Dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP 1

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 82 - 87)

3. Kiến nghị của Tiểu ban Nguồn Nhân lực và Đào tạo thuộc EuroCham

3.4 Dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP 1

Số vốn góp tối thiểu để được miễn giấy phép lao động Mô tả vấn đề

Căn cứ Điều 7.1.(a) và (b) của dự thảo Nghị định, quy định là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn góp từ 5 tỷ Đồng trở lên không phải xin giấy phép lao động.

Điều 7.1.(a) và (b)

”1. Người lao động nước ngoài quy định tại các Khoản 1, 2 Điều 154 của Bộ luật Lao động, bao gồm:

a) Là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn từ 05 tỷ đồng trở lên.

b) Là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có giá trị góp vốn từ 5 tỷ đồng trở lên”

1

Báo cáo của NCT Nguồn Nhân lực Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020

Khuyến nghị

Căn cứ theo Khoản 1, 2 Điều 154 của Bộ Luật Lao động, chúng tôi trân trọng đưa ra đề xuất quy định số vốn góp tối thiểu là 300 triệu Việt Nam Đồng. Theo thực tiễn, đây là số vốn đầu tư được yêu cầu bởi cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị điều chỉnh số vốn góp tối thiểu để được miễn giấy phép lao động phù hợp với số vốn đầu tư tối thiểu được các cơ quan chức năng áp dụng trên thực tiễn, và để giữ ngưỡng đầu tư được quy định thấp để khuyến khích đầu tư nước ngoài và giúp Việt Nam nhanh chóng hồi phục nền kinh tế hậu đại dịch COVID-19.

Thêm vào đó, các cam kết của Việt Nam trong Chương về Dịch vụ của WTO trích dẫn ngôn ngữ Hiệp định Thương mại về Dịch vụ (GATS - General Agreement on Trade in Services) trong đó cấm các hạn chế định lượng đối với các nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm bất cứ ngưỡng vốn tối thiểu nào) ngoại trừ trong một số lĩnh vực nhất định (ví dụ: các tổ chức tín dụng vì lợi ích ổn định tài chính quốc gia). Tại các lĩnh vực dịch vụ, không có hạn chế định lượng nào có thể được áp dụng trên cơ sở phân biệt đối xử (chẳng hạn như áp dụng đối với các doanh nghiệp FDI chứ không phải các doanh nghiệp trong nước).

Thời hạn của giấy phép lao động

Mô tả vấn đề

Điều 20 về thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn, Dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định:

Thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn theo thời hạn của một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định này nhưng chỉ được gia hạn một lần với thời hạn tối đa là 02 năm.”

Từ quy định này, có thể hiểu rằng người lao động nước ngoài sẽ không thể tiếp tục làm việc tại Việt Nam sau 4 năm (2 năm trong giấy phép lao động mới và sau đó 2 năm được gia hạn giấy phép lao động).

Khuyến nghị

Chúng tôi đề nghị trong dự thảo Nghị định rằng, để tiếp tục làm việc tại Việt Nam sau thời hạn 4 năm, người lao động nước ngoài có thể nộp đơn xin cấp giấy phép lao động mới và người nộp đơn không phải rời khỏi Việt Nam trong quá trình này. Vì vậy, chúng tôi đề xuất bổ sung Khoản 2 cho Điều này như sau:

“Trong trường hợp hết thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn theo khoản 1 Điều này, người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động mong muốn người sử dụng lao động nước ngoài tiếp tục làm việc với người sử dụng lao động (ở cùng một vị trí công việc và chức danh công việc hoặc ở một vị trí và chức danh khác được nêu trong giấy phép làm việc đã được cấp), người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động phải nộp đơn xin giấy phép làm việc mới. Hồ sơ xin cấp giấy phép lao động mới bao gồm các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 của Điều 18 và giấy phép lao động hoặc bản sao có chứng thực của giấy phép lao động được cấp hoặc theo quy định tại thời điểm nộp đơn.”

Ngoài ra, chúng tôi đề nghị quy định rõ hơn về việc liệu đơn đăng ký mới có thể được nộp trước ngày hết hạn của giấy phép làm việc ban đầu hay không.

Báo cáo của Nhóm công tác Giáo dục & Đào tạo Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020

THỬ THÁCH VÀ CƠ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN BÌNH THƯỜNG MỚI KHỞI ĐỘNG LẠI DOANH NGHIỆP; THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ LƯU ĐỘNG

Chuẩn bị bởi Nhóm Công tác Giáo dục và Đào tạo

Giới thiệu

Một bài báo trình bày quan điểm của chúng tôi vào tháng một năm nay đã thảo luận về chủ đề

“Bước nhảy vọt sang Giáo dục và Lực lượng Lao động 4.0”. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chúng tôi không thể hình dung được điều gì sẽ diễn ra và tầm quan trọng của việc có một hệ thống giáo dục đủ mạnh và thích ứng hiện nay trở nên cấp thiết và quan trọng hơn rất nhiều. Tại thời điểm đó, chúng tôi đã đề cập rằng công nghệ thay đổi các quy tắc, tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, việc sử dụng công nghệ ở tất cả các cấp học là cấp bách và quan trọng.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ xem xét lại tình hình hiện tại, xác định xem điều kiện “bình thường mới” sẽ như thế nào, tầm quan trọng của TVET, và thảo luận về những việc cần phải làm. Toàn bộ hệ thống giáo dục cần phải xem xét lại các chiến lược của mình để có thể đạt được một nền giáo dục hiệu quả trong điều kiện môi trường hiện nay. Điều này rất quan trọng để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp hiện nay và trong tương lai.

Hơn bao giờ hết, các cơ quan Chính phủ (cả trong và ngoài nước), các tổ chức giáo dục và ngành công nghiệp cần hợp tác để tận dụng các cơ hội hiện tại và giảm thiểu hoặc loại bỏ các rủi ro.

Tình hình hiện tại

Rõ ràng tác động của COVID 19 đang có tác động đến tất cả các cấp học ở Việt Nam. Tác động bao gồm nhưng không giới hạn đến những đối tượng sau:

 Sinh viên Việt Nam:

 Trở về từ nước ngoài để hoàn thành việc học.

 Những người đã huỷ bỏ hoặc hoãn việc học tập ở nước ngoài.

 Đang học ở nước ngoài nhưng hiện đang sử dụng các nền tảng trực tuyến.

 Những người muốn đi du học nhưng không chắc chắn tình hình hiện tại có khả thi hay không.

 Những du học sinh không thể đến Việt Nam.

 Cán bộ giảng dạy ở nước ngoài gặp khó khăn hoặc không thể đến Việt Nam. Điều này áp dụng cho cả nhân viên ngắn hạn và dài hạn.

Một số tổ chức hiện đang sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến để bổ sung cho các phương pháp giảng dạy truyền thống của họ. Đây là giai đoạn đầu của quá trình phát triển và triển khai đã phải đạt được với nhiều thành công ở nhiều mức độ. Tuy nhiêm, cần phải triển khai nhiều hoạt động hơn nữa ở giai đoạn này. Các giảng viên không có kỹ năng trong việc triển khai các lớp học trực tuyến, sinh viên không quen thuộc với công nghệ và cơ sở hạ tầng CNTT, trong một số trường hợp, không có khả năng đảm bảo được lưu lượng truy cập của việc học trực tuyến tạo ra. Sự kết hợp giữa việc triển khai phương pháp học truyền thống tại lớp và học trực tuyến, tức là học kết hợp, có thể là chiến lược tốt nhất trong nhiều trường hợp.

Rất có thể, mọi trường đại học ở Việt Nam đều có một sứ mệnh là phải đạt được sự công nhận quốc tế như là một trường đại học chất lượng. Trong vòng 10 đến 20 năm tới, các trường đại học trên khắp thế giới sẽ cần phải áp dụng giáo dục trực tuyến hoặc đối mặt với sự đào thải. Các trường

Báo cáo của Nhóm công tác Giáo dục & Đào tạo Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020

Trang 2/5

đại học và cơ quan quản lý của Việt Nam có thể làm việc với các chuyên gia từ các trường đại học nước ngoài để xây dựng kế hoạch chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia đi đầu trong giáo dục trực tuyến.

Trong ngắn hạn, công nghệ có thể giúp khắc phục một số khó khăn trong môi trường hiện tại và về lâu dài, nó sẽ giúp giữ vững nền giáo dục Việt Nam hiện tại và tăng tính cạnh tranh. Các sinh viên muốn ra nước ngoài du học hiện đang tìm hiểu về việc học tập tại Việt Nam và đây là cơ hội tốt cho các cơ sở giáo dục trong nước nếu họ biết tận dụng cơ hội này. Ngày của các cơ sở giáo dục "gạch và vữa" sẽ được thay thế bằng "gạch và nhấp chuột" hoặc thậm chí chỉ là "nhấp chuột".

Và việc này thực tế đang được diễn ra.

“Bình Thường Mới”

“Bình thường mới” là gì? Nó mang lại những thách thức và cơ hội gì? Làm thế nào để các thể chế

“gạch” truyền thống tự chuyển đổi để duy trì tính cạnh tranh trong môi trường mới? Làm thế nào để Việt Nam tiếp tục chiến thắng trong thời đại 4.0? Đây là những câu hỏi rất khó, tuy nhiên, đã có nhiều phản ánh và nghiên cứu được thực hiện về các chủ đề này. Công nghệ đã và sẽ ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định môi trường giáo dục trong tương lai sẽ như thế nào. Cuộc khủng hoảng hiện tại chỉ thúc đẩy nhu cầu chuyển sang một mô hình kinh doanh mới ở hầu hết các cấp học. Làm thế nào để các thể chế “gạch” truyền thống tự chuyển đổi để duy trì tính cạnh tranh trong môi trường mới?

Hầu hết trẻ em đi học ngày nay sẽ tham gia những công việc mà chúng ta chưa biết đến. Thế hệ này khác biệt rõ rệt so với các thế hệ trước về mức độ tiếp xúc, tính sẵn có của thông tin và nội dung cũng như khả năng thích ứng với các công nghệ mới. Các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện cho các cá nhân sẵn sàng cho tương lai và giảm tỷ lệ lạc hậu của họ.

Tư duy phi truyền thống cần được khuyến khích trong giáo dục bằng cách sử dụng các công cụ và nguồn lực dựa trên công nghệ để thúc đẩy giáo dục theo những cách thức phi truyền thống. Học sinh sẽ ít tham gia thường xuyên hơn các lớp học truyền thống và sẽ tăng cường học trực tuyến bằng các nền tảng kỹ thuật số. Tương lai của giáo dục có nghĩa là nó sẽ đáp ứng nhu cầu của Công nghiệp 4.0, triển khai tiềm năng của công nghệ kỹ thuật số và nó sẽ tạo ra một kế hoạch chi tiết cho tương lai của việc học - từ học tập tại trường học đến học tập tại nơi làm việc.

Giáo dục phải bắt kịp với thế giới mà nó đang đào tạo học sinh và có cách tiếp cận thực tế hơn trong học tập, mang lại kết quả học tập tốt cho học sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự gia tăng cá nhân hóa trong giáo dục dẫn đến kết quả học tập của học sinh tốt hơn và việc số hóa giáo dục làm cho việc học tập được cá nhân hóa này trở nên khả thi. Lợi ích của việc số hóa giáo dục một cách hiệu quả là rất nhiều và ảnh hưởng đến một loạt các bên liên quan:

 Học sinh sẽ tiếp cận và quan hệ tốt hơn với những người tham gia khác trong hệ thống. Kết quả học tập của học sinh sẽ cải thiện tương ứng với mức độ thực hiện giáo dục kỹ thuật số.

 Việc sử dụng công nghệ cũng sẽ giúp giáo viên và giảng viên dễ dàng cung cấp trải nghiệm học tập được cá nhân hóa cho sinh viên. Điều này sẽ mang lại kết quả học tập của học sinh tốt hơn, đồng nghĩa với việc kết quả giảng dạy tốt hơn vì những gì giáo viên đang làm thực sự đạt được kết quả thiết thực.

 Đối với các nhân viên quản lý và không phải giảng viên cũng sẽ có những lợi ích vì nó cho phép những nhân viên này giảm bớt công việc văn phòng và thay vào đó, tập trung vào việc nâng cao chất lượng hỗ trợ sinh viên và giảng viên.

 Lợi ích đối với ngành là hệ thống giáo dục sẽ cung cấp cho ngành những sinh viên tốt nghiệp với chất lượng cao hơn, những người sẵn sàng làm việc hơn. Điều này sẽ cải thiện

Báo cáo của Nhóm công tác Giáo dục & Đào tạo Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020

hiệu suất của lực lượng lao động, cũng như hiệu suất của ngành công nghiệp và nền kinh tế nói chung.

TVET

Đào tạo kỹ năng nghề và thúc đẩy việc làm là mục tiêu phát triển trọng tâm của Chính phủ Việt Nam. Chính phủ cũng muốn điều chỉnh việc đào tạo nghề phù hợp hơn với nhu cầu của ngành công nghiệp và công nghệ tiên tiến, đồng thời tập trung nhiều hơn vào các kỹ năng cần thiết để thực hiện hiệu quả Công nghiệp 4.0. Chính phủ Việt Nam nhận thấy sự cần thiết phải tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào TVET. Điều này sẽ giúp nâng cao nguồn lực bổ sung cho việc thực hiện TVET, và nâng cao chất lượng và mức độ phù hợp của các chương trình đào tạo TVET.

Một chiến lược khả thi để tham gia vào ngành, như được xác định bởi các tổ chức bao gồm, nhưng không giới hạn ở ADB, GDVT, GIZ, ILO và JICA, là thông qua việc khởi động các biện pháp hợp tác tích cực của các cơ sở TVET. Chiến lược Phát triển Nguồn nhân lực Úc-Việt 2014-2020 bao gồm các sáng kiến nhằm nâng cao khả năng đáp ứng của ngành TVET Việt Nam đối với các nhu cầu của ngành thông qua tăng cường sự tham gia của khu vực TVET-tư nhân.

Mặc dù có nhiều sáng kiến tuyệt vời đang giúp cải thiện TVET ở Việt Nam, chúng tôi vẫn tin rằng sau đây là những lĩnh vực chính cần được giải quyết:

 Đáp ứng nhu cầu của ngành thông qua phát triển chương trình giảng dạy năng động;

 Cải thiện quy trình tuyển dụng thông qua cung cấp chương trình và tiếp thị tốt hơn;

 Nâng cao năng lực của giáo viên, cán bộ quản lý và lãnh đạo theo các thông lệ thể chế TVET hiện đại và quốc tế; và

 Triển khai hiệu quả khung trình độ quốc gia.

Điều quan trọng là chúng tôi phải tiếp tục nghiên cứu các lĩnh vực này và tìm ra các giải pháp để giúp cải thiện hệ thống TVET. Do đó, chúng tôi mong muốn vấn đề này sẽ tiếp tục đạt được tiến bộ và nhân cơ hội này xin cảm ơn sự hợp tác của Bộ LĐTBXH.

Việt Nam cần phải làm gì để vượt qua thách thức và tận dụng cơ hội?

Có rất nhiều sáng kiến và dự án đã được thực hiện ở Việt Nam và một vài trong số này được liệt kê trong danh sách tham khảo dưới đây. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng hiện nay, những điều này trở nên cấp thiết hơn nhiều. Vui lòng tham khảo Phụ lục 1 để biết thông tin đầu vào từ Ủy ban Đào tạo & Nhân lực EuroCham. Sau đây là một số khuyến nghị cần được xem xét nhằm nâng cao vai trò của các cơ sở giáo dục trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đạt được sự phát triển nhanh và bền vững.

 Các cơ sở giáo dục đại học nên tập trung vào người học, được hỗ trợ bởi công nghệ, hướng dẫn trực tiếp và nội dung liên quan đến ngành để đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân của người học. Các cơ sở giáo dục đại học có một quyết định quan trọng để đưa ra: Nắm lấy cơ hội mới và thành công hay lựa chọn sai và bị triệt tiêu?

 Tập trung vào việc xây dựng trải nghiệm sinh viên thông qua cấu trúc chương trình linh hoạt cho phép học tập lâu dài và cung cấp cho người học nhiều lựa chọn đầu vào và đầu ra. Người học có thể được cung cấp lịch trình và cơ hội học tập thông qua việc hợp tác.

Bằng cách kết hợp lý thuyết và thực hành, sự hòa nhập của học viên vào các quy trình làm việc ngay từ đầu có thể được đảm bảo (AHK).

Báo cáo của Nhóm công tác Giáo dục & Đào tạo Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2020

Trang 4/5

 Nâng cao kỹ năng của đội ngũ giảng viên ở tất cả các cấp của hệ thống giáo dục nhà nước bằng cách cung cấp cho họ cơ hội tiếp cận với sự phát triển nghề nghiệp liên tục theo tiêu chuẩn quốc tế và đào tạo giáo viên theo các phương pháp giáo dục hiện đại.

 Để khuyến khích hơn nữa đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này, cần khuyến khích các cơ sở giáo dục công lập địa phương hợp tác với các cơ sở giáo dục tư nhân quốc tế trong việc đào tạo giáo viên làm việc ở các trường công lập.

 Giải quyết các thách thức về khả năng tuyển dụng bằng cách cung cấp các kỹ năng khả năng tuyển dụng cần thiết và tích hợp với ngành công nghiệp để tạo điều kiện tiếp xúc nhiều hơn cho sinh viên ngay qua kinh nghiệm tại trường đại học của họ. Các cơ sở giáo dục đại học nên hợp tác nhiều hơn nữa với khu vực tư nhân để tìm ra những kĩ năng đào tạo bổ sung đang được thực hiện bởi các công ty, sau đó đưa nó vào các khóa học của họ để sinh viên được chuẩn bị trước khi tham gia vào lực lượng lao động.

 Các cơ quan quản lý cần đánh giá cao phương pháp giáo dục trực tuyến như một phương tiện học tập khả thi. Họ sẽ phải cung cấp một hệ sinh thái hướng tới tương lai cho Giáo dục 4.0 và làm việc với các tổ chức giáo dục đại học để phát triển một khuôn khổ quy định giải quyết các vấn đề về kiểm soát chất lượng, cấp phép và bảo mật thông tin. Tự học trực tuyến nên được khuyến khích mọi cơ hội bằng cách giải thích giá trị thực của phương pháp này đối với nghề nghiệp của mọi người.

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 82 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(296 trang)