B. Tiểu ban Du lịch và Nhà hàng - Khách sạn
II. ĐIỆN HẠT NHÂN KHÔNG CARBON - NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN SỬ DỤNG NGUYÊN
Việt Nam bắt đầu coi điện hạt nhân là một lựa chọn cung cấp năng lượng từ những năm 1980 để giải quyết nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của mình. Theo đó, Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia để đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
1. Khuôn khổ pháp luật Việt Nam về năng lượng nguyên tử
Vào ngày 03 tháng 06 năm 2008, Luật số 18/2008/QH12 về Năng lượng nguyên tử (Luật Năng lượng nguyên tử) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực vào năm 2009 và Chính phủ Việt Nam cũng đã thông qua Các nghị định liên quan hướng dẫn luật này. Luật Năng lượng nguyên tử điều chỉnh tất cả các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử bao gồm cả việc thúc đẩy các hoạt động và bảo đảm an toàn và an ninh cho các hoạt động đó. Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài và tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hệ thống cấp phép hiện nay rất phức tạp, cụ thể: Thủ tướng chịu trách nhiệm phê duyệt địa điểm và nghiên cứu khả thi, Bộ Khoa học và Công nghệ (MoST) chịu trách nhiệm xem xét cấp phép kỹ thuật và Bộ Công Thương chịu trách nhiệm cấp phép hoạt động, v.v. Bộ Khoa học và Công nghệ / Cục An toàn bức xạ và hạt nhân Việt Nam (VARANS) chịu trách nhiệm đánh giá an toàn của Báo cáo phân tích an toàn ở tất cả các giai đoạn phát triển nhà máy điện hạt nhân. Bộ Tài nguyên và Môi trường (MoNRE) chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, Bộ Xây Dựng chịu trách nhiệm rà soát việc xử lý và lưu giữ chất thải phóng xạ.
Điều này có thể gây ra sự phức tạp trong việc quản lý hệ thống cấp phép nói chung và các cơ quan chức năng ngẫu nhiên có thể thiếu chuyên môn trong lĩnh vực tiên tiến như vậy.
Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã quyết định sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử.
Tuy nhiên, việc sửa đổi về thống nhất các hoạt động quản lý sẽ chỉ khả thi nếu năng lực của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cũng như tổ chức hỗ trợ kỹ thuật của Cục đủ tiềm lực. Theo Quyết định số 446/QĐ-TTg ngày 07 tháng 04 năm 2010, Hội đồng Quốc gia về An toàn hạt nhân được thành lập với chức năng tham mưu Thủ tướng về chính sách và các biện pháp để đảm bảo an toàn hạt nhân trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử, trong quá trình vận hành nhà máy điện hạt nhân cũng như các biện pháp khắc phục sự cố hạt nhân đặc biệt nghiêm trọng; kiểm tra, thẩm định báo cáo an toàn nhà máy điện hạt nhân và kết quả thẩm định của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân.
Luật Năng lượng nguyên tử gần như đã cho phép tính công chúng nhiều hơn trong quá trình cấp phép.
Theo quy định tại Điều 47 Luật Năng lượng nguyên tử, việc quyết định phê duyệt địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân phải căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến đặt nhà máy điện hạt nhân, nêu rõ ý kiến của nhân dân địa phương / quan điểm về các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển văn hóa, giáo dục và phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và lợi ích của nhân dân địa phương.
Mặt khác, để ngăn chặn hoạt động của cơ sở lắp đặt hạt nhân mà không có giấy phép hợp lệ, Luật Năng lượng nguyên tử đã nghiêm cấm hoạt động của cơ sở bức xạ, hoạt động bức xạ hoặc cơ sở lắp đặt hạt nhân mà không có giấy phép hợp lệ.
2. Thỏa thuận quốc tế về năng lượng nguyên tử của Việt Nam
Với việc thừa nhận tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, đặc biệt là sự đóng góp của các chế độ quốc tế trong việc đạt được và duy trì mức độ an toàn cao, Việt Nam đã là một thành viên của một số văn kiện quốc tế, bao gồm:
Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (1982);
Hiệp định về các biện pháp bảo vệ (1990);
Công ước về Thông báo sớm về Tai nạn Hạt nhân (1987);
Công ước về Hỗ trợ trong Trường hợp Tai nạn Hạt nhân hoặc Bức xạ Khẩn cấp (1987);
Hiệp ước Cấm Kiểm tra Toàn diện (2006);
Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (1997);
Các Hiệp định Hợp tác khu vực;
Nghị định thư bổ sung cho Hiệp định Tự vệ (ký năm 2007);
Công ước về an toàn hạt nhân (4/2010);
Công ước về bảo vệ vật lý vật liệu hạt nhân và bản sửa đổi của Công ước (2012);
Trang 6/9
Công ước chung về An toàn sử dụng nhiên liệu và An toàn trong quản lý chất thải phóng xạ (9/2013);
Công ước quốc tế về ngăn chặn hành vi khủng bố hạt nhân (do Chủ tịch nước ký ngày 14 tháng 7 năm 2016);
Công ước Viên về Trách nhiệm đối với Thiệt hại Hạt nhân và các Nghị định thư của Công ước (2016-2017).
3. Các vấn đề thực tiễn và đề xuất
Việt Nam trở thành thành viên của Công ước An toàn Hạt nhân vào ngày 15 tháng 7 năm 2010. Theo định nghĩa trong công ước nói trên, Việt Nam không có cơ sở hạt nhân dân dụng. Việt Nam có một lò phản ứng nghiên cứu 500 kW (Da Lat Nuclear Research Reactor - DNRR), đặt tại Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, hoạt động từ năm 1983. Vì mục đích an toàn và an ninh, một số dự án đã được thực hiện gần đây, bao gồm chuyển đổi lõi HEU-LEU, I&C nâng cấp, dưới sự giám sát của Cục ATBXHN thông qua đánh giá SAR được trình để cấp phép và xác minh trong các hoạt động thanh tra. Vấn đề lão hóa được theo dõi và giải quyết đầy đủ.
Việt Nam đã chuẩn bị xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên (NPP) tại tỉnh Ninh Thuận để giải quyết nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng. Các hoạt động nghiên cứu thực địa và điều tra tại chỗ đã được thực hiện ở cả NPP số 1 và NPP số 2 trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiên cứu và điều tra, Hội đồng An toàn Hạt nhân Quốc gia và Cục ATBXHN đã cử các chuyên gia đến hiện trường.
Các chủ dự án đã nêu ra những khuyến nghị và câu hỏi để cải thiện kết quả điều tra hiện trường.
Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về an toàn hạt nhân là một thách thức vì an toàn hạt nhân là một lĩnh vực còn khá mới đối với Việt Nam trong khi nguồn nhân lực trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ hạt nhân, thủy nhiệt, vật liệu và các lĩnh vực khác còn thiếu rất nhiều, nhưng đây có thể là một phương án khả thi trong tương lai để Chính phủ Việt Nam xem xét từ góc độ môi trường với tư cách là nước đi đầu trong lĩnh vực năng lượng không carbon.
Việt Nam đã khởi động 20 dự án quốc gia và 48 dự án khu vực hoặc liên khu vực do IAEA tài trợ trong giai đoạn 2014-2019. Trong giai đoạn 2020-2021, 5 dự án mới đã được IAEA phê duyệt.
Cuối năm 2018, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và IAEA đã ký thỏa thuận thành lập trung tâm hợp tác sử dụng công nghệ hạt nhân để quản lý tài nguyên nước và môi trường tại Việt Nam và các vùng ven biển Đông Nam Á.
Mặt khác, do sự bất cập của Luật Năng lượng nguyên tử, đặc biệt là liên quan đến tính độc lập của cơ quan quản lý, các vấn đề cấp phép nhà máy điện hạt nhân, ứng phó khẩn cấp, v.v., Chính phủ đã quyết định sửa đổi luật.
Rào cản lớn ở bất kỳ quốc gia đang phát triển nào liên quan đến phát triển điện hạt nhân là thiếu kiến thức và nhận thức đúng đắn về điện hạt nhân. Mọi công nghệ đều đi kèm với rủi ro và tương tự như vậy, vật liệu hạt nhân nếu được sử dụng đúng mục đích có thể mang lại lợi ích cho đất nước cũng như thế giới nói chung bằng cách duy trì môi trường với nguồn năng lượng xanh và ổn định nhất mà nhân loại đã phát minh ra.
Dự kiến, dự thảo Luật sửa đổi sẽ được trình Quốc hội thông qua vào năm 2018. Để hỗ trợ việc sửa đổi, OLA, IAEA đã tiến hành 2 đoàn chuyên gia đến Hà Nội vào tháng 3 năm 2012 và tháng 5 năm
2013 và 2 đoàn chuyên gia đã được thực hiện với sự tham gia của các quan chức cấp cao từ Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp (MoJ), MoST, v.v. Các vấn đề chính được sửa đổi bao gồm: tính độc lập của cơ quan quản lý, sự thống nhất trong quy trình cấp phép, ứng phó khẩn cấp và chuẩn bị sẵn sàng, trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân, v.v. Cần lưu ý rằng Việt Nam dự kiến sẽ không xem xét lại năng lượng hạt nhân theo Tổng sơ đồ 8 (PDP8) từ tầm nhìn tương lai nhưng Việt Nam cần phải cố gắng nâng cao mối quan tâm về năng lượng trong khu vực và xem xét chặt chẽ về hiệu quả sử dụng công nghệ hạt nhân cho các mục đích dân dụng bằng cách tạo ra năng lượng xanh với chi phí cực kỳ thấp mà không phương án phát điện nào khác có thể cung cấp được. Điện hạt nhân cũng có thể được coi là một động thái chiến lược của quốc gia nhằm duy trì an ninh đầu tư với sức mạnh sản xuất điện trong khu vực. Ấn Độ là nước đi đầu trong ngành điện hạt nhân ở châu Á và Việt Nam có thể hưởng lợi từ kinh nghiệm hơn hai thập kỷ của Ấn Độ trong lĩnh vực sản xuất điện hạt nhân. Việt Nam và Ấn Độ là đối tác chiến lược toàn diện và có lịch sử quan hệ đồng minh lâu đời, tạo nên sự gắn bó bền chặt giữa các quốc gia. Ngoài ra, những quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia Châu Âu cũng có thể thấy được cơ hội để cùng Ấn Độ hỗ trợ sự phát triển không ngừng của Việt Nam trên diễn đàn toàn cầu không có dấu vết carbon.