IV. CÁC VẤN ĐỀ CỦA NHÓM CÔNG TÁC NGÂN HÀNG
26. Hóa đơn điện tử
Vấn đề 1: Chuyển Dữ Liệu Hóa Đơn Điện Tử Trực Tiếp Đến Cơ Quan Thuế
Nghị định 123/2020 có quy định về việc chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử đã lập đến Cơ quan Thuế thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng Cục thuế. Việc chuyển đổi dữ liệu có thể chuyển trực tiếp hoặc gửi qua Tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử (sau đây gọi tắt là T-VAN), cụ thể như sau:
“b) Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thực hiện chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử đến cơ quan thuế theo định dạng dữ liệu theo quy định tại Điều 12 Nghị định này và hướng dẫn của Tổng cục Thuế bằng hình thức gửi trực tiếp (đối với trường hợp đáp ứng yêu cầu về chuẩn kết nối dữ liệu) hoặc gửi thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử.
Báo cáo của Nhóm Công tác Thuế & Hải quan Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020
b.1) Hình thức gửi trực tiếp
- Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sử dụng hóa đơn số lượng lớn, có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu về định dạng chuẩn dữ liệu và quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định này, có nhu cầu chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử theo hình thức gửi trực tiếp đến cơ quan thuế gửi văn bản kèm theo tài liệu chứng minh điều kiện đáp ứng đến Tổng cục Thuế.
- Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có tổ chức mô hình Công ty mẹ - con, có xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu hóa đơn tập trung tại Công ty mẹ và có nhu cầu Công ty mẹ chuyển toàn bộ dữ liệu hóa đơn điện tử bao gồm cả dữ liệu của các công ty con đến cơ quan thuế qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế thì gửi kèm theo danh sách công ty con đến Tổng cục Thuế để thực hiện kết nối kỹ thuật.
b.2) Hình thức gửi thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử
Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế không thuộc trường hợp nêu tại điểm a khoản này thực hiện ký hợp đồng với tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử để tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử làm dịch vụ chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử đến cơ quan thuế. Căn cứ hợp đồng được ký kết, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có trách nhiệm chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử cho tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử để tổ chức này gửi tiếp đến cơ quan thuế.”
Với đặc thù của ngành ngân hàng, các NHTM nói chung và đặc biệt là khối ngân hàng nước ngoài nói riêng rất coi trọng và có những yêu cầu rất chặt chẽ và nghiêm ngặt từ phía Ngân hàng mẹ và cả Tập đoàn về vấn đề bảo mật thông tin. Để có thể chuyển thông tin hoặc dữ liệu ra bên ngoài hệ thống của ngân hàng cho một bên thứ ba không phải là các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan Thuế), Ngân hàng sẽ phải tiến hành rất nhiều các quy trình và thủ tục nội bộ phức tạp để kiểm tra xem bên thứ ba này có đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu khắt khe chủ yếu về hệ thống cơ sở hạ tầng và bảo mật thông tin như: kiểm soát đăng nhập truy cập dữ liệu; rò rỉ thông tin khách hàng và các thông tin bảo mật khác; quản lý, lưu trữ, sắp xếp thông tin dữ liệu; bảo quản và sao lưu dữ liệu trong các trường hợp hệ thống hạ tầng bị hỏng, có sự thay đổi hoặc các trường hợp bất khả kháng khác;….. Quá trình xét duyệt này bao gồm nhiều quy trình, sẽ mất rất nhiều thời gian và cũng không đảm bảo các tổ chức T-VAN của Việt Nam sẽ được thông qua và xét duyệt theo các tiêu chuẩn của Ngân hàng mẹ và Tập đoàn.
Kiến nghị
Kiến nghị quy định cụ thể cho phép ngân hàng được phép chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử trực tiếp đến cơ quan thuế để đảm bảo tính bảo mật thông tin của ngân hàng.
Vấn đề 2- Thời Điểm Lập Hóa Đơn Điện Tử
Theo Khoản 2, Điều 9, Nghị định 123/2020: “Thời điểm lập hóa đơn đối với cung cấp dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp người cung cấp dịch vụ có thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ thì thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền (không bao gồm trường hợp thu tiền đặt cọc hoặc tạm ứng để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp các dịch vụ: kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế; thẩm định giá; khảo sát, thiết kế kỹ thuật; tư vấn giám sát; lập dự án đầu tư xây dựng)”.
Theo Nghị định 51/2010/NĐ-CP, hóa đơn dịch vụ ngân hàng có thể lập vào ngày cuối cùng của tháng phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ. Nghị định 119/2018 và Nghị định 123/2020 chưa có quy định cụ thể về thời điểm lập hóa đơn điện tử cho một số ngành nghề đặc thù như cung cấp dịch vụ ngân hàng.
Do đặc thù ngành ngân hàng có số lượng giao dịch và số lượng khách hàng là tổ chức (bao gồm tổ chức trong nước và quốc tế) và cá nhân rất lớn, việc xuất hóa đơn dịch vụ ngân hàng cho từng giao dịch sẽ gây mất thời gian để theo dõi, ghi sổ, truyền gửi cũng như kê khai thuế trong khi dữ
Báo cáo của Nhóm Công tác Thuế & Hải quan Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020
Trang 24/25
liệu về dịch vụ ngân hàng rất minh bạch, luôn có sẵn và có thể dễ dàng kết xuất và tổng hợp theo tháng cho từng khách hàng.
Kiến nghị
- Ngân hàng được phép xuất hóa đơn điện tử chậm nhất theo định kỳ hàng tháng.
- Trường hợp khách hàng không có nhu cầu nhận hóa đơn điện tử (bao gồm hóa đơn của doanh nghiệp và cá nhân), Ngân hàng đảm bảo xuất hóa đơn lưu nội bộ phản ánh đúng doanh thu ghi nhận kế toán. Khi có yêu cầu xác minh của cơ quan thuế, Ngân hàng chịu trách nhiệm xuất trình đầy đủ dữ liệu hệ thống và chứng từ chứng minh cho các doanh thu xuất hóa đơn.
Vấn đề 3: Hướng Dẫn Cụ Thể Về Phát Hành Hóa Đơn Cho Các Sản Phẩm Đặc Thù Của Ngân Hàng
Các quy định về hóa đơn bán hàng và cung cấp dịch vụ hiện hành chưa có quy định chi tiết cho một số các sản phẩm đặc thù của ngành ngân hàng trong khi các sản phẩm này tương đối khó tham chiếu tới các quy định hiện hành về hóa đơn, do đó các ngân hàng còn lúng túng và chưa thống nhất trong việc phát hành hóa đơn cho một số sản phẩm.
• Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM bao gồm hoạt động mua ngoại tệ và hoạt động bán ngoại tệ. Thông thường các NHTM sẽ chỉ phát hành hóa đơn cho hoạt động bán ngoại tệ, số tiền trên hóa đơn là số tiền VND thu về từ bán ngoại tệ. Ngoài ra có ngân hàng thể hiện cả số tham chiếu giao dịch, số tiền bằng ngoại tệ, loại ngoại tệ bán và tỷ giá trên phần nội dung hàng hóa dịch vụ.
• Hoạt động tài chính phái sinh phổ biến của các NHTM bao gồm:
- Giao dịch hoán đổi lãi suất một đồng tiền (Interest Rate Swap): Ngân hàng giao kết hợp đồng phái sinh lãi suất với khách hàng, trong đó các bên thỏa thuận định kỳ thanh toán cho nhau khoản tiền lãi bằng cùng một đồng tiền (đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ) tính theo lãi suất được nhận và phải trả đã thỏa thuận (lãi suất cố định hoặc thả nổi) trên cùng giá trị khoản vốn danh nghĩa.
- Giao dịch hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền (Cross Currency Swap): Ngân hàng giao kết hợp đồng phái sinh lãi suất với khách hàng, trong đó các bên thỏa thuận định kỳ thanh toán cho nhau khoản tiền lãi bằng hai đồng tiền khác nhau tính trên giá trị khoản vốn danh nghĩa; việc trao đổi hoặc không trao đổi giá trị khoản vốn danh nghĩa do hai bên thỏa thuận, trường hợp có trao đổi giá trị khoản vốn danh nghĩa ban đầu hoặc từng phần trong kỳ hoặc cuối cùng thì áp dụng theo tỷ giá cố định được thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tỷ giá tại thời điểm hai bên ký kết hợp đồng phái sinh lãi suất.
- Giao dịch quyền chọn lãi suất giới hạn trần/sàn/kết hợp trần-sàn (Interest Rate Option – Cap/Floor/Collar): Ngân hàng giao kết hợp đồng phái sinh lãi suất với khách hàng, trong đó ngân hàng bán cho khách hàng quyền (không phải nghĩa vụ bắt buộc) được mua mức lãi suất giới hạn trần/sàn/kết hợp trần-sàn trên giá trị khoản vốn danh nghĩa tại thời điểm trước ngày đến hạn hoặc vào ngày đến hạn của hợp đồng phái sinh lãi suất nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất biến động tăng/giảm/cả hai. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, khi lãi suất tham chiếu biến động tăng và cao hơn mức lãi suất giới hạn trần (hoặc giảm và thấp hơn mức lãi suất giới hạn sàn), nếu có yêu cầu của khách hàng, ngân hàng phải thực hiện thanh toán cho khách hàng khoản tiền lãi được tính trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất tham chiếu với mức lãi suất giới hạn trần/ sàn và giá trị khoản vốn danh
Báo cáo của Nhóm Công tác Thuế & Hải quan Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020
nghĩa; trường hợp lãi suất tham chiếu thấp hơn mức lãi suất giới hạn trần/ cao hơn mức lãi suất giới hạn sàn/ biến động nhưng vẫn nằm trong khoảng giới hạn giữa mức lãi suất giới hạn trần và mức lãi suất giới hạn sàn, thì không phát sinh việc thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng về chênh lệch giữa lãi tham chiếu và lãi suất giới hạn trần/ sàn. Khách hàng phải trả phí cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng phái sinh lãi suất để mua quyền chọn lãi suất; khoản phí này có thể thanh toán một lần vào ngày giao dịch hoặc nhiều lần theo thỏa thuận tại hợp đồng phái sinh lãi suất.
- Giao dịch hoán đổi giá hàng hóa (Commodity Swap): Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận đồng thời mua và bán cùng một loại hàng hóa cơ sở, khối lượng danh nghĩa hàng hóa cơ sở và thời điểm xác định trong thời hạn hợp đồng hoán đổi giá cả hàng hóa còn hiệu lực;
theo đó, một bên sẽ mua theo mức giá cố định, đồng thời bán theo giá tham chiếu và bên còn lại sẽ bán theo mức giá cố định, đồng thời mua theo giá tham chiếu vào thời điểm xác định trong thời hạn hợp đồng hoán đổi giá cả hàng hóa còn hiệu lực; việc thanh toán giữa ngân hàng và khách hàng được thực hiện trên cơ sở phần chênh lệch mức giá cố định với giá tham chiếu và khối lượng danh nghĩa hàng hóa cơ sở.
Hiện nay, do không có quy định hướng dẫn cụ thể về hóa đơn đối với các giao dịch này, việc phát hành hóa đơn cho giao dịch phái sinh của các ngân hàng chưa được thống nhất. Ví dụ cho hợp đồng hoán đổi lãi suất một đồng tiền IRS, tại ngày thanh toán định kỳ, căn cứ vào hợp đồng của từng giao dịch, ngân hàng sẽ tính toán và xác định số tiền được nhận và phải trả tính theo lãi suất được nhận và phải trả đã thỏa thuận trên cùng giá trị khoản vốn danh nghĩa. Số tiền thanh toán lãi/lỗ ròng (Net settlement amount) thực tế mà ngân hàng được nhận (hoặc phải trả) là số bù trừ giữa số tiền được nhận và phải trả bên trên. Thực tế có ngân hàng chỉ phát hành hóa đơn khi số tiền thanh toán lãi/lỗ ròng xác định tại ngày thanh toán định kỳ là số tiền ngân hàng được nhận về (số tiền nhận về > số tiền phải trả) trong khi có ngân hàng phát hành hóa đơn cho số tiền nhận về theo tính toán mặc dù số tiền thanh toán lãi/lỗ ròng thực tế xác định tại ngày thanh toán định kỳ có thể là số tiền ngân hàng phải trả.
Kiến nghị
Các sản phẩm của ngân hàng như hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hoạt động phái sinh có nghiệp vụ khá phức tạp và đặc thù tuy nhiên đều có các chứng từ giao dịch được quy định chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước đảm bảo các yếu tô xác định giao dịch và có số tham chiếu duy nhất từ hệ thống. Ngoài ra các sản phẩm này đều thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành về thuế GTGT. Do đó, chúng tôi rất mong Bộ Tài chính cho phép các NHTM không cần phát hành hóa đơn điện tử cho các sản phẩm này, thay vào đó sẽ sử dụng hệ thống chứng từ giao dịch được quy định bởi Ngân hàng Nhà nước cùng với các chứng từ giao dịch cụ thể của từng ngân hàng như “Hợp đồng/Xác nhận giao dich”, “Thông báo ấn định lãi suất”, v.v.
Trong trường hợp các quy định về hóa đơn điện tử bao gồm cả những giao dịch đặc thù nêu trên, chúng tôi kính đề xuất Bộ Tài Chính ban hành bổ sung hướng dẫn cụ thể về việc phát hành hóa đơn điện tử cho các sản phẩm đặc thù của ngân hàng để áp dụng thống nhất chung cho các NHTM.
Báo cáo của NCT Du lịch Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam Thường niên, 2020
Trang 1 / 4
BÁO CÁO CỦA NHÓM CÔNG TÁC DU LỊCH
THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI TRONG BỐI CẢNH BÌNH THƯỜNG MỚI
Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vực Du lịch và Khách sạn tại Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả các bên liên quan đều đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ nhằm đảm bảo an toàn cho người dân và hạn chế sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng, qua đó giúp Việt Nam hạn chế số ca tử vong và kiểm soát được dịch bệnh.
Theo Tổng Cục Thống kê (“GSO”), doanh thu ngành du lịch lữ hành của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm ước đạt 11,1 nghìn tỷ đồng (479 triệu USD), giảm 55,4% so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của Tổng Cục Du lịch, lượng khách du lịch nội địa đã giảm gần 50% xuống còn 23 triệu lượt trong 6 tháng đầu năm. Số liệu từ Tổng Cục Thống kê cho thấy, “Việt Nam đón khoảng 3,8 triệu lượt khách quốc tế trong 7 tháng đầu năm, giảm 61,6% so với cùng kỳ năm trước”. Trong bối cảnh Việt Nam chưa mở cửa biên giới, số lượng du khách nước ngoài khó có thể vượt quá 4 triệu lượt, nghĩa là giảm gần 80% trong năm nay.
Nhiều doanh nghiệp du lịch đã buộc phải đóng cửa và nhiều khách sạn đã tự rao bán. Rất nhiều nhân viên đã bị sa thải hoặc nghỉ việc tạm thời. Nhiều công ty du lịch trên thị trường chứng khoán cũng ghi nhận doanh thu quý II sụt giảm 70-80% so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến lợi nhuận giảm mạnh hoặc trong tình trạng thua lỗ lớn như Sheraton Đà Nẵng, Vietravel và Công ty Cổ phần Công viên nước Đầm Sen (“DSN”) .
DSN đã công bố khoản lỗ 4,3 tỷ đồng trong quý II. Cùng quý năm ngoái, DSN ghi nhận mức lãi 42 tỷ đồng.1 Vietravel báo cáo doanh thu đạt 206 tỷ đồng và lỗ 38 tỷ đồng trong quý 2. Lũy kế nửa đầu năm, doanh thu của doanh nghiệp du lịch này chỉ đạt 995 tỷ đồng, giảm 72% so với cùng kỳ năm 2019 và lỗ trên 76 tỷ đồng. Đây là một trong số những doanh nghiệp du lịch lữ hành lớn nhất cả nước với doanh thu chủ yếu đến từ các tour du lịch quốc tế. Năm nay, công ty dự báo doanh thu sẽ giảm gần 60% so với năm 2019. Công ty dự kiến ghi nhận lợi nhuận trước thuế âm 22 tỷ đồng, sau nhiều năm liên tiếp đạt lợi nhuận dương”.2
Các giải pháp khuyến nghị trước mắt để hỗ trợ ngành du lịch, lực lượng lao động trong ngành và giảm thiểu tác động kinh tế xã hội bao gồm:
Chính phủ cần thiết lập quỹ hỗ trợ thông qua hệ thống ngân hàng, có thể bao gồm nguồn kinh phí từ các nhà tài trợ quốc tế, theo đó các công ty lữ hành có thể vay vốn mà không cần thực hiện biện pháp đảm bảo với số tiền bằng với khoản đóng góp Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và tiền nộp thuế của doanh nghiệp đó trong năm 2019;
Để thực hiện cách ly tập trung bắt buộc với đối tượng là người Việt Nam, chúng tôi khuyến nghị sử dụng hệ thống khách sạn 2 sao nếu Chính phủ chi trả các chi phí cách ly, đồng thời cho phép người bị cách ly tập trung được lựa chọn các cơ sở lưu trú cao cấp hơn nếu họ tự chi trả chi phí. Tất cả người nước ngoài, khi phải thực hiện cách ly, nên được lựa chọn cách ly tại các khách sạn 3,4, hoặc 5 sao. Điều này sẽ đảm bảo đủ điều kiện và địa điểm cách ly cho cả người Việt Nam và người nước ngoài khi nhập cảnh Việt Nam.
1 Báo VnExpress điện tử
2 Báo VnExpress điện tử