Một thực tế nữa trong một số gia đình và một vài cá nhân đang lưu giữ vănbản chữ Nôm Tày lại không thể đọc được nội dung của các văn bản đó vì thế mà họ không biết được giá trị của chữ N
Trang 1I Tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ”
II Chủ đầu tư: Giáo viên
III Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khoa học xã hội & hành vi
IV Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2018-2019 sáng kiến được áp dụng
lần đầu, tiếp tục được rút kinh nghiệm và áp dụng vào năm học 2019-2020 tạiTrường THPT
V Mô tả bản chất sáng kiến:
1 Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến:
*) Thực trạng ban đầu:
Chữ Nôm Tày là tinh hoa văn hoá vô cùng thiêng liêng và cao quý mà các thế
hệ cha ông người Tày đã sáng tạo Loại văn bản này, đã góp phần điểm tô, làmgiàu, làm đẹp thêm truyền thống văn hoá, ngôn ngữ của dân tộc Tày trong suốt vàithập kỷ qua, nhưng hiện nay đang có nguy cơ bị lãng quên và mai một Chính vìthế, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị của văn bản chữ Nôm Tày là một việclàm cấp bách và vô cùng cần thiết được tính theo từng ngày và từng giờ Bởi, theodòng thời gian, hệ thống chữ viết này đã dần bị đặt ra ngoài luồng nhận thức phổthông Ngày nay, con cháu người Tày không còn ai quan tâm gìn giữ, số lượngngười có thể đọc - hiểu chữ Nôm Tày ngày càng thưa dần Điều đó, đồng nghĩavới việc tất cả những di sản, những thông điệp mà người xưa gửi gắm lại đang bịđặt trong tình trạng khó tiếp cận và khó nghiên cứu, giới trẻ người Tày đang vôtình đánh mất kho tàng vô giá mà cha ông để lại
Đứng trước một thực tế hiện nay, các cụ biết chữ Nôm Tày tuổi ngày một cao,sức ngày một yếu, tuy rất muốn truyền dạy cho các thế hệ con cháu nhưng điềukiện lại không cho phép Tôi tự hỏi: “Thế hệ các cụ không còn, thì chữ Nôm Tày
sẽ đi về đâu?” Khi mà giới trẻ chỉ đổ xô đi học các thứ tiếng của dân tộc lớn vìtrong thời đại quốc tế hoá, toàn cầu hoá những môn ngoại ngữ này gắn với quyềnlợi và lợi ích thiết thực của họ Còn chữ Nôm Tày lại khó đọc, khó viết và khó nhớ,hơn nữa chưa từng được thể hiện trong nghiên cứu khoa học đương đại nên nó dầntrở nên không hợp thời và bị lãng quên
Một thực tế nữa trong một số gia đình và một vài cá nhân đang lưu giữ vănbản chữ Nôm Tày lại không thể đọc được nội dung của các văn bản đó vì thế mà
họ không biết được giá trị của chữ Nôm Tày, nên họ không trân trọng, gìn giữ mộtcách cẩn thận Theo thời gian những văn bản chữ Nôm đó sẽ bị mối xông, mọt đụchoặc bị vứt
Trang 2Chữ Nôm Tày đã có từ rất lâu đời, tuy nhiên việc bảo tồn và lưu truyền còngặp nhiều khó khăn Trước sự đi lên và phát triển của đất nước một cách nhanhchóng, Cao Bằng đang và sẽ tiếp tục đổi mình cùng với đó là việc chạy xô theo xuhướng hiện đại, sự vô cảm với những truyền thống của dân tộc đặc biệt là nhiềubạn học sinh còn thờ ơ và ít quan tâm đến Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài sáng kiến:
“Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ” Đề tài sáng kiến nhằm nâng
cao hiểu biết cho các bạn học sinh về chữ viết của dân tộc Tày Bồi đắp tình cảm,tình yêu quê hương của học sinh đối với lịch sử, truyền thống văn hóa của các dântộc anh em khác ở Việt Nam nói chung và dân tộc Tày trên quê hương Cao Bằngnói riêng Trong quá trình thực hiện sáng kiến này, tôi đã đã đối mặt với thực trạng:
Cụ thể:
a) Thuận lợi:
- Đối với học sinh: Đa số học sinh trường THPT , phần lớn là con
em dân tộc thiểu số một số học sinh là con em dân tộc kinh nhưng đã sinh sống vàhọc tập lâu năm tại địa bàn tỉnh Cao Bằng, nên ít nhiều có những hiểu biết nhấtđịnh về chữ Nôm Tày
- Đối với phụ huynh: Một số ít phụ huynh học sinh thuộc tầng lớp trí thức họ
đã tham gia vào việc nghiên cứu giá trị và tha thiết bảo lưu văn bản chữNôm Tày
- Đối với giáo viên:
+ Với việc đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay, vai trò của giáo viênkhông còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướnghoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; Các hoạt động ngoại khóatập thể; học trải nghiệm sáng tạo vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện
và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
+ Môi trường Trường học kết nối rất thuận lợi để giáo viên đổi mới trongviệc tuyên truyền quảng bá trên các trang mạng xã hội như facebook, fanpet, zalo… + Nhà trường đã đầu tư khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất về phương tiện
cơ sở vật chất cho tôi trong suốt quá trình làm sáng kiến này
+ Sự phát triển của CNTT, sự hiểu biết của đội ngũ giáo viên của nhàtrường đặc biệt là tổ Ngữ văn trường THPT thành phố đã phối hợp chặt chẽ với tôitrong suốt quá trình làm việc là cơ hội để tôi triển khai tốt việc tuyên truyền
b) Khó khăn:
- Thực tế trước khi áp dụng sáng kiến này tôi đã đối mặt với khó khăn: trongmột số gia đình và một vài cá nhân đang lưu giữ văn bản chữ Nôm Tày lại không
Trang 3thể đọc được nội dung của các văn bản đó Vì họ không biết được giá trị của chữNôm Tày, nên họ chưa có ý thức trân trọng, gìn giữ cẩn thận Theo thời gian,những văn bản đó dần bị mối xông mọt đục Chữ Nôm Tày là loại chữ tượng hìnhđược cấu tạo trên nền tảng chữ Hán Để học được loại chữ này trước tiên phải biếttiếng Tày, sau đó biết chữ Hán thì mới có thể học được chữ Nôm Tày Một loại chữviết phải thông qua hai thứ ngôn ngữ mới có thể đọc và học được nên rất khó và íttạo hứng thú với người học Đa số học sinh không hứng thú với chữ Nôm Tày.
- Trong quá trình thực hiện sáng kiến tôi đã gặp khó khăn về công tác sưutầm vì: số lượng đề tài nghiên cứu về vấn đề chữ viết và văn bản chữ Nôm Tày hầunhư không có, nên nó dần trở nên không hợp thời và bị lãng quên, chưa có sựthống nhất cao về quan điểm giữa người đi trước và người đi sau Quan niệmtruyền thống của dân tộc Tày: Khi người còn sống yêu quý vật gì thì đến lúc chết
sẽ mang theo vật đó, nên rất nhiều văn bản chữ Nôm Tày đã mang đi đốt, theongười chết về thế giới bên kia
- Hiện nay số lượng người biết đọc, phiên âm, chú giải được văn bản chữNôm Tày trong địa bàn tỉnh Cao Bằng ngày càng thưa dần Hòa nhịp với sự pháttriển của Đất Nước, hiện tại Cao Bằng đã trở thành một điểm du lịch trong đó cónội dung bảo tồn chữ Nôm Tày Tổng hợp tất cả các lí do nêu trên đã thôi thúc tôi
triển khai thực hiện sáng kiến : « Nghiên cứu và tuyên truyên những giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường THPT ».
2 Tính mới, tính sáng tạo, hiệu quả:
2.1 Tính mới:
- Sáng kiến: “ Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong một
số văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ”
triển khai thực hiện lần đầu năm học 2018 - 2019 và tiếp tục chỉnh sửa, áp dụngtrong năm học 2019 - 2020
- Sáng kiến không trùng với các sáng kiến được công nhận trước đó
- Sáng kiến được trình bày khoa học, đảm bảo đúng khuôn mẫu chung củasáng kiến kinh nghiệm hiện hành tại tỉnh Cao Bằng
- Để hoàn thành sáng kiến tôi đã thực hiện những hoạt động trải nghiệm:Tổchức buổi diễn đàn Nôm Tày; học hỏi, sưu tầm tài liệu; giao lưu văn nghệ với cácnghệ nhân dân gian Hồng Thắm, Thúy Niêm; Gặp gỡ giao lưu trò chuyện với nhànghiên cứu sách văn hóa dân gian: cụ Dương Sách; Tiến sĩ Ngữ văn - Trưởngphòng quản lí khoa học, sở khoa học và công nghệ: Triệu Thị Kiều Dung
2.2 Tính sáng tạo:
Trang 4- Xác định rõ việc: “Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông
” nhằm nâng cao chất lượng nhận thức cho học sinh về văn bản chữ NômTày Từ đây, khơi lên tình yêu với chữ Nôm Tày trong giới trẻ, bảo tồn giữ gìn bảnsắc văn hóa truyền thống góp phần tôn vinh giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộcTày ở Cao Bằng Đây là việc làm vô cùng ý nghĩa và thiết thực Từ khi tuyêntruyền mỗi cá nhân học sinh trong nhà trường đã được biết đến và hiểu hơn về vănbản chữ Nôm Tày và giá trị của một số tác phẩm Nôm Tày Theo đó, tôi luôn xácđịnh đây là một nhiệm vụ quan trọng để góp phần thực hiện hiệu quả việc tuyêntruyền nâng cao nhận thức cho học sinh trường THPT thành phố nói riêng, vươntới phổ biến rộng rãi cho học sinh trên địa bàn trong tỉnh và các tỉnh miền núi nóichung Tôi đã tiến hành những việc làm cụ thể như sau: Lập kế hoạch nghiên cứu,sưu tầm như thành lập nhóm thu thập các văn bản chữ Nôm Tày vẫn còn lưutruyền trong địa bàn cư dân người Tày ở Cao Bằng Thành lập câu lạc bộ tuyêntruyền về việc nâng cao ý thức bảo vệ các văn bản Nôm Tày Tìm hiểu và tuyêntruyền cho mọi người biết được giá trị của chữ Nôm Tày qua trang mạng xã hộinhư: Zalo, Facebook Tổ chức các buổi diễn đàn, trò chuyện với chuyên gia vềchữ Nôm Tày Giới thiệu chữ Nôm Tày trên truyền hình, trong các giờ học ngoạikhóa
Hoạt động của câu lạc bộ
Trang 5Một số hoạt động của fanpage
Diễn đàn Nôm Tày quá khứ hiện tại và tương lai
- Để thực hiện được những mục tiêu trên chúng tôi đã tiến hành các phươngpháp nghiên cứu: Phân tích, dùng số liệu, thống kê, kí hiệu các đề mục,phiếu khảo sát, điều tra, tổng hợp…
+ Nội dung khảo sát: Phát phiếu điều tra về việc tìm kiếm các nguồn thông tin vềchữ Nôm Tày tại Cao Bằng của các bạn học sinh
Trang 6PHIẾU ĐIỀU TRA Ý THỨC TÌM HIỂU NÉT ĐẸP CỦA CHỮ NÔM
TÀY TẠI CAO BẰNG Lớp :
- Kết quả khảo sát:
Số học sinh tìm kiếm thông tin về Nôm Tày
MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA NHẬN THỨC
Số học sinh có ý thức bảo tồn và quảng bá giá trị nhân văn trong một số
văn bản Nôm Tày.
Trang 7Nếu được tuyên
- Tôi đã tham khảo các nguồn tài liệu sau đây để hoàn thành sáng kiến:
+ Sách “Nhận diện giá trị các văn bản chữ Nôm Tày ở Cao Bằng” Tiến sĩ Triệu
Thị Kiều Dung chủ biên NXB Khoa học Hà Nội - 2017
+ “Tổng tập Truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số” (tập 2,3,4,5,6,7) Hoàng Triều
Ân - Hoàng Phương Mai - Trần Thu Hường - Nguyễn Văn Tuân dịch chú, HoàngTriều Ân và Lưu Đình Tăng hiệu chính NXB Khoa học Xã hội
+ “Giáo nam - Giáo nữ”, TS Triệu Thị Kiều Dung sưu tầm và biên dịch
+ “Tăng Quảng - Hiền Văn”, TS Triệu Thị Kiều Dung sưu tầm và biên dịch
+ “Chữ Nôm Tày và Truyện thơ”, Hoàng Triều Ân chủ biên NXB: Văn Học và
Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học
+ “Bảo tồn chữ Nôm Tày của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn” - Báo Chữ Nôm Việt Nam; “Lận đận số phận Slư Nam người Tày” - Báo Công an nhân dân điện tử.;
“Chữ Nôm Tày trong dòng chảy thời gian” - Báo Dân tộc
+ “Chữ Nôm Tày chuyển tải tinh hoa tâm hồn Tày từ ngàn xưa” - Báo Cao Bằng
Trang 8- Học sinh đã có ý thức tự giác tìm kiếm nguồn tài liệu học tập trên thư việntỉnh, thư viện trường, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Internet,…
- Nhiều chi đoàn đã tự tổ chức các chuyến tham quan thực tế để tìm hiểu vềgiao lưu, trò chuyện với một số chuyên gia nghiên cứu chữ Nôm Tày như nhànghiên cứu Dương Sách và Tiến sĩ Triệu Thị Kiều Dung
- Nhiều bạn đã chia sẻ fanpage, đưa nội dung trên fanpage chia sẻ cùng mọingười để nhiều người hơn nữa biết đến chữ Nôm Tày
- Học sinh đã trải nghiệm đứng trước đám đông bình thơ, kể chuyện vềnhững tác phẩm Nôm Tày
* Về hành vi:
- Đa số học sinh đã nhận thức được tầm quan trọng của chữ Nôm Tày Họcsinh trong trường đã nêu cao việc học tập tìm hiểu giá trị của văn bản Nôm Tày.Học sinh đã rất ý thức tham gia xây dựng trường trung học phổ thông Thành phốbiết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đa số các bạn học sinh tuyêntruyền, quảng bá giá trị nhân văn của văn bản chữ Nôm Tày qua: Trang mạng xãhội facebook,zalo; Học sinh đã tích cực tham gia những hoạt động của câu lạc bộNôm Tày Học sinh đã có những hành động, những việc làm cụ thể nhằm giữ gìn
và bảo tồn giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày
- Về vai trò, ảnh hưởng: Học sinh THPT có thêm kiến thức vềvăn hóa dân tộc địa phương mình Góp phần bồi đắp nhân cách cho thế hệ trẻ, giúpcác bạn sống có trách nhiệm với gia đình, quê hương, phấn đấu trở thành người cóích cho xã hội Đề tài bước đầu nêu ra những ý kiến, một số biện pháp và cách thứcmới trong việc truyền bá chữ Nôm của người Tày đến với giới trẻ, đặc biệt là cácbạn học sinh Trường THPT Góp phần giáo dục học sinh có ý thứcquảng bá, bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc
- Việc “Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ” được thực
hiện nghiêm túc hiệu quả giải quyết những vấn đề cấp thiết của văn hóa phi vậtthể của cha ông, bồi đắp ý thức tìm hiểu, yêu thích cho thầy trò trường THPT thànhphố nói riêng và người dân Cao Bằng nói chung… Điều đó, đã góp phần dần hìnhthành một lớp người cũng như học sinh tham gia nêu cao tinh thần trách nhiệm,tăng cường sự hiểu biết cũng như phát huy tinh thần trân trọng những giá trị vănhóa phi vật thể của cha ông đồng thời có thêm những kỹ năng, kinh nghiệm tronglĩnh vực tìm hiểu và tuyên truyền những vấn đề khoa học có giá trị Từ đó góp
Trang 9phần bồi đắp tình cảm yêu mến và góp phần nâng cao ý thức phát huy giá trị vănhóa phi vật thể của cha ông.
- Thực tế cho thấy, đa số học sinh rất hứng thú với hoạt động nghiên cứu vàtuyên truyền giá trị nhân văn trong một số văn bản Nôm Tày Một số học sinh đãbiết đến cái hay, cái đẹp của một số văn bản Nôm Tày Số lượng học sinh biết đếnNôm Tày đã tăng lên đáng kể Qua việc nghiên cứu và tuyên truyên giá trị nhânvăn trong một số văn bản Nôm Tày giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc và toàn diệnhơn về giá trị văn hóa phi vật thể của cha ông Từ đó có ý thức trách nhiệm để lưugiữ và phát huy thêm bản sắc của dân tộc mình
- Dạy cho học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể qua nhiều hìnhthức: Thi bình về các tác phẩm Nôm Tày; Thi kể chuyện; Xây dựng câu lạc bộNôm Tày; sưu tầm tư liệu; Làm tờ rơi tuyên truyền; Sinh hoạt tập thể trong giờsinh hoạt 15p đầu giờ; sinh hoạt cuối tuần; Trong những buổi học hoạt động ngoàigiờ lên lớp; Ngoại khóa; Giao lưu trò chuyện cùng các chuyên gia về Nôm Tàytrên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Điều tra nhận thức, hiểu biết của học sinh trường THPT về nétđẹp của chữ Nôm Tày
- Tổ chức các cuộc thi, trò chơi nhằm tăng sự hiểu biết và cho thấy sức thú
vị của chữ Nôm Tày
- Lập fanpage “Nôm Tày: Quá khứ - Hiện tại và Tương lai” để quảng bá chohọc sinh tham gia tìm hiểu, đóng góp nâng cao ý thức giữ gìn bảo tồn và phát huychữ Nôm Tày
- Làm tăng thêm hiểu biết về lịch sử địa phương, để đổi mới thêm việc dạyhọc chữ Nôm Tày thông qua các bài học về lịch sử địa phương, mang di sản vănhóa địa phương vào trong chương trình giáo dục trung học
Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạyhọc tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng họcđược vào các tình huống thực tế, hoạt động học trải nghiệm sáng tạo có ích chocuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lựcsống tự lập
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những nănglực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trongcuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo
Các trí thức Tày xưa đã ghi lại những giá trị tinh thần cao quý được sàng lọc
và kết tinh từ ngàn năm về các phương diện: phong tục tập quán, văn học dân gian,văn học thành văn, thơ ca trữ tình, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, đấu
Trang 10tranh giữ nước,… Và phương tiện “thần diệu” nhất của người Tày ta kể từ đầu thế
kỷ XX trở về trước để chuyển tải những tinh hoa văn hóa cho đời sau - đó là chữNôm Tày Có thể nói rằng, chữ Nôm Tày là một bảo bối tinh thần thiêng liêng củacha ông để lại cho chúng ta hôm nay
Từ nhận thức như vậy về giá trị chữ Nôm Tày trong cuộc sống của dân tộcTày, tôi thấy một thực trạng đáng lo ngại là số người biết chữ Nôm Tày ở CaoBằng còn rất ít
Nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy những nguyên nhân dẫn đếnthực trạng này là:
- Thực tế hiện nay, trong một số gia đình và một vài cá nhân đang lưu giữ vănbản chữ Nôm Tày lại không thể đọc được nội dung của các văn bản đó Vì họ khôngbiết được giá trị được giá trị của chữ Nôm Tày, nên họ chưa có ý thức trân trọng, gìngiữ cẩn thận Theo thời gian, những văn bản đó dần bị mối xông mọt đục
- Chữ Nôm Tày là loại chữ tượng hình được cấu tạo trên nền tảng chữ Hán
Để học được loại chữ này trước tiên phải biết tiếng Tày, sau đó biết chữ Hán thìmới có thể học được chữ Nôm Tày Một loại chữ viết phải thông qua hai thứ ngônngữ mới có thể đọc và học được nên rất khó và ít tạo hứng thú với người học
- Trong nghiên cứu khoa học đương đại, số lượng đề tài nghiên cứu về vấn
đề chữ viết và văn bản chữ Nôm Tày hầu như không có, nên nó dần trở nên khônghợp thời và bị lãng quên
- Trong quan niệm truyền thống của dân tộc Tày: Khi người còn sống yêuquý vật gì thì đến lúc chết sẽ mang theo vật đó, nên rất nhiều văn bản chữ NômTày đã mang đi đốt, theo người chết về thế giới bên kia
- Hiện nay số lượng người đọc, phiên âm, chú giải được văn bản chữ NômTày trong địa bàn tỉnh Cao Bằng ngày càng thưa dần
- Ý thức của người trẻ chưa cao Họ còn thờ ơ và chưa thật sự quan tâm đếncác giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc
Tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu giá trị nhân văn trong một số văn bản chữNôm Tày Người viết không chỉ tìm lại những tri thức quý giá cho dân tộc mà còn
có mong muốn truyền đạt quảng bá và đánh thức thế hệ trẻ hôm nay tình yêu, sựtrân trọng, ý thức bảo lưu những di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Tôi tin tưởng rằng, khi đã hiểu sâu sắc giá trị văn hóa của dân tộc nói chung vàcác văn bản chữ Nôm Tày nói riêng, mỗi chúng ta sẽ thấy yêu dân tộc, yêu quêhương mình hơn Từ đó sẽ có ý thức tiếp nối, phát huy truyền thống văn hóa tốtđẹp của cha ông để lại
Trang 11- Với cách “Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ” như vậy
tôi đã đạt được giải Nhì cấp tỉnh với mức điểm cao nhất thuộc lĩnh vực Khoa học
xã hội và hành vi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và đạt giải Nhà tài trợ cấp quốc gia
năm học 2018-2019 (Có giấy quyết định tham gia hướng dẫn, giấy chứng nhận đạt
Nhì cấp tỉnh, giải Nhà tài trợ cấp quốc gia có giấy chứng nhận giải kèm theo ở
phần phụ lục)
Triển khai bám sát tính mới, tính sáng tạo và hiệu quả đã thuyết minh ở trên,nội dung sáng kiến của tôi như sau:
*********************************************
PHIẾU MÔ TẢ DỰ ÁN DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN
Tên sáng kiến: “Nghiên cứu và tuyên truyền những giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày cho học sinh trường Trung học phổ thông ”
GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG MỘT SỐ VĂN BẢN CHỮ NÔM TÀY
Đối với nền văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và dântộc Tày nói riêng, truyện thơ là một thể loại đặc sắc, được các nhà nghiên cứu đánh
giá “Là thể loại phát triển cuối cùng và cũng là đỉnh cao của dân ca Tày” Vì sớm
có chữ viết nên việc ghi chép các tác phẩm truyện Nôm Tày được các Nho sĩ bản tộc
và các thầy đồ miền xuôi, gia công chau chuốt, tạo nên thể loại truyện thơ có giá trịcho tới ngày nay Bản thân người nghiên cứu là người con của dân tộc Tày trênmảnh đất Cao Bằng nên việc tìm hiểu về giá trị nhân văn trong các văn bản chữNôm Tày là điều vô cùng cần thiết, để qua đó góp phần giới thiệu, tôn vinh bản sắcvăn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày
Tiến hành công việc này, tôi không chỉ muốn được trau dồi những tri thức quýgiá cho bản thân mà còn mong muốn truyền đạt, quảng bá và đánh thức trong tâmhồn thế hệ trẻ hôm nay tình yêu, sự trân trọng, ý thức bảo lưu những di sản văn hoáphi vật thể của đồng bào dân tộc Tôi tin tưởng rằng, khi đã hiểu sâu sắc giá trịnhân văn trong các văn bản chữ Nôm Tày nói chung và một số văn bản cụ thể nóiriêng, mỗi bạn trẻ sẽ thấy yêu quê hương mình hơn, từ đó sẽ có ý thức tiếp nối,phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông để lại
Xuất phát từ niềm tự hào về truyền thống quê hương, từ sự ham hiểu biết về
cội nguồn văn hóa dân tộc, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu về Giá trị nhân văn trong một số văn bản chữ Nôm Tày Do điều kiện thời gian và khả năng hiểu biết về
lĩnh vực này còn hạn hẹp nên trong phần Chương 2 tôi xin phép chỉ dừng lại tìm
Trang 12hiểu ở ba khía cạnh, đó là: Giá trị nhận thức; Giá trị giáo dục; Giá trị thẩm mỹ
được thể hiện trong một số văn bản viết bằng chữ Nôm Tày
I Giá trị nhận thức
Trong di sản văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Cao Bằng,mảng văn bản đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử rất phong phú, cónội dung giáo dục rất cao, góp phần làm phong phú thêm kinh nghiệm ứng xử giữacon người với con người trong gia đình, trong bản làng và trong cộng đồng cư dâncủa dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc anh em khác nói chung Những kinhnghiệm quý báu đó từng được sàng lọc qua nhiều thế hệ ban đầu được lưu truyềntrong dân gian và sau đó được một số nho sĩ yêu chuộng, với tinh thần dân tộc đãghi chép lại, truyền tải đến ngày nay cho các thế hệ con cháu
Đó là mảng kinh nghiệm quý báu đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng
xử qua tri thức thực tiễn của người Tày về mọi mặt của cuộc sống vật chất và tinhthần mà biết bao thế hệ ông cha đã dày công đúc kết trong suốt mấy nghìn nămphát triển lịch sử của dân tộc mình
1 Nhận thức trong văn hóa ứng xử
1.1 Ứng xử trong nếp sinh hoạt thường ngày trong gia đình
Từ xưa tới nay cha ông ta luôn có những câu ca dao, tục ngữ nói về tình cảm
gia đình, cách ứng xử trong gia đình Có thể nói văn hóa ứng xử trong gia đình
luôn là một đề tài được quan tâm và coi trọng Đặc biệt trong các gia đình người
Tày Trong đời sống thường ngày việc đi đứng, nói năng “nết ăn nết ở” trong mỗi
gia đình người Tày đều được chú trọng
Thông thường, trong mỗi gia đình người Tày có nhiều thế hệ như: Ông bà, bố
mẹ, các con, cháu cùng chung sống Vì vậy có những quy định nghiêm ngặt theotôn ty trật tự rõ ràng như:
Trong gia đình bố mẹ, ông bà thường dạy con cháu mình đạo lý làm người,kính trên nhường dưới, nói năng lễ độ Con cái phải ngoan ngoãn, không cãi lời cha
mẹ, kính trọng ông bà, anh chị em biết thương yêu nhường nhịn nhau, biết quan tâmtới các thành viên trong gia đình, biết các phép tắc cơ bản trong ứng xử, chẳng hạnnhư: khi nhà có khách thì không được nói to, không được khóc…vì thế là khôngngoan, không tôn trọng khách Khi ăn cơm không được gõ bát, ăn xong không đượcgác đũa ngang miệng bát, không được lấy đũa cả gõ lên miệng nồi khi nấu cơm,không được cười đùa trong lúc ăn… cha mẹ, ông bà còn giáo dục con cháu mìnhphải biết quan hệ tốt với làng xóm, biết về nguồn gốc tổ tiên, truyền thống văn hoá,các tập tục lễ nghi hay quy ước của dòng họ, cộng đồng làng bản, vì thế mà khi lớnlên, đứa trẻ đó sẽ làm tròn nghĩa vụ với gia đình, cộng đồng và xã hội
Trang 13Người Tày rất chú trọng việc giáo dục ý thức cho con mình, trước hết họ giáodục cho con cái học những điều căn bản nhất của đạo làm người :
“Nhình giài giú thực sự chính chuyên.
Tua gần giú hạ khiên tu thế Nhình giài mì lệ nghĩa nghiêm trang Tua gần giá au sang hất trọng
Giú đảy vỉ, đảy noong giẳng vần Dẳng giử gạ tua gần sinh thế”
Dịch thơ:
“Gái trai ăn ở chính chuyên Con người đẹp đẽ nét duyên ở đời Giái trai giữ nghĩa nghiêm trang Đừng có lấy giàu sang làm trọng Được lòng anh em hết thảy Mới là người trong cõi nhân sinh”
(Giáo nam - Giáo nữ)
Từ ngàn xưa, trong việc dạy dỗ cổ nhân không ước vọng giàu sang phú quý
mà chỉ mong con cháu biết ứng xử, sống trung thực, thẳng ngay, biết trân trọng giátrị đích thực của cuộc sống quanh mình Bởi vậy, các bé trai từ 3- 7 tuổi đã được
cha mẹ cho đi chăn vịt, chăn trâu “slam pi hen pết, chết pi hen vài” Khi 10 -13
tuổi có thể theo cha, anh ra ruộng tập bừa Đối với con gái bà và mẹ dạy cho concháu mình biết nội trợ: lấy rau, nấu cơm, giặt quần áo, cho lợn, cho gà ăn, trôngem… Khi lớn hơn một chút các em sẽ học được cách trồng bông dệt vải, khâu vá,thêu thùa, quay sợi, lên nương, chọc lỗ tra hạt, thu hoạch mùa vụ Đứa bé Tày nào
cũng thuộc câu: “mà kin khẩu đuổi a, mà hốm pà lài đáy” (về ăn cơm với cô, về
đắp chăn hoa kẻ) Con gái không biết dệt chẳng những bị chê cười mà còn rất khó
lấy chồng Châm ngôn Tày có câu: “nộc cất tuấy cằn nà doải doải, mẻ nhình bấu chắc hết phải pền hên” (bìm bịp bước rề rề trên bờ ruộng, đàn bà không biết dệt
vải là giống con cáo) đã phần nào chứng tỏ điều đó Trẻ em Tày từ 10-13 tuổi trở
đi bắt đầu thuộc những bài hát đối giao duyên như: các làn điệu: “lượn”, “sli ” Và
vài năm sau họ có thể lấy vợ lấy chồng…
Bên cạnh đó, mối quan hệ ứng xử giữa anh chị em ruột trong nhà cũng luôn
được đề cao: “Anh em như chân, như tay Như chim liền cánh, như cây liền cành”,
“Em thuận, anh hòa là nhà có phúc” Mối quan hệ máu mủ ấy không gì có thể
Trang 14sánh bằng, không gì có thể chia cắt Bởi vậy mà mối quan hệ trong gia đình ngườiTày luôn được đề cao và coi trọng:
"Gia phú tiểu nhi kiêu Lợi dao cát thể hận dị hợp Ác thoại thương nhân hận bất tiêu"
(Gia đình giàu sang con cái kiêu Dao sắc cắt thịt sẹo dễ liền Lời độc hại người, hận khó tiêu)
(Tăng quảng hiền văn)
Ông bà, cha mẹ chính là tấm gương sáng cho con cháu về ứng xử với những người xung quanh, dòng họ và làng bản Ngược lại, con cái cũng phải có trách nhiệm với người sinh thành ra mình Khi cha mẹ còn sống con cái phải quan tâm,
chăm sóc cho cha mẹ Người Tày ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cótục làm lễ sinh nhật cho cha mẹ hay nói cách khác là làm lễ mừng sự sống, mongkéo dài sự sống cho người cao tuổi Theo quan niệm của người Tày, những ngườisống qua tuổi 49 trở đi được gọi là người có phúc, bởi ở tuổi 49, người ta thường bị
ốm đau, tai nạn hay gặp vận hạn khó mà qua khỏi Vì vậy đối với người đàn ôngtuổi 49, gia đình thường tổ chức làm lễ mừng phúc (sí cẩu)
Đến dịp mừng thọ, bạn bè gần xa, con cháu đến nhà để chúc thọ, nếu là kháchmời thì họ thường đem theo một đôi câu đối bằng vải đỏ, viết mực đỏ bằng chữHán hoặc chữn Nôm Tày: Phúc; Thọ; Khang; Ninh.Thầy cúng được mời đến đểlàm lễ vẩn khẩu lường (tức là chuyển lộc chúc thọ) Thầy cúng ngồi bên mâm cúnghát bài chúc thọ; con cái ngồi thành một vòng tròn quanh một chiếc dậu dán giấy
đỏ theo thứ tự từ con cả đến con út Con cả lấy một chiếc bát xúc từng bát gạo từmột chiếc dậu đựng gạo, chuyền qua tay những người em tiếp theo, người cuốicùng để bát gạo vào chiếc dậu dán giấy Cứ như thế đến khi thầy cúng hát xong bài
chúc thọ thì ngừng tay Nếu số gạo “vẩn khẩu lường” được càng nhiều tức là lộc
cho người cha được chúc thọ càng lớn, càng khoẻ mạnh, sống lâu Sau khi làm lễxong, gia đình, họ hàng, bạn bè cùng ăn cơm để mừng Không khí buổi lễ mừngthọ rất ấm cúng, chan chứa tình thương yêu, sự kính trọng và niềm phấn khởi
Có thể nói, ứng xử văn hóa trong gia đình chính là nét đẹp lâu đời, một nétđẹp truyền thống của dân tộc Tày: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêuthương và hy sinh cho con cái, tôn trọng và hiếu đễ với cha mẹ, anh em Nhiều giađình luôn biết cách tạo dựng, giữ gìn những nét văn hóa ứng xử ấy tạo nên nề nếpgia phong
1.2 Ứng xử ngoài xã hội
Văn bản Nôm Tày xuất hiện và ghi chép văn chương, còn trong đời sống hàngngày, tiếng Tày giữ địa vị là phương tiện giao tiếp phổ biến Đó là lời cha ông nói
Trang 15với con cháu, là hàng xóm nói với láng giềng, là lời nam thanh hát đối với nữ túqua những câu sli tiếng lượn (làn điệu dân ca của người Tày) như:
“Tính vuồn tính khát sai tả coóc Mèng vuồn mèng hăn bioóc dạn tom Cáy vuồn cáy hăn non dạn khuế Lủc vuồn lủc hăn mẻ dạn giăng Nghĩa vuồn nghĩa hăn căn dạn phuối ”
Dịch thơ:
“Đàn tính buồn, đàn tính đứt dây Ong buồn hoa nở ong bay chẳng vờn
Gà buồn lười bới sâu ăn Con buồn thấy mẹ ngại ngần dạ thưa Người buồn gặp nghĩa thờ ơ
Lời sao ngại nói biết chờ đợi chi”
Trong mối quan hệ ngoài xã hội, cổ nhân cũng luôn dạy dỗ chúng ta phải biết
ứng xử “kính trên, nhường dưới” biết kính trọng và quý trọng nhân cách của con
người Trong một số văn bản Nôm Tày tư tưởng nhân đạo, coi trọng con người, đềcao giá trị con người trở thành tư tưởng nổi bật:
“Tua cần hơn ngần chèn (Con người hơn tiền bạc)” Con người được coi là
tinh hoa của trời đất
Cụ thể hơn nữa, người nam giới và người nữ giới được so sánh với những giátrị cao nhất như vàng, bạc:
“Cần chài tự va kim, Cần nhình tự bjoóc ngần (Nam tựa hoa vàng, Nữ tựa hoa bạc).”
Trong tiến trình lịch sử bảo vệ và phát triển dân tộc, người Tày không ngừngvật lộn dai dẳng với tự nhiên khắc nghiệt và chống chọi quyết liệt với loài ác thú
và với giai cấp thống trị Họ ý thức được sức mạnh của lực lượng cộng đồng:
“Lai cần chượng lai cần lẻ loọc, Cò đoỏc chượng cò đoọc lẻ thai” (Nhiều
người nuôi nhiều người thì sống, Độc thân nuôi độc thân thì chết)
Nhu cầu về sự sống, về đời sống đòi hỏi hơn bao giờ con người phải gắn liềnvới cộng đồng Cộng đồng ở đây trước hết là những người trong cùng một huyếtthống, cùng một dòng họ Từ cơ sở đó sản sinh quan niệm tốt đẹp về làng xóm lánggiếng cùng cảnh ngộ
Trang 16“Lầy cà tốc tâừ, Phỉ noọng tốc tỉ (Mái gianh ở đâu, Anh em ở đó)”
Cũng giống như ở người Kinh dưới đồng bằng có quan niệm: “Bán anh em xa mua láng giếng gần” thì ở người Tày rất quý trọng bà con hàng xóm láng giềng.
“Slíp pỉ noọng tàng quây, Bấu táy hua đuây tò tó”
(Mười anh em đường xa, Không bằng người ở sát đầu cầu thang)
Để giữ vững tình thân ái giữa hàng xóm láng giềng, người Tày luôn luôn nhắcnhở nhau nêu cao đức tính thật thà trong ăn ở:
“Kin ngay phuối khát (Ăn ngay nói thật)”
Không thể sống lá mặt lá trái, dù cá nhân có sắc sảo tài ba đến đâu:
“Khêm bấu sliểm sloong thua (Kim không nhọn hai đầu)’’
Chính đó cũng được coi là bản lĩnh quan trọng của con người
Đồng thời lại phải sống sao cho cao thượng, kiên quyết không bao giờ làmđiều xấu xa để rơi xuống vũng bùn tội lỗi:
“Nhẳn slưa quà, Bấu nhẳn đa đát (Thà chịu hổ vồ, Chứ không chịu điên đảo)”
Về cách cư xử đối với làng xóm, không phải bao giờ trong cuộc sống của conngười cũng được về phần mình tất cả mọi cái đẹp mỹ mãn, lẽ thường tình giốngnhư dòng sông bên lở bên bồi, con người có được có mất, có đầy có vơi, cho nêntrong lời ăn, tiếng nói hàng ngày, đồng bào dân tộc Tày đã đưa ra một nguyên tắcnhân sinh:
“Bảng nặm bá bố đảy têm (Ống nước đổ không bốc lại được đầy)”
Ở đây có thể nói, dựa vào nhau để sống còn, nhường nhịn để chan hòa, đồngthời cũng là để cho công cuộc sản xuất và đấu tranh đạt đến thắng lợi Đó là cơ sởthen chốt để cho người Tày đề cao giá trị con người với những phẩm hạnh mà nócần phải có Đó cũng chính là kinh nghiệm lịch sử - xã hội lớn nhất, căn bản nhất
sáng ngời lên từ lời ăn, tiếng nói hàng ngày của đồng bào dân tộc Tày Cao Bằng nói riêng và cộng đồng người Tày ở khắp Việt Nam nói chung.
2 Nhận thức trong lao động sản xuất
Văn bản Nôm Tày về lĩnh vực này, được coi như một kho báu kinh nghiệm về
dự đoán thời tiết, kỹ thuật canh tác, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó làmruộng trồng lúa nước dưới thung lũng và đồng thời làm nương rẫy trồng hoa màu
Để trồng trọt và hái lượm có kết quả chắc chắn người lao động Tày cần phải thuầnthục canh tác, biết sản xuất và thu hoạch theo mùa, biết chọn đất và chọn giống tốt.Việc chăn nuôi cũng phải thành thạo Xét cho cùng trong hoàn cảnh quá khứ vớiđiều kiện sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, đất đai ở cùng núi
Trang 17phần lớn còn hoang dại, con người chịu ảnh hưởng nặng nề thậm chí phụ thuộcnhiều vào thiên nhiên, thì sức lao động của con người bỏ ra nhiều không biết baonhiêu mà kể Họ phải làm ăn vô cùng gian khổ, phải có những đức tính cần cù, bền
bỉ và kiên cường thì mới có thể sáng tạo ra được những giá trị cần thiết cho đờisống của mình Thực tiễn lao động sản xuất từ mấy nghìn năm trước để sống, tựutrung căn bản vẫn là vấn đề hạt thóc hạt gạo nuôi sống con người Điều này đượccộng đồng người Tày đúc kết lại vô cùng sâu sắc:
Mặt khẩu cẩu mặt thứa (nghĩa là: Một hạt gạo chín hạt mồ hôi)
Hay trong những phương diện quan trọng như:
- Kinh nghiệm Dự báo thời tiết:
Từ việc nhìn da trời mà có được hiểu biết:
Phạ lài pya lẻ phân, Phạ lài bân lẻ đét (Trời vằn vẩy cá thì mưa, Trời vằn da
hổ thì nắng)
Đến việc nghe tiếng sấm cũng rút ra kinh nghiệm:
Phạ đăng cón bấu luổn phân (Trời sấm trước không hay mưa)
Hay căn cứ vào quầng trời mà đoán định thời tiết nhằm đề phòng thiên tai xảy ra:
Quằng lếch noòng, Quằng tồng loọng (Quầng sắt lũ lụt, Quầng đồng hạn hán)
- Kinh nghiệm thời vụ canh tác:
Từ việc quan sát quả dâu da mà cày cấy cho đúng thời vụ:
Mác phầy ốt rù đang ván chả, Mác phầy cắm ham mạ nẳm nà
(Quả dâu da vừa lỗ mũi thì gieo mạ, Quả dâu da tím như dái ngựa thì cấy).
Đến việc nhà nông phải làm cho phù hợp với từng tháng:
Bươn chiêng hắp phai lỉ, Bươn nhỉ hắp phai nà (Tháng giêng đắp phai cá, Tháng hai đắp phai ruộng)
- Kinh nghiệm chọn đất cấy trồng:
Đin đăm qua pheng, Đinh đeng khẩu lẩy (Đất đen trồng dưa gang dưa bở, Đất đỏ cấy lúa nương)
Tôm đây đăm phải, Tôm slại đăm thúo nhài (Đất tốt trồng bông, Đất xấu gieo
đỗ nhò nhè)
- Kinh nghiệm chọn giống má
Muối mảc hất phằn, Muối pằn hất vẻ (Hạt chắc làm giống, Hạt mẩy làm má)
- Kinh nghiệm sử dụng con đại gia súc cho thích hợp với canh tác
Trang 18Vài tậc thây nà dẻ, vài mẻ thân nà pài (Trâu đực cày ruộng dầm, Trâu cái cày ruộng cao)
- Kinh nghiệm mua trâu bò của người nông dân miền núi xưa:
Nắm slự mò khẻo lài, Nắm slự vài khẻo phước (Chớ mua bò răng vằn, Đừng mua trâu răng trắng)”
Phong phú, khái quát, tinh tế là những nét đặc trưng của văn bản Nôm Tày vềkinh nghiệm sống Bởi thế ở mỗi địa phương người Tày đều có thành ngữ, tục ngữ,
ca dao phản ánh sự đúc kết kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh chống thiên nhiên
và chống bất công xã hội Tiếng Tày đã trở thành phương tiện lưu truyền một khotàng văn học dân gian phong phú bao gồm: truyện cổ tích, thần thoại và vốn thi ca
cổ truyền gồm: dân ca trữ tình, thơ ca đám cưới, hát ru, văn cúng bái, văn thankhông biết được sáng tác từ bao giờ Nội dung chủ yếu của những câu chuyện đónhằm giải thích vũ trụ, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc, nêu lên lòngchính nghĩa, ghét gian tà, tinh thần đấu tranh chống lực lượng siêu nhiên thần kỳ,chống cường quyền ác bá, đấu tranh để giữ trọn vẹn mối tình chung thuỷ lứa đôi,bạn bè, đấu tranh chống ngoại xâm, truyền thống đoàn kết dân tộc,… Lúc đầuđược lưu truyền từ người này sang người khác bằng phương thức truyền miệng, vềsau một số bài được ghi chép bằng chữ Nôm Tày và chữ Tày la tinh
Qua những văn bản Nôm Tày, chúng ta còn hiểu thêm về nếp sống trongphong tục truyền thống văn hoá của người Tày như: Trong đời sống văn hoá tâmlinh, người Tày thờ cúng tổ tiên và các vị thần như: Thần Thổ địa, Thần Nôngnghiệp (bảo vệ mùa màng)…Vì thế trong mỗi gia đình người Tày bao giờ cũng cóbàn thờ để thờ cúng Tổ tiên và các vị thần linh đó Những ngày mùng một hoặcngày rằm hàng tháng họ cũng thắp hương cầu nguyện để được tổ tiên và các vịthần phù hộ độ trì, và cầu cho mỗi người trong gia đình đều được khoẻ mạnh, mọiđiều tốt lành… Hay đối với ngày Tết Nguyên Đán, không khí đón Tết của ngườiTày cũng diễn ra giống như một số dân tộc khác ở Việt Nam và dân tộc Choang ởQuảng Tây - Trung Quốc Những ngày giáp Tết họ cũng dọn dẹp nhà cửa cho sạch
sẽ, trang hoàng, cũng dán câu đối ở ngoài cửa Cũng đi chợ mua sắm hoa quả, bánhkẹo, rượu thịt… Hầu như nhà nào cũng tự gói bánh Chưng - một loại bánh khôngthể thiếu trong ngày Tết đối với các gia đình người Tày nói riêng và trong các giađình dân tộc Việt nói chung Nhưng nét độc đáo và mang giá trị truyền thống vănhoá sâu sắc hơn cả mà cho đến ngày nay trong xã hội hiện đại, vẫn còn được gìngiữ như một nét văn hoá ứng xử rất đẹp trong đời sống của gia đình người Tày đólà: Con gái Tày đã lấy chồng hằng năm mùng hai Tết đều về nhà thăm gia đình vàTết lễ bố mẹ (người Tày gọi đó là tục pây Tái) Lễ của con gái mang về biếu bố mẹbao giời cũng là một đôi gà sống thiến, một đôi bánh trưng, hoa quả bánh kẹo…Trong quan niệm của Người Tày: Bố mẹ đã sinh thành ra chúng ta, nuôi dưỡng
Trang 19chúng ta trưởng thành, vì thế hằng năm để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người
đã sinh thành, nuôi dưỡng chúng ta nên bao giờ người con gái đi lấy chồng rồicũng trở về ăn một bữa cơm đoàn viên với gia đình
II Giá trị giáo dục
Bản thân tôi là người dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên quê hương Cao Bằnggiàu truyền thống văn hoá Từ thuở nằm trong nôi, những làn điệu dân ca dân tộctrong đó có các Then Tày đã dìu em vào giấc ngủ qua những lời ru ngọt ngào, êm
ái của bà, của mẹ Hay, vào những buổi tối, trong một nhà sàn, hoặc dưới ánhtrăng, bên đống lửa, tất cả già trẻ, trai gái, quây quần lắng nghe các cụ kể chuyệnbằng thơ Tuỳ vào không gian cụ thể, vùng miền cụ thể, tâm trạng cụ thể màchuyện cứ được thêm bớt, gọt giũa, lưu truyền… Không chỉ có vậy mà, quy luậtcuộc sống xưa và nếp sống ngày nay của đồng bào dân tộc Tày được giải thích mộtcách giản dị mà vô cùng lý thú trong những pho truyện viết bằng chữ Nôm Tày.Qua tìm hiểu tôi nhận thấy rằng, giá trị đúc kết trong các văn bản Nôm Tày rất gầngũi với mọi người đặc biệt đó là tình yêu thương con người Chính sự giản dị, hồnnhiên đó đã khiến tình yêu gia đình, quê hương, yêu truyền thông văn hóa dân tộcđược đúc kết lại một cách dung dị, tự nhiên, đẹp đẽ khác thường
1 Tình yêu gia đình
Cũng giống như các dân tộc khác, ngay từ nhỏ trong mỗi gia đình người Tày
đã giáo dục con cái của mình biết yêu thương, đùm bọc, nhường nhịn lẫn nhau.Điều đó đã được ông cha dân tộc Tày đúc kết trong các pho truyện thơ, trong lời ăn
tiếng nói hằng ngày: “Tốc tẩư mạy lẻ thai, tốc tâử gàn slon quai mừa nả” (Nghĩa
là: rơi dưới cây thì chết, rơi dưới người học khôn mai sau)
1.1 Tình yêu của con cái dành cho cha mẹ
Chữ hiếu và tình yêu gia đình luôn được đề cập hàng đầu trong các văn bản
Nôm Tày nhất là đối với các tác phẩm mang tính giáo dục cao như: “Giáo nam Giáo nữ”, “Pác Dảo”, “Tăng Quảng - Hiền Văn”,… Trước hết là bổn phận của
-người làm con trong gia đình phải hiếu thuận với cha mẹ ông bà vì họ là nhữngngười đã có công sinh thành, nuôi dưỡng con cái nên người
“Chứ pửa xưa nhằng nọi nhằng eng
Pỏ mẻ liệng thuổn rèng slon hẩư Bưởng rằm mẻ dú bưởng hâư lục nòn”
Dịch thơ:
“Nhớ khi xưa còn dại còn non Cha mẹ nuôi hết công dạy dỗ
Trang 20Phía ướt mẹ chịu phía khô con nằm”
(Trích Pác Dảo)
Mẹ cha chịu muôn phần khó nhọc, vất vả những mong đem lại cho con những
gì tốt đẹp Vì thế, đạo làm con đối với cha mẹ phải hiếu thảo, đối với tổ tông phải
thờ cúng Trong “Giáo nam - Giáo nữ”, bổn phận và trách nhiệm của người làm
con cũng được coi trọng, ở ngay những câu mở đầu của tác phẩm có viết:
“Thứ nhất kính vỏ mẻ soong Thân ái Tái soong dẳng kính thâng ngoại noỏc”
Dịch thơ:
“Thứ nhất kính song thân phụ mẫu Thứ hai đến thân gia ngoại tộc”
1.2 Tình yêu của cha mẹ dành cho con cái
Ngoài việc răn dạy đạo làm con, người Tày cũng chú trọng đến việc giáo dụccác bậc cha mẹ Người ta có thể chọn vợ, chọn chồng chứ ai nào chọn được bố mẹ
và con cái của mình Con người ta sinh ra nếu không được dạy dỗ, bảo ban, khôngđược học hành thì sẽ ngu muội, nói năng ngang ngược làm xấu mặt bố mẹ, xấu bảnlàng, thôn xóm Là người làm cha, làm mẹ phải biết nuôi dạy con cái cho con khônlớn thành người
“Đoạn này dáo pỏ mé dú an Liệng lục nâng lai tàng mong cậy Lục cải pây rộp slấy Khổng môn…
Cằm phuối bấu ngộ ngáng pền khôn Dạu chê pỏ bấu slon bấu dảo
Bởi tại lục gian giảo bấu nghe Chắng pền nội cần che thâng pò…”
Dịch thơ:
“Đoạn này khuyên cha mẹ ở an Nuôi con lớn ngày sau mong cậy Con lớn theo học thầy cửa Khổng…
Lời nói chẳng khôn ngoan lanh lợi, Người chê cha chẳng dạy, chẳng khuyên,
Trang 21Nhưng vì con gian giảo chẳng nghe,
Mới nên nỗi người chê cha mẹ…”
(Trích Pác Dảo) 1.3 Tình thương yêu đùm bọc của anh em trong gia đình
Tiếp đến là quan hệ anh em trong gia đình Tục ngữ có câu: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” Đã là anh chị em trong gia
đình phải thương yêu lẫn nhau, chớ rời bỏ nhau Anh em phải biết yêu thương đùmbọc lẫn nhau, chia sẻ cho nhau từ miếng ăn cái uống Người làm anh có quyềnhuynh thế phụ, làm phận em phải biết nghe lời Đoạn 9 tác phẩm “Pác Dảo”khuyên dạy:
“Xưa tặt mì đệ huynh thủ túc Câu ví mạy lẳm côc táng bâư Căt lạc lẻ càng tầư cụng héo”
Dịch thơ:
“Xưa có câu đệ huynh thủ túc Lại ví cây lắm gốc nhiều cành Cắt rễ đi cành nào chẳng héo”
Hay trong “Giáo nam - Giáo nữ”, có khuyên anh em trong nhà:
“Gần tẩư vần thân tộc hợp tông.
Kin giú hẩư mìn không sư xéc Gần tầư vần vỏ khéc táng chi.
Kính căn giú hẩ ư mì tảo lỷ Gần ké hơn hất vỉ nẳng nưa.
Luổn roọng vậu tẻ khua tẻ gạ.”
Dịch thơ:
“Người trong gia tộc anh em Nếu cùng gốc khác cành, khác chi Lấy nhường trên kinh dưới để làm đạo lý Người hơn tuổi làm anh ngồi trên
Chớ lầm lẫn trò cười thiên hạ Kính nhường nhau không lo phạm húy.”
Trang 221.4 Tình cảm vợ chồng
Vợ chồng ăn cùng mâm, ở cùng nhà, phải sống sao cho thuận hoà, vui vẻ đếnkhi đầu bạc răng long Chớ nên nghe lời người ngoài dèm pha, xúi dục mà mắngchửi nhau Nếu có việc chẳng được như ý thì chớ nên để bụng Sống làm người phảikhoan dung, nhân nghĩa, chớ sinh bụng tham ăn, bịa đặt, bất nhân Vợ chồng phảihết dạ thương nhau, dù xa cách chẳng thể hai lòng Ấy là lời truyền dạy nhân gian
“Pát chang khỉnh mì vửa nhằng tồm Gằm đá như xá phân bấu chếp Cơn sính phuối quá pác bấu nhìn Phua mìa bấu dùa căn vần sổi Gằm đây xẩu pác phuối gằm lồm…”
Dịch thơ:
“Vợ chồng như bát xô trưng chạn Lời nói như mưa rào chợt qua Cơn giận dữ vượt qua cửa miệng
Vợ chồng cùng nhường nhau như thế Thoảng lời nói, gió thổi bay xa…”
Những lời răn dạy trong các tác phẩm Nôm Tày vừa là bài học mang tính giáodục, vừa mang tính lãng mạn thông qua vẫn thơ có nhịp điệu thu hút người đọc,người nghe Qua đó, ta thấu hiểu được tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng,
vô bờ bến của mỗi cá nhân con người, đây là nơi ấm áp chứa đựng tình thươnggiữa con người với con người với nhau Trong nhiều hoàn cảnh con người đượcsống trong tình yêu thương của người thân, chính vì thế tình cảm gia đình là vôcùng thiêng liêng, cao quý đối với tất cả mọi người trong cuộc sống Tình cảm đóchúng ta cần phải biết gìn giữ, trân trọng và phát huy những giá trị quý báu của dântộc Việt Nam, mỗi giá trị đó cần phải biết tôn tạo và giữ gìn mỗi ngày
2 Tình yêu quê hương đất nước
Tinh thần yêu nước, ý thức về vai trò trách nhiệm của tuổi trẻ đối với Tổ quốckhông phải là những điều gì đó quá xa xôi, trừu tượng mà ngược lại đó là những gìgần gũi, cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Tình yêu Tổ quốc bắtnguồn một cách tự nhiên, giản dị từ tình yêu làng xóm, quê hương, với đồng bào.Thông qua tìm hiểu các tác phẩm chữ Nôm Tày đã giúp cho chúng em thêm yêuquê hương, nơi mình đã sinh ra và lớn lên
Trang 23Ví dụ: nhân vật Chiêu Đức trong văn bản cùng tên, dù gia đình gặp biến cốtrở thành người khuynh gia bại sản, phải đi nương nhờ khắp nơi nhưng vẫn giữ tríhọc hành về sau thành tài gặp cảnh đất nước loạn lạc, giặc ngoại xâm làm càn,chàng hăng hái đem tài trí của mình ra giúp vua, giúp nữa rồi mới nghĩ đến chuyệnyên bề gia thất.
“Tẹp thuồn sâc ac rại pâu quây
Dư dân mà rườn hây tỉ cáu
Dân dú đông oóc tàng quảng tổng”
Dịch thơ:
“Ra phép màu đánh đuổi giặc đi
Để dân chúng được về nhà ở
Cứu dân thấy con đường sinh sống”
Khi giặc ngoại xâm ào ạt đến xâm lăng, việc nước việc nhà đầy lo âu, ThếKhanh tình nguyện ra đi giết giặc, nhưng trong lòng còn nhiều vương vấn việc nhàchưa yên Tuy nhiên, bên cạnh Lý Thế Khanh có một người phụ nữ đảm đang làThị Trinh nàng khuyên chàng yên chí ra trận mẹ già con nhỏ đã có nàng lo:
“Thuận phương hướng gói phá trực xung Trặng nưng hẩư vẩn công tai mự
Nhược gạ nơi ban xứ quê hương Thân noọng rú rường chương goi nhóm
Vi pây, mẻ se noọng goi lu Gằm vi dạ tam tư dẳng bến
Ké lỏm việc chinh chiến đay an Nhằng bại việc gia sản mặc noọng
Vi giá phiền chang toọng hát răng”
Trang 24Nhời ví rằng tâm tư càng chắc Miễn là việc đánh chác được yên Còn việc nhà thì em cáng đáng Không phiền anh lo lắng làm chi ”
Nàng Thị Trinh trong tác phẩm Lý Thế Khanh đích thị là một người chinhphụ, những hành động ủng hộ chồng lên đường đánh giặc, chăm lo gia đình chuđáo cũng là thể hiện lòng yêu nước của người phụ nữ trong gia đình
Sống trong khoảng thời gian, hoàn cảnh xã hội khác nhau, đồng thời mỗi tácphẩm lại mang ý nghĩa riêng nhưng điểm chung của các tác phẩm truyện thơ NômTày đều có những chi tiết thể hiện được tình yêu quê hương đất nước Đó là nguồncảm hứng vô tận, là bài học quý giá cho con người và càng sâu sắc hơn đối vớigiới trẻ hiện nay Sống trong một xã hội yên bình ta lại càng trân quý hơn nhữnggiá trị của ông cha ta để lại
3 Yêu văn hóa truyền thống dân tộc
3.1 Văn bản Nôm Tày ca ngợi phẩm chất đạo đức, tình cảm con người.
Mô tuýp quen thuộc, gần gũi với đời sống của cộng đồng dân tộc Tày chính lànhững câu truyện kể về những nhân vật nhỏ bé, bất hạnh như: Những người concôi truyện: Lương Nhân hay những con người bất hạnh trong truyện: Boóc Lả;Khảm Hải…Những người con riêng bị đối xử tệ bạc trong: Phạm Tải - Ngọc Hoa;Tống Trân - Cúc Hoa…
Ẩn chứa trong mỗi câu chuyện là giá trị nhân văn cao cả, đó là cái thiện baogiờ cũng chiến thắng cái ác, cái ác phải trừng trị thích đáng Quảng Tân - NgọcLương mà chúng tôi sưu tầm được, là một minh chứng tiêu biểu:
Vợ chồng Vũ Kim - Ngọc Đỗ sinh hạ được người con trai là Quảng Tân vàngười con gái là Ngọc Lương Khi hai đứa trẻ còn bé, Ngọc Đỗ không may quađời, sau đó Vũ Kim lấy Thị Tương làm vợ kế Thị Tương ban đầu coi hai đứa trẻnhư con đẻ, sau đó có chiến trận xảy ra, Kim Vũ phải đi dẹp giặc, Thị Tương ở nhàsinh lòng hoa nguyệt, bạc đãi con chồng Thị âm mưu giết hại con chồng nhưngkhông thành Sau những ngày lưu lạc Quảng Tân được một nhà trưởng giả cứu vớt,học hành đỗ đạt, Ngọc Lương lưu lạc sang Trung Hoa sau được sứ giả sang đón vềlàm Hoàng hậu Khi hiển vinh anh em trở về bản cũ, cha con gặp nhau vui mừngkhôn xiết, đồng thời vạch trần bộ mặt gian ác của Thị Tương Và kết thúc câutruyện vạch rõ bộ mặt gian ác của mụ dì ghẻ:
“Quăng con chồng xuống vực sâu Lại lột cả thân con áo rách
Trang 25Cơm không cho, áo rách nằm không (Quẻng lục phua lồng vằng nặm tả Lại kẻ thuổn slửa phả đâư kình, Pjầu ngài bấu hẩu kin dú dác)”
Mụ đã bị trừng phạt:
“Thị Tương đành than thân nuối tiếc Năm ngựa liền xé xác tan tành, Xong rồi liền quăng thây xuống vực
Kể lại truyện đời sau cho biết,
Từ bắc chí nam đều biết nội dung (Thị Tương hác tách mỉnh thân hây
Hả mạ chẳng kình thân tán tác Khả thôi liền quẻng tả lồng vằng Tặt tuyện sle tởi lăng h â ử chắc, Đông tây chí bắc nam lưu dung)”
(Quảng Tân - Ngọc Lương)
Với kết thúc có hậu, truyện thơ đã lí giải số phận con người theo quan niệm
có tính chất lí tưởng hóa số phận con người từ bất hạnh chuyển sang hạnh phúc
Đó cũng chính là mơ ước giản dị mà cộng đồng dân tộc Tày luôn hướng tới
3.2 Văn bản Nôm Tày là pho sách giáo huấn bề thế và cao đẹp về tâm hồn
và đạo lý làm người của đồng bào dân tộc Tày
Vào những đêm trăng sáng, những ngày mùa, những đêm áp phiên xuốngchợ, bà con dân tộc Tày lại quây quần, tụ họp bên bếp lửa, bên nhà sàn, kể chonhau những câu chuyện dân gian không biết rõ có nguồn gốc từ đâu, tác giả là ai…Chính sự quần tụ của họ trên nền bức tranh sinh động ấy đã biểu hiện rõ tâm lý tiêu
biểu của những con người khát khao vươn tới một xã hội “văn minh” Hiểu rộng
hơn, đó là nét tâm lý khát khao về khả năng sáng tạo của con người mới được thứctỉnh bằng khả năng sáng tạo của chính bản thân mình Con người của một thời kỳgắn liền với những pho truyện thơ, qua những câu truyện đó giúp họ hiểu được giátrị Chân - Thiện - Mỹ mà những câu truyện kể mang lại, họ khuyên nhủ nhau sốngphải lấy đạo lý làm gốc:
“Bảo làm hiền, làm biết, làm khôn Bán ong điệp lại buôn ương én
Trang 26Chê đắng cay lại chọn tân toan Khó thì lánh, giàu sang tìm đến (Gạ hất rụ, hất hiền, hất khôn Khai ong điệp mà puôn ương én Lược khôm phất lai kẻ rồm hoan Khó là ni, giàu sang sa sâử)”
(Lượn Tam Nguyên)
Thông qua các pho truyện Nôm Tày đã giúp mỗi chúng ta hình dung vềnhững bản làng xa xôi, hẻo lánh, thưa thớt Những người dân sống trong tình trạng
“hữu sinh, vô dưỡng” (Có sinh, nhưng không được học hành, giáo dục), nhưng họ
luôn sẵn lòng giúp đỡ lần nhau trong đạo lý và cùng nhau hướng về điều thiện Vớinội dung phong phú, sâu sắc mang đậm dấu ấn tư duy, quan niệm, triết lí nhân sinhcủa người Tày, phần nào giúp chúng ta có thể hình dung ra cuộc sống, xã hội sinhđộng của cộng đồng dân tộc mình ở thời kỳ sơ khai của lịch sử, và nối tiếp đó làcác thời kỳ phong kiến
III Giá trị thẩm mỹ
1 Văn bản Nôm Tày là kho báu về thẩm mỹ cao đẹp của dân tộc Tày
Đọc một số văn bản truyện thơ Nôm Tày, chúng ta luôn bắt gặp những hìnhtượng mang tính chất vũ trụ nguyên thủy xuất hiện trong các tác phẩm cụ thể.Những hình tượng đó thường được xây dựng với chức năng giúp đỡ những ngườiyếu thế Đó là: Bụt, Tiên, Phật luôn xuất hiện khi mà những nhân vật trong truyệncảm thấy khó khăn và bế tắc Những nhân vật đó, được xây dựng vô cùng huyền
bí, lung linh, đẹp đẽ, và biến hóa khác thường:
“Ở chân mây vân phủ nhiều năm Mây thêu nên chữ nhiều biến hóa Thêu nên màn bức chướng thơm lừng Thoắt cái ra lý ngư biến hóa
Tay vục nước lên nụ Tay vốc nước lên hoa (Tím bân phít vân phủ lai thu Séo khêm vần dử sư biến hóa Dẳng vần mản hom tỏa duyên do Giắp vần lý kim ngư biến hóa
Trang 27Mừ căm nặm vâng bioóc
Mừ cóp nặm vần hoa)”
(Khảm Hải)
Những hình tượng có phép biến hóa khôn lường ấy đều thuộc về vũ trụ, về đại
tự nhiên, hàm chứa những ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đó là ước mơ khát khao khámphá thế giới tự nhiên, làm chủ muôn vật, làm chủ vũ trụ của người xưa Qua đó thểhiện ước vọng nhân sinh lớn lao của cộng đồng dân tộc Tày trong buổi bình minh
sơ khai, họ luôn luôn cố gắng vươn lên để làm chủ thế giới muôn loài Đúng nhưMác đã viết:
“Chỉ có xã hội tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người đối với tự nhiên, và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người” (Mác - Bản thảo Kinh tế triết học 1844 - nxb sự thật trang 94)
Trong văn bản truyện thơ Nôm Tày hình tượng Thần thánh, Ngọc hoàng,Nam tào, Bắc đẩu, Mẹ Ngàn, Mẹ Hoa, Mẹ Phật…không phải là những vị thánhlinh oai phong, uy nghi, xã cách với con người mà những nhân vật đó vô cùng gầngũi, thân thuộc, thậm chí các Ngài đã trở thành phương tiện để con người bày tỏtâm tư, nguyện vọng, tình cảm của mình Và trong một số công việc cụ thể, khi cầntrợ giúp các Ngài, các Mẹ dặn dò, chỉ bảo cặn kẽ Ví như trong hành trình Khảmhải (Vượt biển), đoàn quân Then đã phải vượt biển cả mênh mông, đi đường dàihàng ngàn hải lý, và phải sửa soạn mang theo các lễ vật mà các Ngài, các Mẹ đãchỉ dẫn:
“Soạn đồ vào thuyền ngân loạt xoạt Soạn đi cả mâm bánh chay
Soạn cả ba bịch gạo Soạn đi muối chín bồ Soạn đi cơm ba dỏ Soạn đi cát chín dành Soạn đi quả trứng mênh Soạn lấy cả con chuối về trồng Cây trồng bờ khe suối
Con chuối vùi sau nhà (Soạn cúa khảu lừa ngần soạt soạt Soạn pây tằng bán pẻng bán chay
Trang 28Soạn pây sam giảo khẩu Soạn pây cẩu giảo cưa Soạn pây sam giảo khẩu Soạn pây cẩu cuôi rài Soạn pây ăn sáy mỉnh Soạn au tằng lủc cuổi mừa chay Mạy mừa chay gằn ruộc
Lủc cuổi pốc lăng rườn)’’
(Khảm Hải)
Trong cái nhìn của người Tày xưa, tất cả vạn vật xung quanh họ đều trở nênthân thuộc, gần gũi, họ được sống giữa thiên nhiên quần tụ, thân thiết Bởi vậy mà
họ thấy cuộc sống thêm tin yêu, vững mạnh
2 Văn bản Nôm Tày có giá trị thẩm mỹ lớn, là cuốn sách giáo dục về cái đẹp
2.1.Tư duy nghệ thuật, giàu sức tưởng tượng kỳ diệu, hồn nhiên
Với ước muốn chinh phục thế giới tự nhiên, khám phá về những điều mới lạtrong cuộc sống, song với cách tư duy hồn nhiên, nên trong các tác phẩm truyệnthơ Nôm Tày chúng ta bắt gặp những hình tượng độc đáo, kỳ vĩ, dữ dội như:Dòng nước, thác nước, chợ gái trai, chợ Tam Quang chỉ có trong trí tưởng tượngcủa người xưa:
“Gái trẻ ra cửa nhòm trông Gái trai ra cửa ngoài mà ngóng Giữa dòng thác lao thuyền Nước trắng xóa bọt tung Trai gái đi hội về như bướm (Sao đếch oóc táng mà đu Nhình dài oóc pác tu mà giỏm Phóng lừa lồng chang thoong Pan lừa lồng chang hát
Nặm chang hát khao xoa Báo slao pây lẩy mà tồng bửa”
(Khảm hải)
Trang 29Có thể thấy, cảnh sắc thiên nhiên hiện lên trong mỗi tác phẩm truyên thơ vô
cùng sinh động, muôn màu, muôn sắc Ví như trong “Khảm hải” đã miêu tả một lộ
trình tưởng tượng qua Mường Trời đầy khó khăn, gian khổ Cảnh sống trên trờiđược miêu tả không khác gì so với cuộc sống ở cõi dương gian
2.2 Ngôn ngữ chắt lọc, kết tinh từ ngôn ngữ đời thường
Phần lớn ngôn ngữ trong các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày đều tiếp thu từthơ ca dân gian, thành ngữ, tục ngữ của nhân dân lao động Đồng thời đan xentrong đó là những từ ngữ vay mượn, nhất là từ Hán Việt và những điển cố, điểntích trong các tác phẩm văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc
Thứ nhất: Truyện thơ Nôm Tày thường sử dụng thể thơ thất ngôn trườngthiên Với cách gieo vần tương tự như trong thơ song thất: Tiếng thứ bảy ở câu trênhiệp vần với tiếng thứ năm ở câu dưới và cứ nối tiếp như vậy:
“Hoằn goẹng nẳng pác táng song sa Khay xéc mà ngâm nga giải phiến (Ngày vắng ngồi cửa sổ song sa
Mở sách ta ngâm nga giải muộn )’’
(Tống Trân - Cúc Hoa)
Truyện thơ với tư cách là thể loại tiếp nối, phát triển thi ca dân gian Tày, đãvận dụng thể thơ truyển thống thất ngôn trường thiên trong loại hình tự sự đậmchất trữ tình này
Thứ hai: Trong truyện thơ Nôm Tày các tác giả đã vận dụng một số thànhngữ, tục ngữ như:
“Sự nẩy ý khổn toan sa lệ
Kỷ lặn đạo nhân nghịa giai khang Nguyện rà giú bình an khang thái Nhân tồn là vật tại nhằng công Nhân bại là vật bân hác sán (Sự này ý khôn toan sa lệ Mấy lần đạo nhân nghĩa tao khang Chỉ mong ta bình an khang thái Nhân tồn là vật tại đủ đầy Nhân bại là vật bay tan tác.”
Trang 30(Tống Trân – Cúc Hoa)
Những câu thơ trên gần gũi với lời ăn, tiếng nói hàng ngày của đồng bào Tày,
khi dạy về nết ăn, nết ở cho các thế hệ: “nhân nghịa giai khang” (Nhân nghĩa tao khang) và “Nhân tồn là vật tại nhằng công; Nhân bại là vật bân hác sán” (còn
người, còn của)
Hay trong cách miêu tả nhân vật, truyện thơ Nôm Tày cũng vận dụng lối nói
so sánh, ước lệ, tượng trưng, như trong cách miêu tả vẻ đẹp của Cúc Hoa:
“Lưỡng nhữ như hoa khai trúng mủa Hồng mai thêm huyền dú xuyến kim Khôn tha như thủy tinh bút vẽ
Điểm trang hom mùi quế xạ lan
Ý táy tiên Vu San lạc ngản (Ngực căng đầy như bông hoa nở Những điểm trang có đủ bạc vàng Lông mày như nét ngang bút vẽ Điểm trang thơ mùi quế hương đêm Như nàng tiên Vu San lạc lối”
(Tống Trân - Cúc Hoa)
Cách nói so sánh, ví von là cách nói vốn có trong ngôn ngữ của đồng bào dân
tộc Tày Khi nói về người con gái đẹp thường có câu: “Nả sluổi lầu, khuân chàu bút vẽ” (Mặt thon như con muôm, lông mày như bút vẽ) Cách nói này, được vận dụng một cách linh hoạt trong truyện “Tống Trân - Cúc Hoa” nói riêng và các pho
truyện thơ Nôm Tày khác nói chung
Thứ ba: Khi đọc một số tác phẩm thơ Truyện thơ Nôm Tày ta bắt gặp hìnhảnh Vua Nghiêu, vua Thuấn, đức thánh Khổng Tử….Đó là do, trong Truyện ThơNôm Tày thường sử dụng các điển tích, điển cố, khiến nội dung của các câu truyệntrở nên phong phú và hấp dẫn hơn
“Khóp khéo đin nước Nam nghiêm cẩn
Tò tồng tởi Nghiêu Thuấn hoằn xưa”
Dịch thơ:
“ Gầm trời khắp mọi miền hoà thuận