SKKN về cách khai thác dẫn chứng văn nghị luận trên internet cho học sinh THPT, sáng kiến đã được giải cấp tỉnh mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ý thức được tầm quan trọng của việc nhận thức các vấn đề xã hội, đời sống,
tư tưởng, đạo lý, lần đầu tiên Bộ giáo dục đã đưa nghị luận xã hội vào đề thi là trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia môn Ngữ văn năm học 2006 - 2007 Ngay sau bước thử nghiệm đầy táo bạo đó, từ năm 2009 nghị luận xã hội đã nhanh chóng được đưa vào đề thi ĐH-CĐ dành cho mọi đối tượng với thang điểm 3/10 Đến nay, chúng ta đã quan tâm nhiều hơn đến việc học một cách bài bản nghị luận xã hội trong trường THPT Trong chương trình Ngữ văn THPT, nghị luận xã hội chiếm thời lượng khá lớn từ Ngữ văn 10 đến Ngữ văn 12, với hai dạng bài chính là nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống Học sinh được làm quen và chuẩn hóa từ cách thức lập luận đến kĩ năng sử dụng thao tác và dẫn chứng Từ thói quen làm câu hỏi nghị luận xã hội theo kiểu
“tầm chương trích cú”, học sinh đã biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đời sống
và kiến thức sách vở để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra Vì vậy thay vì “sợ” như trước kia, học sinh lại thấy hứng thú với dạng câu hỏi này và coi đó như một
cơ hội được bày tỏ những suy nghĩ của bản thân
Nhưng vấn đề SKKN muốn đặt ra ở đây không phải cái hay của dạng câu hỏi nghị luận xã hội, cũng không phải vấn đề làm văn nghị luận xã hội như thế nào hoặc đưa ra một công thức nào đó cho dạng bài này Tôi chỉ xin đề cập đến một vấn
đề rất nhỏ là: khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn dẫn chứng phong phú từ mạng internet trong văn nghị luận xã hội Một bài văn nghị luận xã hội hay không thể không có dẫn chứng và dẫn chứng phải được chọn lựa kĩ càng, phù hợp với vấn đề
và phải có tính mới Trong khi đó, internet là một kho thông tin khổng lồ, chúng ta chỉ cần vào google, gõ tìm kiếm là lập tức có hàng nghìn kết quả Nhưng cái khó là trong hàng nghìn kết quả ấy, ta chỉ chọn khoảng 5 đến 10 kết quả làm dẫn chứng cho bài văn của mình Vậy chọn lựa như thế nào?
Trang 2Tôi thiết nghĩ vấn đề không phải chỉ là học sinh cần làm gì để lựa chọn dẫn chứng mà còn là việc giáo viên định hướng cho học sinh ra sao Qua bài học, người giáo viên bằng những hiểu biết về đời sống của mình giúp học sinh từ chỗ “vỡ lẽ”
ra nhiều vấn đề phức tạp trong cuộc sống đến chỗ nhận thức những đúng – sai, tốt – xấu để có bài học nhận thức và hành động đúng đắn cho bản thân Nếu ta chỉ nói những điều mang tính chất sách vở, “biết rồi, khổ lắm nói mãi” thì học sinh sẽ rơi vào tình trạng buồn ngủ, không tập trung Nhưng nếu ta kể những câu chuyện ngụ ngôn, chuyện đời thường, cho học sinh “mắt thấy, tai nghe” những điều xung quanh mình, những giai điệu cất lên từ tình yêu thương con người và sự trăn trở trước cuộc đời thì chắc chắn các em sẽ vô cùng hứng thú với tiết học Ngữ văn và sẽ nhớ mãi không quên những dẫn chứng ấy để đưa vào bài làm của mình Từ việc ghi nhớ một cách chủ động, tự nhiên dẫn chứng, các em tự mình “ngộ ra” những chân
lí của cuộc sống, rút ra những bài học làm người sâu sắc Thế nên mới nói, học văn
là học cách làm người
Dẫn chứng trong văn nghị luận xã hội là vấn đề không mới Chúng ta chỉ cần search “Dẫn chứng trong văn nghị luận xã hội” là lập tức có khoảng 92.100 kết quả trong 0.19 giây Điều đó có nghĩa là rất nhiều đồng nghiệp của chúng ta đã suy nghĩ, trăn trở về vấn đề này, nhiều học sinh của chúng ta đã rút ra những kinh nghiệm quý báu từ các kì thi để sưu tầm dẫn chứng phục vụ cho bài làm của mình Nhưng tất cả mới dừng lại ở việc học sinh cần dùng những dẫn chứng nào, cung cấp một số dẫn chứng để các em học thuộc Tôi cũng xin mạnh dạn nói rằng, là giáo viên dạy văn, chúng ta có thể làm cho các em nhiều hơn thế Vẫn là kho tài nguyên bất tận của internet đó thôi, nhưng chúng ta có thể khai thác để bồi đắp tâm hồn các em, khiến các em tự giác tiếp nhận chứ không thụ động tiếp thu Khi các
em rùng mình về các con số, khi các em phải rơi nước mắt trước những bức hình, khi tim nhói đau vì một hành động nhỏ, và khi hân hoan, vui sướng trước những điều giản đơn,… khi ấy, các em sẽ tự giác ghi nhớ như một trải nghiệm của bản thân và thấy rằng, nghị luận xã hội gần cuộc đời và cần cho cuộc đời lắm
2
Trang 3Khi viết SKKN này, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu và ý kiến của các bạn đồng nghiệp trên internet Tôi khẳng định vấn đề tôi nêu ra và giải quyết trong SKKN là hoàn toàn mới mẻ, được đúc rút rừ quá trình giảng dạy của bản thân tôi, cùng vui, cùng buồn, cùng suy ngẫm với học sinh của mình Vì vậy, tôi hi vọng vấn
đề nhỏ tôi đặt ra ở đây sẽ góp phần giúp học sinh hứng thú hơn với văn nghị luận
xã hội, giúp giáo viên đa dạng hóa các dẫn chứng và truyền ngọn lửa của lòng yêu nghề, yêu người, yêu đời đến những học trò thân yêu
Trang 4II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Phần 1: Thực trạng của vấn đề
1 Đặc điểm tình hình:
Đối với chương trình SGK phổ thông: nghị luận xã hội và nghị luận văn học được tìm hiểu chung ở các vấn đề: các thao tác nghị luận, lập luận trong văn nghị luận, chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận, rèn luyện
kĩ năng viết mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận Ở học kì I lớp 12, học sinh được học 2 tiết về nghị luận về một một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống Trong 2 tiết đó, giáo viên chủ yếu cung cấp cho học sinh “công thức” để làm từng dạng bài Như vậy, có thể thấy, phần dẫn chứng hoàn toàn bỏ trống, chỉ là lưu ý của giáo viên đối với học sinh, nói cách khác, dẫn chứng không được coi trọng
Đối với việc giảng dạy của giáo viên: do thời lượng mỗi tiết học 45 phút chỉ
đủ cho việc giải quyết các vấn đề trong SGK nên giáo viên khó có thể mở rộng cho học sinh những thông tin, những vấn đề từ đời sống Giáo viên có nói đến cũng chỉ
là giới thiệu vào bài, nêu qua trong khi liên hệ đến vấn đề Do đó, học sinh muốn nhớ cũng khó chứ không nói đến việc tự giác tiếp nhận, thẩm thấu
Đối với học sinh: thời gian trên lớp là thời gian chính trong ngày của các em Với học sinh miền núi, nông thôn, các em có thể có thêm buổi chiều ở nhà Buổi chiều đó, các em có thể xem tivi, vào mạng tìm kiếm thông tin để biết thêm về đời sống Nhưng tất nhiên, số học sinh ấy là không nhiều, vì thời gian rỗi không phải đến trường, các em còn phải làm nhiều công việc phụ giúp gia đình Với học sinh thành phố, các em học cả hai buổi, sáng học chính, chiều học ôn, thậm chí, buổi tối nhiều gia đình vẫn đưa con đến các lớp học ôn, hoặc thuê gia sư về kèm cặp thêm cho con Nghĩa là thời gian biểu của các em dày đặc những học là học! Các em chỉ tập trung vào việc học để thi mà xa rời thực tế quá
4
Trang 5Sở dĩ, Bộ giáo dục đã đưa nghị luận xã hội vào đề thi là vì nhìn thấy những bất cập ấy và muốn giáo viên thay đổi phương pháp, học sinh thay đổi cách học Nhưng học sinh không có điều kiện tiếp xúc thực tế, tìm kiếm thông tin thì giáo viên có thể làm giúp và các em chỉ cần học thuộc, biến hóa nó vào bài thi của mình
Cứ xem những bản tin Chuyển động 24h thì rõ Học sinh có thể không biết Nguyễn Huệ và Quang Trung là một nhưng có thể viết rõ ràng trong bài làm Nguyễn Huệ là anh hùng dân tộc “áo vải cờ đào/ giúp dân dựng nước xiết bao công trình” Bài văn của các em chắc chắn sẽ được điểm cao nhưng có lẽ các em cũng không biết mình viết gì
Đọc văn cũng được bổ sung các văn bản nhật dụng như Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2013 (Cô-phi An-nan), văn bản nghiên cứu chuyên sâu như Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu), hồi kí như Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp), kịch hiện đại như Hồn Trương
Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)… đã giúp học sinh có thêm những hiểu biết về
đời sống, đặt ra những vấn đề tư tưởng, chẳng hạn như thế nào là sống toàn vẹn, thế nào là hạnh phúc…
Chương trình SGK và cách dạy của giáo viên giúp học sinh có nền tảng kiến thức và kĩ năng tương đối vững chắc Học sinh biết làm gì để xử lí các đề nghị luận
xã hội, hoàn toàn có thể chủ động về kiến thức
Trang 62.2 Tồn tại:
Học sinh thiếu những trải nghiệm cần thiết (qua phóng sự, phim, ảnh, nhạc,
và thực tiễn) nên học không cốt để hiểu, để trưởng thành, để nên người mà chỉ là để thi, và thi đạt điểm cao
Giáo viên thiếu đi sự tìm tòi, niềm say mê Nghị luận xã hội gần cuộc sống,
là cuộc sống nên nếu giáo viên chỉ cung cấp cho học sinh những tập tài liệu về dẫn chứng thì cơ hồ đã làm mất giá trị giờ giảng văn, giá trị nhận thức và giáo dục của văn học cũng vì thế mà giảm đi nhiều
3 Nguyên nhân dẫn đến tình hình đó:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do xã hội vẫn đặt nặng vấn đề thi cử, gây áp lực không hề nhỏ với gia đình học sinh, cơ sở giáo dục và bản thân người học
+ Do sự thiếu thốn về phương tiện dạy học hiện đại ở nhiều trường học dẫn đến việc đem đến cho học sinh những trải nghiệm qua video, clip, báo chí, âm nhạc, hội họa… là rất khó khăn
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Ở giáo viên: xem nhẹ kiến thức đời sống, không chủ động trong tìm tòi, tra cứu tài liệu, chưa đa dạng hóa các hình thức truyền thụ và tiếp nhận
+ Ở học sinh: mang nặng tâm lí học để thi, thời gian dành cho các hoạt động thực tiễn ít
6
Trang 7Phần 2: Các biện pháp để giải quyết vấn đề
1 Khái lược về dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội:
1.1 Khái niệm dẫn chứng:
Trong một số tài liệu về từ điển, internet cho ra các kết quả sau:
Dẫn chứng: dẫn thí dụ hoặc tài liệu làm bằng chứng kể ra một câu chuyện
Nguồn: tratu.soha.vn
Dẫn chứng: I đgt Dẫn thí dụ, bằng cớ để chứng minh cho điều nói ra, viết ra
là đúng, là có cơ sở: dẫn chứng ra nhiều cứ liệu xác thực II dt Cái được đưa ra để chứng minh làm cơ sở cho điều nói ra, viết ra: tìm được nhiều dẫn chứng sinh động, cụ thể Nguồn: informatik.uni-leipzig.de, vdict.com
Dẫn chứng: Cái được đưa ra để chứng minh làm cơ sở cho điều nói ra, viết
ra Nguồn: vi.wiktionary.org
Từ đây chúng ta có thể hiểu ngắn gọn, đơn giản:
Dẫn chứng là những minh hoạ, những bằng chứng, ví dụ cụ thể làm cơ sở cho điều nói ra, viết ra.
1.2 Vai trò của dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội:
Trong bài văn nghị luận xã hội, dẫn chứng giữ một vai trò vô cùng quan trọng làm cho lí lẽ, luận điểm của bài văn nghị luận chặt chẽ, lập luận càng thêm thuyết phục Có thể nói, nếu không có dẫn chứng, tất cả những điều chúng ta nói chỉ là nói suông, không tạo nên độ tin tưởng ở người nghe, người đọc Nghị luận xã hội bàn về những vấn đề tư tưởng, đạo lý hay hiện tượng đời sống thì đều gắn liền với cuộc sống của con người, đặt ra những vấn đề mang tính chất cấp bách cần được tháo gỡ, giải quyết, do đó, nhất định phải khiến cho người ta tin, từ tin dẫn đến việc sửa đổi và làm theo
1.3 Các nguồn dẫn chứng từ internet:
a Các bài báo, các phóng sự:
Ví dụ: Nghị luận xã hội về bạo lực học đường
Trang 9b Video, clip:
Ví dụ: Nghị luận xã hội về nghị lực sống: video về Lizzie Velasques, Nick Vujicic, Nguyễn Công Hùng, ca khúc Sống như những đóa hoa
Trang 10c Câu chuyện Quà tặng cuộc sống: mỗi câu chuyện nêu ra một vấn đề tư tưởng, đạo lý bằng những hình ảnh sống động, cụ thể giúp học sinh nhanh chóng nhận ra ý nghĩa gửi gắm trong đó.
-2 Những yêu cầu sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội:
Dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội có thể được lấy từ rất nhiều nguồn trên internet như bản tin, phóng sự, các clip, video ca nhạc, các câu chuyện về cuộc đời một cá nhân, các câu chuyện ngụ ngôn, bài học cuộc sống…nhưng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
a Dẫn chứng phải phù hợp với vấn đề nghị luận mà đề bài nêu ra: Đây là yêu cầu bắt buộc, bởi nếu dẫn chứng không hợp lí, bài làm sẽ rơi vào tình trạng “râu ông
nọ cắm cằm bà kia”
10
Trang 11b Dẫn chứng phải chính xác, trung thực: tức là có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, phản ánh đúng người, đúng việc.
c Dẫn chứng phải có tính mới: tức là cập nhật những thông tin đang diễn ra, những người, những việc trong thời đại của chúng ta (đặc biệt nếu đưa ra các số liệu thì số liệu ấy phải được thống kê trong thời gian gần nhất)
d Dẫn chứng khi sắp xếp vào bài cần đảm bảo tính toàn diện: Bên cạnh những dẫn chứng đã quen thuộc như tấm gương Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Kí,… cần có cả những gương mặt mới của hiện tại như: Ngô Kim Lai, Ngô Bảo Châu, Nguyễn Thị Ánh Viên…Bên cạnh những dẫn chứng từ đời
sống có thể lấy cả dẫn chứng trong văn học như ca dao, cổ tích, truyện ngắn Chiếc
lá cuối cùng (O Henri), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân)…
e Dẫn chứng phải vừa đủ: trong mỗi luận điểm chúng ta có thể lấy 1 – 2 dẫn chứng, cả bài có thể có từ 5 – 10 dẫn chứng Chú ý phân loại những dẫn chứng nào chỉ nêu, những dẫn chứng nào cần phân tích, lí giải để làm rõ vấn đề
3 Cách tích lũy dẫn chứng
Học sinh có thể tự tích lũy dẫn chứng bằng cách tự học, tự đọc các tài liệu tham khảo, xem các video, bài báo, nghe các bài hát có liên quan đến vấn đề xã hội hoặc tư tưởng, có thể tích lũy qua sự trang bị kiến thức của thầy cô Tuy nhiên, đọc, xem hoặc nghe một cách ồ ạt, tràn lan, không có định hướng sẽ khiến các em bị rối, không biết xử lí những thông tin ấy như thế nào Vậy nên, các em hãy đặt ra các câu hỏi sau và trả lời:
Ghi dẫn chứng vào đâu? Các em cần có một cuốn sổ tay, luôn mang theo để
cập nhật những thông tin mới nhất
Ghi dẫn chứng như thế nào? Dẫn chứng cần được ghi một cách có hệ thống
theo các tiêu chí sau:
Ghi dẫn chứng theo nhóm: dẫn chứng văn học, dẫn chứng xã hội
Ghi dẫn chứng theo chủ đề: tấm gương người tốt việc tốt; lòng vị tha, bao dung; nghị lực sống; theo đuổi ước mơ…
Trang 12Ghi ngắn gọn, khoa học, nhấn mạnh được ý nghĩa của từng dẫn chứng.
Cập nhật, bổ sung những dẫn chứng mang tính thời sự
Học sinh có thể tham khảo cách ghi dẫn chứng sau:
Vấn đề: Thành công nhờ sự tự học và niềm đam mê theo đuổi ước mơ.
• Dẫn chứng văn học:
Tục ngữ: Có công mài sắt, có ngày nên kim
• Dẫn chứng xã hội:
Bill Gates sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hoa Kì Từ nhỏ ông đã say
mê toán học, từng đậu vào nghành luật của trường đại học Harvad nhưng với niềm say mê máy tính ông đã nghỉ học và cùng với một người bạn mở công ty Microsoft Vượt qua nhiều khó khăn ông đã trở thành người giàu nhất hành tinh và hiện nay ông giành 95% tài sản của mình để làm từ thiện
Sinh ra trong một gia đình nghèo ở thành phố Odense, cuộc sống nghèo khổ, không lúc nào có đủ bành mì để ăn Đi học lại luôn bị bạn bè chê cười vì ngoại
hình xấu xí Vượt qua tất cả với ước mơ trở thành nghệ sĩ, Andecxen đã lang thang
lên thành phố Copenhaghen, đóng những vai kịch tầm thường, làm quét dọn Cuối cùng nghị lực và tình yêu nghệ thuật đã giúp ông thành công Những câu chuyện của ông mãi mãi tồn tại trong tâm trí độc giả, mang lại cho trẻ thơ niềm hạnh phúc, thắp lên những ước mơ đẹp
Walt Disney là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo, cha nghiện
rượu, bài bạc Sáu tuổi đã phải ra đồng làm việc Mê vẽ nhưng vì không có tiền nên ông dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh Sau này cái tên W Disney đã trở nên nổi tiếng thế giới với những bộ phim hoạt hình đỉnh cao.
Tiến sĩ Trần Vinh Dự (sinh năm 1977) hiện là Chủ tịch trường CĐ Nghề
Việt Mỹ (VATC) và Chủ tịch trung tâm quốc tế của ĐG Broward College (Mỹ) tại Việt Nam, là một người ham viết lách từ nhỏ, viết tiểu thuyết và làm thơ Tiểu thuyết và thơ chưa bao giờ được đăng Nhưng niềm yêu thích viết lách thì ngày một lớn Cuối cùng, anh trở thành một nhà phân tích và bình luận về kinh tế và
12