ý thức cá nhân thức tỉnh, họ quay về đối diện chính mình, với những đòi hỏiriêng của mỗi người, mỗi số phận Và người cầm bút, bằng tư duy phân tích và cáinhìn đời tư đã khám phá con người ở phương diện tự ý thức
2.2.1 Nhận thức về cái tôi
Cái tôi cá nhân đã từng in những ấn tượng đậm nét trong văn học 1930 – 1945.Giai đoạn 1945 – 1975, do khuynh hướng sử thi mà cái tôi cá nhân có xu hướng tanhòa vào cái ta cộng đồng Trong những năm ngay sau chiến tranh, cái Tôi sử thi và cáitôi thế hệ vẫn là chủ đạo, tuy đã có những nét mới Cái nhìn sử thi được bổ sung bằngnhững trải nghiệm cá nhân, chất liệu hiện thực được gia tăng cùng với xu hướng kháiquát, chiêm nghiệm, chất bi tráng nổi trội trong các sắc điệu thẩm mĩ của tác phẩm.Bước vào những năm 80, cái Tôi sử thi mờ dần, thay vào đó là cái tôi thế sự với
Trang 24những xúc cảm khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa day dứt trước hiệntrạng xã hội, nhân thế Với xu hướng đào xới đến tận cùng bản thể con người, cái tôi
cá nhân được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc, trong mọi mối quan hệ
Tự nhận thức về cái tôi đi liền với ý thức tự vấn, là xu hướng nổi bật ở nhiều
tác phẩm Bức tranh của Nguyễn Minh Châu là một truyện ngắn luận đề về tính đa diện,
nhiều mặt trong một bản thể Quá trình tranh đấu, tự thú của người họa sĩ chính là quátrình con người ngồi trước tấm gương soi vào nhân cách Tiếp tục hướng này, tác giả cho
Lực (Cỏ lau) không ngừng day dứt về quãng đời quá khứ Giang Minh Sài (Thời xa vắng) khi nhận ra mình “sống hộ ý định của người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người,
chứ không phải cho hạnh phúc của mình”, đã quyết định trở về quê hương làm lại cuộcđời Các nhân vật trữ tình trong thơ cũng không nguôi khắc khoải về bản ngã của mình
Khi cái cá nhân không còn là “ngọn gió siêu hình” ở thời đại mới, những lời tự vấn: Mà sao tôi chẳng là tôi (Ngô Minh), Ta là ai, thăm thẳm có ta không (Trần Nhuận Minh)
là sự nhận thức về vị trí của cái tôi với những giá trị của riêng nó, không chấp nhận sự ápđặt từ bên ngoài, tẩy chay lối sống bầy đàn phi bản sắc
Con người cá tính hiện nay đang được khẳng định như một giá trị Đó là
nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các quan
hệ xã hội, cá nhân Hiện tượng lấy tên mình đặt cho một bài thơ, một tập thơ khôngcòn là hiếm như một cách khẳng định cái tôi ngay từ tiêu đề tác phẩm (Trang Thanh -Trang Thanh, Vili in love - Vi Thuỳ Linh…) Con người ngày nay có khát vọng tạodựng một chân dung riêng biệt của mình trong thơ Đó có thể là chân dung ngoạihình, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là chân dung tinh thần Con người cá tính dám làm
và dám chịu trách nhiệm về những việc đã làm, dù có thất bại nhưng luôn tỏ ra kiêuhãnh Khát vọng khẳng định cái tôi cá tính còn thể hiện ở chỗ mỗi nhà thơ đều cốgắng tìm cho mình một phong cách riêng, giọng điệu riêng, đặc biệt là ở các nhà thơtrẻ như Nguyễn Quang Hưng, Thụy Anh, Lữ Thị Mai, Điệp Giang, Vi Thùy Linh, LyHoàng Ly
Dám nhìn thẳng vào thế giới riêng tư của cái Tôi, các tác giả cất tiếng nói mạnh
mẽ về nhu cầu tình yêu trần thế Văn học trước 1975 do yêu cầu của thời đại, nói về
tình yêu đôi lứa chẳng qua là để nói về vẻ đẹp lý tưởng, vẻ đẹp của đức vị tha, lòngdũng cảm và sự thuỷ chung Văn học sau 1975, khi những nghĩa vụ công dân, tráchnhiệm cộng đồng đã hoàn tất, con người có nhu cầu trở về với tình yêu trần thế, rấtthực, rất đời nên rất phong phú và sâu sắc Tình yêu với các dạng thái và cung bậc của
nó, từ những rung động ban đầu cho đến tình yêu mang màu sắc nhục thể đều hiện lêntrên những trang viết vừa tinh tế, gợi cảm, vừa táo bạo, quyết liệt, vừa nồng nàn, đằmthắm của các nhà văn, đặc biệt là các cây bút nữ Với quan niệm “Trong tình yêu hạnhphúc thật ngọt ngào mà khổ đau cũng đầy thi vị Chỉ có sự trống rỗng chán chường
của kẻ không yêu mới thật sự là khủng khiếp” (Gió thiên đường – Trần Thùy Mai),
Trang 25không chỉ những người đàn bà bình thường mà những cô gái bị khiếm khuyết về
ngoại hình như Nấm (Đàn bà xấu thì không có quà - Y Ban) cũng luôn mơ ước “Một
tình yêu, tình dục, một chồng vợ, một mái ấm gia đình và những đứa con” Đọctruyện ngắn Ma Văn Kháng, Phạm Thị Hoài, thơ Vi Thuỳ Linh ta như nghe đượctiếng reo hò khởi loạn của cõi thầm kín, vốn là vùng cấm bao đời nay bị thứ văn họcsạch sẽ thơm tho chôn chặt, giấu kỹ Nhân vật trong tác phẩm của Dương ThuHương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Hồ Thị Hải Âu, Dạ Ngân, NguyễnNgọc Tư, … đa số đều ráo riết trong hành trình kiếm tìm một tình yêu lí tưởng, đắmsay, duy nhất Ít người trong số họ đạt được mơ ước, thậm chí nhiều người rơi vào bikịch, tuy nhiên, con người vẫn không từ bỏ sự lựa chọn của mình
3.2.2.2 Khát vọng kiếm tìm bản thể
Có thể nói, để khẳng định bản sắc riêng, con người buộc phải tham gia vàocuộc kiếm tìm Ở văn học sau 1975, con người khao khát truy tìm cái thuộc về bảnngã, thuộc về cái tôi, muốn sống thực với khao khát, thể hiện khát vọng sinh tồn, tìm lítưởng cho chính mình, không a dua, chống lại sự mỏi mòn của công thức, của khuônkhổ định sẵn
Trong văn học dân gian, sự kiếm tìm khởi nguồn từ khi loài người băn khoăn,muốn cắt nghĩa về nguồn gốc của mình và toàn bộ thế giới xung quanh Ở văn họcviết thời kỳ trung đại, khi con người về cơ bản bình ổn với những chuẩn mực, giá trịchung được định ra theo khuôn mẫu của cộng đồng, khát vọng kiếm tìm chỉ gắn vớinhững con người dám hoài nghi những gì có sẵn, họ trăn trở trong hành trình tìm kiếm
lí tưởng mới cho bản thân (Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát…) Đến thời kìhiện đại, văn học kiếm tìm sự tự do trong cá tính, khát vọng bứt phá khỏi những ngộtngạt của đời sống thường nhật Đặc biệt, ở thời kỳ đương đại, con người khao khátkiếm tìm giá trị của cá nhân, của nhân cách và những hệ giá trị trong mối quan hệngười
– người Tìm những gì họ đã trải qua, đã đánh mất, nhìn nhận lại những giá trị đíchthực của bản thân, đánh giá vị trí của mình trong cõi nhân sinh thế tục là hành trìnhmuôn thuở của con người Càng có ý thức sâu sắc về mình, con người càng khao kháttìm kiếm Dù trong hành trình kiếm tìm ấy, có thể nó va vấp, lầm lạc, không ai hiểu vàđôi khi phải trả giá rất đắt Tuy nhiên nó chấp nhận tất cả Bởi điều con người quan tâm
là được sống theo những suy nghĩ, những chân lí của mình, tìm ra nguồn cơn sự thật,được thể hiện, khẳng định mình trong cuộc sống
Trong văn xuôi, c on người kiếm tìm đã manh nha trong tác phẩm của cácnhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, xuất hiện nhiều trong tácphẩm của các nhà văn lớp sau: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, PhanThị Vàng Anh, Hồ Thị Hải Âu, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,Nguyễn Bình Phương… Dù mức độ quan tâm thể hiện khác nhau nhưng các nhà văn
Trang 26đã có tiếng nói chung về khát vọng “tìm mình” trong cõi nhân sinh của conngười.
Trang 27Những trải nghiệm và những điều chưa tới có thể làm con người vừa tò mò, vừahoang mang, hoài nghi, thậm chí tuyệt vọng, nhưng họ vẫn ra đi dù hành trình đó hầunhư đều thất bại.
Thời hậu chiến, con người lâu nay quen đồng bộ, đồng bộ ở cách nghĩ, cáchviết và phần nào đó cách sống, đột ngột bị đẩy vào tình thế buộc nhìn lại mặt mình: tathấy mình không giống ai, đúng hơn – giống tất cả mọi người mà không nét nào làcủa mình Thế nên, nỗi hoài nghi về sự phản ánh trung thực của diện mạo về nhâncách con người là sự ám ảnh trong nhiều bài thơ Nhận ra cuộc đời mỗi người chỉ như
“góc diễn tấu vỉa hè hay trang trọng sân khấu thời cuộc” (Mặt – Trần Quang Quý),
các nhà thơ thể hiện khát vọng ráo riết tìm lại mặt thực, nhân cách thực của chính
mình: “Mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt/ Ta đói mặt người ta khát mặt ta” (Người đi tìm mặt - Hoàng Hưng) Tuyên ngôn của Trần Quang Quý: “Hãy lột chiếc mặt nạ tự phỉnh mình” (Quen) là tiếng thơ kêu đòi tự do cho cá thể bị đánh
cắp, mặt người bị đánh cắp Cách cảm nhận đó đã thể hiện một cái nhìn duy lý, biệnchứng đối với cuộc sống phức tạp đa chiều chứ không phải là một cách nhìn khuônsáo một chiều đơn giản, đồng thời cũng cho thấy sự quan tâm một cách cấp thiết củangười nghệ sĩ với những vấn đề nhân bản của con người thời đại Xét đến cùng,những tiếng gọi mặt ráo riết, cuộc trốn chạy hoảng hốt khỏi sân khấu thời cuộc, chính
là sự thể hiện của một nhân cách tỉnh táo- ý thức được thực trạng, dám nhìn thẳngvào sự thật, và khát khao muốn được là mình, muốn sống thật với chính mình!
phá” thành trì vốn được coi là đặc quyền, thế mạnh của đàn ông, đó là tình dục
Họ sẵn sàng chủ động bày tỏ ham muốn, tìm kiếm sự thăng hoa, phá bỏ thế thượng
phong của nam giới (Gia đình bé mọn, Bóng đè, Nhân gian, Đức Phật, nàng Savitri và tôi…), thực hiện cơ chế tự yêu, tự soi ngắm, tự thỏa mãn (Tự, Người
đàn bà trước gương, Vân Vy, 1981…) Làm chủ tư duy, khẳng định bản lĩnh cá
nhân cũng chính là một hình thức xác lập cái tôi không phụ thuộc của nữ giới
(Diễm trong Bước hụt, Cải trong Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê; các nhân vật nữ trong Mười ngày, Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh…) Sự đề cao mẫu tính
của người phụ nữ chính là một hình thức khẳng định những ưu việt và vai trò của
nữ giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội Cái nhìn khá thẳng thắn về vấn đề
đồng tính (Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn), Song song (Vũ Đình
Giang), 1981 (Nguyễn Quỳnh Trang)) cũng là tiếng nói mong muốn được nhìn
nhận bình đẳng…
Trang 283.2.2.4 Theo đuổi những đam mê riêng, vượt qua khuôn thước số đông
Khi nhận thức về giá trị của cái tôi, con người cá nhân luôn có khát vọng tìm
kiếm những giá trị đích thực của đời sống Nhân vật Nhĩ (Bến quê) đã đi gần hết
cuộc đời mới nhận ra rằng anh đã phiêu lãng và viển vông nơi những vùng đất xa xôi,trong khi hạnh phúc giản dị hiện tồn ngay ở bên cạnh, ở người vợ hiền, ở vẻ đẹpbình dị mà quyến rũ của một bãi bồi bên kia sông Nhân vật của Tạ Duy Anh,Nguyễn Khải đem đến suy cảm về sự mỏng manh, hữu hạn kiếp người, để rồi tìmđược câu trả lời: “Sống hết mình cho một lí tưởng cao cả là cách sống dài nhất” Các
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Cải ơi, Dòng nhớ, Cuối mùa nhan sắc,
…) đều tìm đến ý nghĩa của sự sống bằng cách sống như mình mong muốn Cái mà họ
theo đuổi đôi khi hết sức giản đơn mà cái giá phải trảcho nó thật nghiệt ngã Giá trị củacon người nằm ở chỗ, người ta đã nhận ra mình nên sống như thế nào để được là chínhmình
Cá nhân con người luôn có những lựa chọn khác nhau nhằm thực hiện đam
mê, khát vọng Họ có thể kiếm tìm tình yêu lí tưởng như những người phụ nữ trong
truyện của Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ (Cát đợi, Tình yêu ơi, ở đâu?, Hậu thiên đường, Sơ ri đắng, Tân cảng, Giai nhân) Họ cũng khao khát kiếm tìm sự nghiệp lí tưởng như Tự (Đám cưới không có giấy giá thú), họa sĩ Xuân Tư (Bán cốt –
Võ Thị Hảo)
Có thể nói, tự ý thức là phẩm chất của con người trong đời sống Khi còn ýthức về bản thể, về nhân vị, khát vọng kiếm tìm còn tiếp tục thiêu đốt họ Khiphản ánh khát vọng tự vấn, kiếm tìm của con người, văn học sau 1975 đã thực sựkhẳng định được giá trị nhân bản của nó
3.2.3 Con người bi kịch
Nếu nhân vật trong văn học 1945-1975 được khắc họa trong tư thế làm chủ vàvượt lên hoàn cảnh thì nhân vật trong văn học sau 1975 với bản chất con người thựccủa đời thường, không phải lúc nào cũng vượt lên được hoàn cảnh Họ rơi vào bikịch Bi kịch ấy gắn với sự tan vỡ của giấc mơ, sự bất lực trước những đòi hỏi tấtyếu, trước sự tha hóa của những giá trị đời sống không gì ngăn cản nổi; nó cũng gắnvới sự tự ý thức về cái khó chia sẻ khi một mình đối diện với nỗi đau, đặc biệt là nỗiđau tinh thần
3.2.3.1 Bi kịch cô đơn
Nhìn con người bằng thước đo nhân bản, văn học sau 1975 đã phát hiện ra sựkhông tương hợp giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cá nhân với chính nó trong sự biến
đổi dữ dằn của thời cuộc Kiểu nhân vật cô đơn lạc thời, bất hòa với môi trường sống
trở thành một mẫu người tương đối phổ biến trong văn xuôi, đặc biệt xuất hiện nhiều
trong tác phẩm của những nhà văn viết ở cả hai giai đoạn trước và sau 1975 Với Sắm vai, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu biểu hiện
Trang 29khá sâu sắc sự cô đơn của con người trong khả năng tự ý thức về chính mình NguyễnKhải đưa ra hàng loạt cảnh báo về những vết nứt không thể hàn gắn trong gia đình.
Tiến (Một cõi nhân gian bé tí), tướng Thuấn (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp), Trung tướng giữa đời thường (Cao Tiến Lê) cả đời trận mạc nhưng thực sự ngơ
ngác “luống cuống khổ sở”, thậm chí “kinh hãi đau đớn, trước lối sống ô trọc, hỗntạp”của đời thường
Nhiều nhà văn nữ như Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Dạ Ngân… gặp nhau trong nhận thức hết sức tinh tế về sự vênh lệch giữa các thế hệ trong gia đình khi cha không hiểu con, vợ không hiểu
chồng, chị em không hiểu nhau (Khi người ta trẻ, Kịch câm, Chị em họ…)
Bên cạnh việc xây dựng kiểu con người cô đơn do bất hòa với thời đại và môi
trường sống, văn xuôi sau 1975 còn xây dựng kiểu con người cô đơn do bị ruồng bỏ, hắt hủi Đa số, họ là những con người vì lí do này hay lí do khác bị loại ra khỏi xã
hội, bị ngăn cách trong quan hệ đồng loại, quan hệ với người thân Họ không có nơi
chốn để trở về dù gia đình họ ngay bên cạnh Hằng (Những thiên đường mù), lão Thiệt (Ngày xửa ngày xưa), những con người khuyết tật, dị dạng, mồ côi như Đăng (Tâm hồn mẹ), Khó (Trái tim hổ), Cún (Cún) mang nỗi đau là những kẻ lạc loài Có thể nói,
hoàn cảnh, môi trường là một tác nhân không nhỏ tạo ra sự trống trải, cô độc, lạc loàicủa con người ngay trong cuộc sống của chính nó Đó cũng là một cảnh tỉnh với mỗichúng ta, khi con người đang bị phân rã thành những mảnh vỡ rời rạc, lạc điệu, vô âmsắc
Khi ý thức về cá nhân phát triển ở trình độ cao, con người có nhu cầu khám
phá sâu vào bản thể, tự cô đơn vì vậy càng bộc lộ nhiều hơn Không hòa mình vào
nhịp sống chung của xã hội, những cái tôi của thế hệ mới tách ra, sống với những tínđiều của riêng họ về giá trị đạo đức, về nhân cách, về lí tưởng Dĩ nhiên, vì cái nhìnkhác người mà cái tôi có thể phải trả giá đắt Và cũng vì điều đó, cái tôi ấy hoàn toàn
cô đơn, giữa đám đông, trong gia đình, giữa những người thân thuộc nhất Điển hình
cho tư tưởng này là Thiên sứ, (Phạm Thị Hoài), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối…
(Tạ Duy Anh)…
Buồn, cô đơn cũng trở thành cảm giác thường trực trong thơ Có nỗi buồn vềthần tượng bị gẫy đổ, ảo tưởng bị tan vỡ khi nhận ra “Chúa chỉ bằng đất đá” (NguyễnTrọng Tạo), có nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý chuyệntồn tại mà “xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư,
đôi lứa: Em chết trong nỗi buồn - Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng (Lâm Thị Mỹ Dạ) Chất giọng tự thú, tự bạch trở thành gam giọng phổ biến Tuy
nhiên cũng xuất hiện không ít nỗi đau giả, những tiếng khóc vờ vì cảm xúc hời hợt vàthói triết lý vặt trong thơ Thậm chí, việc nói quá nhiều đến nỗi buồn, kể lể dài dòng
về chúng một cách nông cạn đã khiến cho không ít tác phẩm rơi vào tình trạng mòn
Trang 30sáo Điều quan trọng là nhà thơ phải thể hiện được những nỗi buồn sâu sắc và thấmđầy chất nhân bản.
Nếu đem so sánh, có thể thấy trong văn học 1930-1945, đặc biệt là Thơ Mới mộtthời cũng chăm chú khai thác nỗi cô đơn của con người, nhưng cơ bản vẫn là cái côđơn cá thể, cái tôi ấy bị cảm thức cô đơn bủa vây và trở nên cô độc giữa đồng loại.Nỗi cô đơn này cũng phần nào xuất hiện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và đượcthể hiện khá rõ trong văn xuôi đô thị miền Nam (1954 - 1975) Trong văn xuôiđương đại, cái cô đơn của con người cá nhân đã phát triển từ chỗ “bị cô đơn” đếnchỗ “tự cô đơn” Nói rõ hơn, đó là tâm thức hậu hiện đại, thể hiện ở sự bất tínvào những giá trị bền vững, những đại tự sự, chấp nhận những ngẫu nhiên, phi lítrong hiện tại của con người
Như vậy, bị rơi vào hoàn cảnh cô đơn hay tự cô đơn đều là trạng thái của conngười trong đời sống Cô đơn không có nghĩa là hủy diệt, ngược lại, cô đơn đem lạithức nhận về những giá trị mà con người cần theo đuổi, gìn giữ Dám đối mặt với nỗi
cô đơn, thể hiện con người trong nỗi cô đơn, văn xuôi đã thực hiện chức năng nhânbản nhất: viết vì con người và sự sống con người
2.3.2 Bi kịch tha hóa
Cuộc sống hiện thời đẩy mọi thế hệ chúng ta luôn phải cọ xát mạnh hàng ngàyhàng giờ trên những ranh giới của giá trị đạo đức, trên niềm tin đích thực về conngười, cuộc đời Đó vừa là cơ hội cho những ai không đánh mất nhân cách làm người,vừa là lỗ hổng cho những ai đã bị tha hóa trước ma lực của giá trị vật chất
Trước đây trong chiến tranh, con người chỉ đơn giản là ta hay địch với nhữngphẩm chất chung thủy, dũng cảm hay xấu xa, bỉ ổi Đời sống thực bây giờ con ngườilại rất phức tạp Người ta dễ đánh mất lương tâm của mình vì mối lợi trước mắt Văn
học hôm nay chủ yếu tìm hiểu con người tha hóa ở việc khai thác quá trình thay đổi, biến chất trở thành “phi nhân tính” Vì tác động nghịch cảnh, con người không đủ bản
lĩnh, ý chí để chống chọi nên dễ bị tha hóa Không chỉ ở những “con người công dânđặc biệt” (người lính), sự tha hóa còn tìm đến gõ cửa những con người công dân phổbiến” Các nhà văn đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay bị giấukín để báo động về những thang giá trị, những chuẩn mực xã hội càng lúc bấp bênh
trước sự tha hóa của con người Đó là thái độ im lặng, bất lực của Tự (Đám cưới không có giấy giá thú), là thái độ cơ hội của Trần Hới (Những mảnh đời đen trắng), là con người vừa phản văn hóa, vừa phi luân của Chính (Những thiên đường mù) Tha
hóa nhân cách cũng là điều mà các nhà thơ hiện nay day dứt nhất khi suy nghĩ về thế
sự, nhân sinh (Vách đá - Lê Quốc Hán, Đã có sai lầm ở đâu đó - Đinh Thị Như Thúy, Quên lãng - Nguyễn Tấn Việt ).
Sự lỏng lẻo của các mối quan hệ, sự cực đoan trong những đòi hỏi vị kỷ của cánhân, những áp lực của công việc, của mưu sinh… đã đẩy con người đến chỗ phân rã,
Trang 31rơi vào bi kịch bị “tẩy trắng”, “biến mất” khỏi cộng đồng Nhân vật chỉ vừa kịp chào
đời đã ra đi, hoặc chỉ là những hình bóng hư ảo (những đứa con bà giáo – Những đứa trẻ chết già), hoặc biến mất không rõ nguyên nhân, không rõ tung tích (Quân – Ngồi), hoặc ngay cả cái tên cũng bị cắt dần như những con chữ bị delete trên bàn phím (Ngồi) Những chi tiết cụ thể về nhân vật hầu như không được nhận thức… Đây là
một lời cảnh báo đối với tình trạng “vong bản” của con người thời hậu hiện đại.Con người tha hóa là sự trở lại của hiện tượng đã có trong văn xuôi 1930 -
1945, đánh dấu sự gắn bó với đời sống vật chất và tinh thần của con người đương đại,tạo nên một diện mạo phản ánh sôi nổi của văn xuôi
3.2.4 Con người tự nhiên, bản năng
Tự nhiên bản năng là một phần quan trọng không thể thiếu trong bản chất người.Vấn đề này đã được đặt ra trong văn học từ rất sớm, nhưng có những thời kì, hoặc doquá đề cao lí tính hoặc chỉ chú trọng đến tính xã hội, các quan hệ xã hội - giai cấp củacon người, văn học đã xem nhẹ, thậm chí bỏ qua con người tự nhiên bản năng Vănhọc sau 1975 đã tìm về với bản chất tự nhiên của con người, khơi sâu nó Đó chính làcái nhìn khá toàn diện và mang tính nhân bản
3.2.4.1 Bản năng tính dục
Trong các sáng tác dân gian, tính dục thường đi cùng tiếng cười trào tiếu, hómhỉnh Sáng tác văn học viết thời trung đại cũng có đề cập đến cảnh ái ân, chăn gối, dù
không đậm đặc (Thánh Tông di thảo, Hoa viên kì ngộ, Truyền kì mạn lục) Những ẩn
ức tình dục, cảm quan phồn thực được thể hiện khá đậm nét, tạo thành một dấu ấn đặcbiệt trong phong cách của bà chúa thơ Nôm Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng có đềcập đến ẩn ức dục tình, mong muốn được tự do yêu đương, vượt qua khỏi sự trói buộccủa lễ giáo Giai đoạn 1945-1975, văn học tạm quên con người cá thể do nhiệm vụ đặcbiệt của ba mươi năm vệ quốc, đời sống bản năng, yếu tố nhục thể vì lẽ đó gần nhưkhông được đề cập Văn học từ sau 1975 ghi nhận sự trở lại mãnh liệt của con người
cá nhân, cá thể Con người tự nhiên bản năng được văn học chú ý khai thác Bản năngtính dục được xem như một vấn đề thường hằng của đời sống, một phương diện khôngthể thiếu trong mỗi một con người Hơn nữa, bản năng tính dục còn được xem nhưmột đối tượng thẩm mĩ đặc thù, gắn liền quan niệm nhân bản và cái nhìn có chiều sâutriết học về con người
Có thể nhận thấy sự thể hiện ẩn ức tính dục, hành vi tình dục, hoạt động tínhgiao trong hàng loạt sáng tác Nhiều tác giả đồng thuận trong quan niệm tính dục làmột nguồn sống tự nhiên vô cùng trong trẻo, thầm thào mà mãnh liệt trong mỗi một
con người (Đám cưới không có giấy giá thú, Chọn chồng, Những người đàn bà – Ma Văn Kháng, Bến không chồng - Dương Hướng, Vĩnh biệt mười chín con gà trống – Nguyễn
Trang 32Quang Lập, Gia đình bé mọn – Dạ Ngân, thơ của Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên, Đàm Thị Lam Luyến, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư…) Có tác giả nhấn
mạnh tình dục như một trạng thái sống có ý nghĩa nhất, một trạng thái hiện sinh đầy
nhục cảm và đam mê, là con đường giải thoát những ám ảnh, ẩn ức, cô độc (Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi – Nguyễn Bình Phương, Vân Vy- Thuận, Phiên bản – Nguyễn Đình Tú) Coi tính dục như một phần của con người tự nhiên, văn học đã thể
hiện cái nhìn khá toàn diện về con người cá nhân Đó cũng là một nét đẹp mới tạo nênđặc trưng thẩm mĩ cho văn học Việt Nam giai đoạn này Tuy nhiên cũng không thểkhông thấy rằng một số tác phẩm đã chạy theo xu hướng tuyệt đối hóa vấn đề tính dục,lạm dụng yếu tố tình dục như một phương tiện để hấp dẫn người đọc, làm giảm giá trịnghệ thuật của tácphẩm
Con người với bản năng sinh tồn và bản năng xâm hại
Tiến hành cuộc thăm dò vùng tiềm ẩn, chiêm nghiệm tầng sâu vô thức trongtâm hồn con người, bên cạnh việc quan tâm đến những ẩn ức thể hiện bản năng tínhdục, văn học sau 1975, đặc biệt là văn xuôi còn chú tâm khai thác bản năng sống và
bản năng xâm hại của con người Bản năng sống là cội nguồn của ý chí sinh tồn,
đem lại nghị lực, khát vọng sống mãnh liệt, giúp con người có thể vượt qua cả nhữnghoàn cảnh ngặt nghèo nhất Khảo sát văn xuôi sau 1975, ta nhận thấy những ẩn ức bản
năng hầu như đều thể hiện trong nhiều sáng tác, tuy nhiên ám ảnh nhất vẫn là Ăn mày
dĩ vãng, Nỗi buồn chiến tranh, Đi tìm nhân vật… Khao khát được “trở về nhà, bơm xe,
bới rác, trông kho…” của Tuấn, ham muốn sống “một cuộc đời tật nguyền, không vợcon, không tương lai, không niềm vui nỗi buồn, vô tri vô giác nhưng còn ngàn lần hơnvĩnh viễn chui vào lòng đất, câm lặng” của Hùng đâu phải là cái tội Đó là khát vọng
sinh tồn Đi ngược lại bản năng sinh tồn chính là bản năng xâm hại (Bản năng
chết) Trong chiều hướng tiêu cực, bản năng này sẽ dẫn đến sự tự hủy diệt của cá thể
Chính cảm giác trống rỗng (Người đi vắng) đã đẩy Hoàn đến với cái chết, một hình
thức tự hủy Thảo Miên rao bán trinh tiết, vào nhà thổ, trở thành điếm cao cấp của
Cảm giác thiên đường, cuối cùng, tự đốt cháy mình trong khát vọng “hóa thân thành
trinh nữ”
Rõ ràng, bản năng sống hay bản năng xâm hại đều có thể tồn tại trong mỗi mộtcon người Chúng ta không thể loại trừ, chối bỏ sức mạnh của nó Tuy nhiên, chúng tacũng không để cho mặt tiêu cực của nó chi phối, lấn át
3.2.5 Con người vô thức, tâm linh
Bên cạnh con người ý thức, con người bản năng là con người của vô thức, tiềmthức Bên cạnh cái bề ngoài dễ nhận biết, dễ đoán định là những vùng sâu mơ hồ, ẩnmật nhất của tâm linh Yếu tố vô thức, tâm linh chính là những thuộc tính ẩn sâu, làmnên tính bất ngờ, không dễ nhận biết của conngười