1. Dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP11
a/ Số vốn góp tối thiểu để được miễn giấy phép lao động
Điều 7.1 (a) của dự thảo Nghị định quy định rằng chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn góp từ 5 tỷ Đồng trở lên được miễn giấy phép lao động. Ngưỡng 5 tỷ Đồng đối với nhà đầu tư nước ngoài là một ngưỡng rất cao và sẽ không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và đầu tư FDI nếu họ vẫn phải xin giấy phép lao động.
Căn cứ theo Khoản 1, 2 Điều 154 của Bộ Luật Lao động, chúng tôi trân trọng đưa ra đề xuất quy định số vốn góp tối thiểu là 300 triệu Đồng. Theo thực tiễn, đây là số vốn đầu tư được yêu cầu bởi cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị điều chỉnh số vốn góp tối thiểu để được miễn giấy phép lao động phù hợp với số vốn đầu tư tối thiểu được các cơ quan chức năng áp dụng trên thực tiễn, và để giữ ngưỡng đầu tư được quy định thấp để khuyến khích đầu tư nước ngoài và giúp Việt Nam nhanh chóng hồi phục nền kinh tế hậu đại dịch COVID-19.
Thêm vào đó, các cam kết của Việt Nam trong Chương về Dịch vụ của WTO trích dẫn ngôn ngữ Hiệp định Thương mại về Dịch vụ (GATS - General Agreement on Trade in Services) trong đó cấm các hạn chế định lượng đối với các nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm bất cứ ngưỡng vốn tối thiểu nào) ngoại trừ trong một số lĩnh vực nhất định (ví dụ: các tổ chức tín dụng vì lợi ích ổn định tài chính quốc gia). Tại các lĩnh vực dịch vụ, không có hạn chế định lượng nào có thể được áp dụng trên cơ sở phân biệt đối xử (chẳng hạn như áp dụng đối với các doanh nghiệp FDI chứ không phải các doanh nghiệp trong nước).
b/ Thời hạn của giấy phép lao động
11 Nghị định 11/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 02 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc
Trang 15/21
Điều 20 về thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn trong Dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định: “Thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn theo thời hạn của một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định này nhưng chỉ được gia hạn một lần với thời hạn tối đa là 02 năm.” Từ quy định này, có thể hiểu rằng người lao động nước ngoài sẽ không thể tiếp tục làm việc tại Việt Nam sau 4 năm (2 năm trong giấy phép lao động mới và sau đó 2 năm được gia hạn giấy phép lao động).
Chúng tôi kính đề nghị Chính phủ Việt Nam điều chỉnh và quy định trong dự thảo Nghị định rằng, để tiếp tục làm việc tại Việt Nam sau thời hạn 4 năm, người lao động nước ngoài có thể nộp đơn xin cấp giấy phép lao động mới và người nộp đơn không phải rời khỏi Việt Nam trong quá trình gia hạn và chờ lấy giấy phép lao động mới. Ngoài ra, chúng tôi đề nghị Chính phủ quy định rõ hơn về việc liệu đơn đăng ký mới có thể được nộp trước ngày hết hạn của giấy phép làm việc ban đầu hay không. Chúng tôi mong nhận được phản hồi từ Chính phủ và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc này và sắp xếp một cuộc họp tiếp theo để thảo luận thêm. Ngoài ra, đối với những người nước ngoài muốn nộp đơn mới với thời hạn 4 năm, chúng tôi khuyến nghị rằng các tài liệu đã nộp trước đó (và đã được xác thực) được chấp nhận và chỉ những tài liệu mới được cấp (trong vòng 4 năm trở lại đây) mới cần yêu cầu xác minh/chứng nhận/xác thực).
2. Đào tạo về giáo dục trực tuyến cho giáo viên
Trước tiên, chúng tôi cám ơn Chính phủ Việt Nam vì đã bảo vệ những người dân, nhà đầu tư và gia đình – tạo môi điều kiện cho trường họp được mở cửa trở lại vào thời điểm mà đa số trường trên thế giới chưa thể. Điều này khiến chúng tôi rất lạc quan về tương lai của Việt Nam như là một trung tâm về đầu tư và giáo dục mang tính hình mẫu trên thế giới. Với những ảnh hưởng hiện tại mà dịch bệnh COVID-19 đã có đối với nền giáo dục của trẻ em trên toàn thế giới, giáo dục đã nhanh chóng chuyển thể từ mô hình lớp học truyền thống sang mô hình trực tuyến và học từ xa.
Đây là một hình thức giáo dục mới cần đến chuyên môn, đào tạo, kỹ năng công nghệ nhằm đảm bảo có tính ảnh hưởng tới nền giáo dục chất lượng cho học sinh.
Chúng tôi khuyến nghị các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam – cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo – phối hợp với các tổ chức giáo dục quốc tế tại Việt Nam nhằm tổ chức đào tạo giáo viên trong lĩnh vực giáo dục trực tuyến dựa trên kinh nghiệm quốc tế. Đây là cơ hội để tăng cường năng lực cho giáo viên và đáp ứng nhu cầu của học sinh.
3. Mở rộng các trường hợp “di chuyển nội bộ”
Khoản 1, Điều 3, Nghị định 11 quy định: “1. Người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật của một doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam, di chuyển tạm thời trong nội bộ doanh nghiệp sang hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng”.
Theo Điều 2, Thông tư 35/2016/TT-BCT của Bộ Công thương ban hành ngày 28/12/2016, hiện diện thương mại bao gồm các hình thức: “a) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; b) Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; c) Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.”
Quy định về người lao động di chuyển nội bộ doanh nghiệp đang được các Sở Lao động – Thương binh & Xã hội (“LĐTB&XH”) tại các tỉnh, thành phố diễn giải theo hướng chỉ những lao động nước ngoài được cử từ công ty mẹ sang làm việc tại công ty con tại Việt Nam do công ty mẹ đó trực tiếp sở hữu 100% vốn mới được coi là di chuyển nội bộ, còn việc điều chuyển lao động từ các
công ty khác trong tập đoàn (kể cả từ công ty mẹ cấp cao nhất) đến công ty tại Việt Nam hoặc điều chuyển lao động từ công ty mẹ tại nước ngoài đến văn phòng đại diện, chi nhánh của công ty con tại Việt Nam không được coi là di chuyển nội bộ.
Sự diễn giải của Bộ LĐTB&XH về “di chuyển nội bộ” phản ánh sai thực tế huy động nguồn nhân lực toàn cầu của các công ty đa quốc gia. Chúng tôi kính đề nghị Bộ LĐTB&XH xem xét thừa nhận việc điều động nhân viên trong nhóm ở cấp độ toàn cầu là di chuyển nội bộ. Chúng tôi cũng kiến nghị Bộ Công Thương xem xét mở rộng các hình thức hiện diện thương mại tại Việt Nam.
4. Các chính sách hỗ trợ khác:
a/ Thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phái cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ
Mặc dù trước đây, tại Công văn 17862/BTC-TCT ngày 09/12/2014, Bộ Tài chính đã hướng dẫn nguyên tắc không thu thuế nhà thầu đối với khoản hoàn chi phí tiền lương nếu (i) khoản thanh toán của công ty con tại Việt Nam cho công ty mẹ tại nước ngoài chỉ đơn thuần là việc bồi hoàn lại toàn bộ tiền lương và các chi phí thực phát sinh mà công ty nước ngoài đã trả hộ công ty Việt Nam cho các chuyên gia biệt phái sang làm việc tại Việt Nam và (ii) các chuyên gia biệt phái đã kê khai và nộp đầy đủ thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”) cho thu nhập toàn cầu tại Việt Nam. Tuy nhiên, gần đây, một số cơ quan thuế địa phương yêu cầu doanh nghiệp nộp thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phái cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ, với lý do là những nhân viên phái cử này vẫn thuộc sự quản lý của công ty mẹ.
Chúng tôi khuyến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét và có hướng dẫn về việc không thu thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phái cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ để tránh việc các cơ quan thuế địa phương áp dụng các quan điểm truy thu không nhất quán.
b/ Kỳ tính thuế 12 tháng liên tục kể từ ngày đến Việt Nam
Theo quy định, trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch.
Quy định về việc quyết toán thuế cho giai đoạn 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam đã bộc lộ những bất cập trên thực tế như sau:
Việc xác định “ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam” của cá nhân có thể không nhất quán trong nhiều trường hợp, ví dụ:
Trước khi bắt đầu thời gian bổ nhiệm chính thức tại Việt Nam, nếu cá nhân đã đến Việt Nam cho mục đích cá nhân, không liên quan đến công việc thì những ngày này có bị coi là ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hay không.
Nếu cá nhân đã hoàn thành nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam sau đó quay lại Việt Nam công tác trong cùng năm hoặc trong các năm sau thì ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam được xác định như thế nào.
Khi xác định số thuế TNCN còn phải nộp của năm tính thuế thứ hai, theo quy định, số thuế được trừ của giai đoạn trùng giữa hai năm tính thuế là số thuế phân bổ trung bình của năm tính thuế thứ nhất, thay vì số thuế thực tế đã nộp cho giai đoạn trùng. Do vậy, trong trường hợp cá nhân có biến động thu nhập giữa các tháng lớn, có khả năng số thuế phân bổ trung bình của năm tính thuế thứ
Trang 17/21
nhất sẽ khác với số thuế thực tế đã nộp cho giai đoạn trùng, dẫn đến việc phát sinh số thuế nộp thừa hoặc nộp thiếu của năm tính thuế thứ hai, kể cả khi thuế TNCN hàng tháng đã được tính toán và nộp đủ.
Trong trường hợp cá nhân là cá nhân cư trú trong giai đoạn 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam nhưng là cá nhân không cư trú của năm tính thuế thứ 2, việc xác định nghĩa vụ thuế của năm tính thuế thứ 2 chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến nhiều bất cập. Ví dụ: cá nhân lần đầu đến Việt Nam vào 10/05/2018 và lần cuối rời Việt Nam ngày 20/06/2019. Cá nhân có mặt tại Việt Nam trên 183 ngày trong giai đoạn từ 10/05/2018 đến 09/05/2019 và có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn từ 01/01/2019 đến 20/06/2019. Theo đó, cá nhân là cá nhân cư trú trong năm tính thuế từ 10/05/2018 đến 09/05/2019 và là cá nhân không cư trú trong năm tính thuế từ 01/01/2019 đến 20/06/2019. Như vậy, cuối cùng, cá nhân sẽ được coi là cá nhân cư trú hay không cư trú cho giai đoạn từ 01/01/2019 đến 09/05/2019 và việc kê khai thuế cho giai đoạn này sẽ như thế nào?
Phần mềm hỗ trợ kê khai (HTKK) đang chỉ hỗ trợ xác định năm tính thuế theo chẵn tháng (tức từ ngày đầu tháng đến ngày cuối tháng) trong khi năm tính thuế theo 12 tháng liên tục có thể là lẻ tháng. Do đó, thời hạn kê khai thuế theo năm tính thuế đúng và thời hạn kê khai thuế được xác định trên phần mềm quản lý thuế có thể khác nhau, dẫn đến khó khăn và mất thời gian cho cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc đối chiếu và tính toán lãi phạt chậm nộp tiền thuế (nếu có). Trên thế giới và trong khu vực, có nhiều quốc gia chỉ áp dụng năm tính thuế theo năm dương lịch, không áp dụng năm tính thuế 12 tháng liên tục, ví dụ: Lào, Myanmar, Malaysia, Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc). Do đó, cá nhân là công dân của các nước này sẽ gặp khó khăn trong việc xin cấp xác nhận cá nhân cư trú thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại nước ngoài do năm tính thuế không tương đồng.
Chúng tôi kính đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét bỏ việc xác định kỳ tính thuế 12 tháng liên tục để đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế, tránh việc phát sinh các cách hiểu thiếu nhất quán về quy định thuế cũng như để phù hợp với thông lệ quốc tế.
c/ Kê khai phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam đối với người nước ngoài sang Việt Nam công tác ngắn ngày
Theo quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, người nước ngoài có nghĩa vụ kê khai thuế TNCN tại Việt Nam trên phần thu nhập được cho là thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận được từ nước ngoài trong trường hợp cá nhân nước ngoài sang Việt Nam công tác, kể cả chỉ 01 ngày. Quy định này gần như không có nhiều ý nghĩa về mặt thực tế và khiến cá nhân không thể tuân thủ, đặc biệt trong trường hợp cá nhân chỉ sang làm việc ở Việt Nam vài ngày.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã quy định một số trường hợp mà cá nhân nước ngoài được miễn trừ nghĩa vụ kê khai thuế TNCN, nếu có mặt hoặc có thu nhập phát sinh tại nước đó dưới ngưỡng quy định, ví dụ:
Hoa Kỳ: có mặt tại Mỹ không quá 90 ngày/năm tính thuế hoặc có thu nhập phát sinh tại Mỹ không quá 3.000 Đô la Mỹ/năm
Ấn Độ: có mặt tại Ấn Độ không quá 90 ngày/năm
Malaysia, Singapore: có mặt tại các nước này không quá 60 ngày/năm
Ngoài ra, luật lao động cũng có quy định về việc miễn giấy phép lao động cho người nước ngoài sang Việt Nam làm việc dưới 30 ngày/lần hoặc không quá 90 ngày/năm.
Chúng tôi kính đề nghị Bộ Tài chính xem xét và cân nhắc đưa ra quy định về việc cá nhân nước ngoài sang công tác ngắn ngày tại Việt Nam không phải kê khai thuế TNCN tại Việt Nam trên phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận tại nước ngoài nếu thỏa mãn một số điều kiện về số ngày có mặt tại Việt Nam để phù hợp với thông lệ quốc tế, thống nhất giữa quy định thuế và lao động, cũng như tạo điều kiện để việc tuân thủ quy định thuế trở nên khả thi với người nộp thuế.
d/ Khoản học phí được miễn phí cho con của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài
Theo quy định tại Điểm g.7, Khoản 2, Điều 2, Thông tư 111/2013/TT-BTC, “khoản tiền học phí cho con của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả hộ” được coi là thu nhập không chịu thuế TNCN.
Theo Khoản 1, Điều 105, Luật Giáo dục 2005, “học phí, lệ phí tuyển sinh là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục”. Như vậy, học phí, lệ phí tuyển sinh theo quy định tại Luật Giáo dục 2005 là khái niệm rất rộng, có thể hiểu đơn giảm là bao gồm các khoản chi phí phát sinh cho việc học, do các khoản chi này đều góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục.
Do Thông tư 111/2013/TT-BTC không quy định cụ thể khoản học phí không chịu thuế và chịu thuế TNCN bao gồm những khoản nào, một số cơ quan thuế hiện đang tính thuế TNCN đối với cả các khoản như: phí nhập học, phí xây dựng trường, phí học tiếng Anh, v.v. Như vậy, đang có sự không thống nhất giữa định nghĩa học phí được quy định trong Luật Giáo dục với các quy định về thuế.
Chúng tôi kính đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận các khoản chi phí mà học sinh và phụ huynh phải đóng cho nhà trường (ví dụ: phí nhập học, phí xây dựng trường, phí học ngoại ngữ, kỹ năng mềm, v.v.) có phải là học phí hay không. Chúng tôi cũng khuyến nghị Bộ Tài chính quy định cụ thể hơn các khoản tiền học phí không chịu thuế TNCN để đảm bảo quy định thuế được hiểu đầy đủ và nhất quán.
e/ Miễn đóng kinh phí công đoàn (“KPCĐ”) đối với người lao động nước ngoài
Theo Điều 5, Nghị định 191/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về mức đóng và căn cứ đóng KPCĐ như sau: “Mức đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Quỹ tiền lương này là tổng mức tiền lương của những người lao động thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”
Do người lao động nước ngoài bắt đầu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (“BHXH”) bắt buộc từ ngày 01/12/2018 theo hướng dẫn tại Nghị định 143/2018/NĐ-CP ngày 15/10/2018 của Chính phủ (“Nghị định 143”), các liên đoàn lao động địa phương đang yêu cầu doanh nghiệp phải đóng thêm KPCĐ 2% cho đối tượng NLĐ nước ngoài tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, Khoản 1, Điều 5, Luật Công đoàn 2012 quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn như sau: “Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn”. Như vậy, người lao động nước ngoài không thuộc đối tượng gia nhập công đoàn. Do đó, việc yêu cầu doanh nghiệp phải đóng kinh phí công đoàn cho cả đối tượng người nước ngoài – đối tượng không được tham gia công đoàn là vô không có căn cứ.