ĐIỆN KHÍ TỰ NHIÊN HÓA LỎNG (LNG)

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 64 - 67)

B. Tiểu ban Du lịch và Nhà hàng - Khách sạn

I. ĐIỆN KHÍ TỰ NHIÊN HÓA LỎNG (LNG)

Nhu cầu điện ở Việt Nam đang tăng khoảng 10% / năm, tạo áp lực lớn lên ngành điện trong việc đảm bảo nguồn cung ổn định cho phát triển kinh tế và đảm bảo cân đối cung cầu trong chuỗi giá trị. Hiện tại, hỗn hợp năng lượng của Việt Nam chủ yếu dựa vào các nguồn truyền thống như thủy điện, nhiệt điện đang trên đà bão hòa và các nguồn thông thường như than đã bị thế giới loại bỏ do tác động nguy hại đến môi trường. Việt Nam dự đoán sẽ có hỗn hợp năng lượng hợp lý với các nguồn điện sạch như năng lượng tái tạo và thị trường dường như đang cân nhắc đưa khí thiên nhiên hóa lỏng tham gia vào tổ hợp năng lượng bền vững của Việt Nam như một giải pháp thay thế hiệu quả cho than. Mặc dù khí hóa lỏng LNG không phải là loại năng lượng không phát thải carbon, nhưng nó vẫn tốt hơn các nguồn nhiệt điện.

1. Đề án

Vào tháng 3 năm 2016, Đề án Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (Quy hoạch điện VII Điều chỉnh) đã được phê duyệt cho giai đoạn 2016-2030 (Đề án này đang được điều chỉnh thêm và Quy hoạch điện VIII dự kiến hoàn thành vào năm 2020). Theo Quy hoạch điện VII Điều chỉnh, nhiệt điện khí, bao gồm nhiệt điện khí thông thường, bên cạnh điện khí tự nhiên hoá lỏng được đặt mục tiêu đạt 44 tỷ kWh vào năm 2020, 76 tỷ kWh vào năm 2025 và 96 tỷ kWh vào năm 2030. Tổng công suất của các nhà máy nhiệt điện khí được đặt mục tiêu lần lượt đạt 9 triệu kW vào năm 2020, 15 triệu kW vào năm 2025 và 19 triệu kW vào năm 2030.

Bên cạnh đó, Quy hoạch điện VII Điều chỉnh nêu rõ mục tiêu phát triển hệ thống kho cảng khí hóa lỏng LNG tại Sơn Mỹ, Bình Thuận nhằm mục đích cung cấp thêm cho các cơ sở khí với các thiết bị

1 Khuyến cáo: Nội dung trong Báo cáo này chỉ được cung cấp cho mục đích tư vấn và không cấu thành lời khuyên pháp lý hoặc chuyên môn khác. Mặc dù thông tin có thể được coi là đúng và chính xác vào ngày xuất bản, nhưng những thay đổi về hoàn cảnh có thể ảnh hưởng đến tính chính xác và hợp lệ của thông tin. InCham sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm

Trang 2/9

đầu cuối phù hợp cho các trung tâm điện lực như Phú Mỹ và Nhơn Trạch, đây là những trung tâm đi đầu trong việc sản xuất điện khí hoá lỏng LNG.

2. Hình thức đầu tư

Theo quy định của pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam, các dự án điện lớn và không bao gồm các dự án điện tái tạo thường được phát triển dựa trên (i) một nhà sản xuất điện độc lập (IPP); hoặc (ii) dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) (Luật PPP mới hạn chế Bảo lãnh và Cam kết của Chính phủ (GGU) ở mức độ lớn hơn và giới hạn khả năng chuyển đổi tiền tệ ở mức 30%, điều này là không thực tế nhìn từ khía cạnh kinh doanh), thường dưới hình thức một dự án xây dựng - vận hành - chuyển nhượng (BOT). Dự án IPP do tư nhân tài trợ toàn bộ mà không sử dụng bất kỳ nguồn vốn nào từ ngân sách nhà nước, trong khi đó dự án PPP dựa trên sự hợp tác giữa một bên là Nhà nước và một bên tư nhân. So với dự án IPP, cơ chế BOT được ưu tiên hơn vì các đặc điểm khác biệt của nó là đảm bảo an ninh thông qua nhiều bảo lãnh và khuyến khích từ chính phủ. Nói cách khác, thông thường, Chính phủ cấp Bảo lãnh và Cam kết của Chính phủ (GGU) cho các nhà đầu tư và công ty dự án của các dự án điện BOT, chủ yếu bao gồm (i) cung cấp vật tư; (ii) bao tiêu sản phẩm; (iii) mọi nghĩa vụ thanh toán và mọi cam kết tài chính; và (iv) quyền chuyển đổi thanh toán của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) từ Đồng Việt Nam sang Đô la Mỹ và chuyển tiền từ Đô la Mỹ ra nước ngoài.

3. Ưu đãi đầu tư

Dự án nhà máy điện khí hóa lỏng LNG đầu tư theo hình thức PPP có tổng vốn đầu tư hơn 2.300 tỷ đồng (khoảng 100.000.000 USD) thuộc diện ưu đãi đầu tư. Nhà đầu tư sẽ được hưởng các ưu đãi đầu tư khác nhau, có thể minh họa ngắn gọn như sau:

Thuế thu nhập doanh nghiệp: 10% trong 15 năm, mở rộng lên đến 15 năm với Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (“PM”) phê duyệt. Bên cạnh đó, nhà đầu tư được miễn 4 năm đầu và giảm 50%

trong 9 năm tiếp theo;

Thuế nhập khẩu: Dự án LNG được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án;

Tiền thuê đất: Dự án LNG được hưởng ưu đãi về tiền sử dụng đất / tiền thuê đất ngang với dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Tùy theo vị trí của dự án, còn có thể được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất với thời hạn từ 03 năm đến 15 năm hoặc cả thời hạn.

Trường hợp dự án nhà máy điện LNG được đầu tư theo hình thức IPP thì IPP chỉ được hưởng ưu đãi đầu tư như trên nếu dự án đó có tổng vốn đầu tư trên 5.000 tỷ đồng Việt Nam (khoảng 217.000.000 USD) phải được chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

4. Hợp đồng mua bán điện (PPA)

Dự án điện LNG không có PPA mẫu cụ thể như các dự án điện mặt trời hoặc điện gió và khá cởi mở trong việc đàm phán để có được một PPA theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 1.2 (a) Thông tư 56/2014 / TT-BCT của Bộ Công Thương (MoIT), PPA mẫu trong thông tư này được áp dụng cho dự án điện khí LNG. Thông tư 56 không áp dụng đối với dự án IPP theo hình thức BOT.

Mẫu PPA theo Thông tư 56 đã được chứng kiến một số điểm đáng chú ý, bao gồm:

Bao tiêu: Theo Hợp đồng mua bán điện mẫu, EVN hoặc công ty con được ủy quyền tiếp nhận mọi quyền và nghĩa vụ của EVN theo quy định của pháp luật với tư cách là bên mua điện có trách nhiệm bao tiêu toàn bộ sản lượng điện phát lên lưới dự án điện khí LNG có liên quan. Các nhà đầu tư có thể quan tâm đến công ty con do EVN ủy quyền với tư cách là Bên mua, tức là liệu EVN có phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ vi phạm hoặc thất bại nào của công ty con được ủy quyền trong việc thực hiện PPA đã ký với công ty dự án hay không.

Giá hợp đồng: Công thức tính chủ yếu dựa trên 4 yếu tố là chi phí cố định hàng năm, chi phí vận hành và bảo dưỡng cố định hàng tháng, chi phí biến đổi hàng tháng và chi phí vận chuyển nhiên liệu chính. Việc áp dụng các công thức định giá cho phép biến động giá LNG tự động đưa vào biểu giá điện một cách thường xuyên mà không cần đến sự can thiệp của pháp luật là một cách hiệu quả để giảm thiểu rủi ro tài chính cho nhà đầu tư trong trường hợp giá LNG tăng.

Hệ thống đo đếm và đấu nối lưới điện: Bên bán điện chịu trách nhiệm xây dựng và duy trì các công trình đấu nối theo PPA mẫu. Tuy nhiên, PPA mẫu chưa giải quyết các tình huống nhà máy điện bị ngăn không cho phát điện do không có sẵn hoặc các rủi ro khác liên quan đến lưới điện.

Các sự kiện ảnh hưởng đến việc thực hiện PPA: PPA mẫu chỉ cung cấp ba sự kiện (không bao gồm các sự kiện khác) ảnh hưởng đến việc thực hiện PPA bao gồm (i) các sự kiện liên quan đến việc giải thể và phá sản của cả hai bên, (ii) vi phạm nghiêm trọng của PPA không chữa khỏi trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thông báo và (iii) đình chỉ hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quyền can thiệp: Quyền can thiệp là rất quan trọng đối với người cho vay và cho phép họ duy trì các hợp đồng thiết yếu mà công ty dự án đã ký kết trong trường hợp công ty dự án đó không trả được nợ. Đối với dự án PPP, quyền của các bên cho vay thực tế đã được thương lượng rõ ràng.

Tuy nhiên, đối với dự án IPP, quyền can thiệp cũng có thể được thương lượng.

Thay đổi luật pháp: Việt Nam đã đảm bảo được môi trường đầu tư ổn định từ nhiều năm nay, nhưng luật pháp và quy định liên tục thay đổi theo quy hoạch phát triển và nhu cầu của đất nước, điều này gây rủi ro cho các nhà đầu tư đầu tư dài hạn ví dụ như đối với điện LNG. Tuy nhiên, PPA mẫu không đề cập cụ thể các rủi ro thay đổi luật (bao gồm cả việc thay đổi cách giải thích và áp dụng luật). Mặc dù Luật Đầu tư 2014 quy định bảo vệ nhà đầu tư và công ty dự án trong trường hợp có sự thay đổi về luật hoặc chính sách, nhưng trong quá trình đàm phán PPA, các bên có thể xem xét căn cứ vào tranh luận của mình về điều luật nêu trên để có một PPA tiềm năng hơn.

5. Nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng LNG

Khí đóng một vai trò quan trọng trong bối cảnh năng lượng tương lai của Việt Nam, với việc nhập khẩu LNG hiện là đặc điểm chính trong chính sách năng lượng của Việt Nam. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, phát triển ngành công nghiệp khí dựa trên nguyên tắc tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trong nước; phát triển nhập khẩu LNG song song với khai thác nguồn khí mới trong nước để bổ sung nguồn khí đang suy giảm nhằm duy trì khả năng cung cấp khí không bị cản trở cho các hộ tiêu thụ.

Doanh nghiệp nhập khẩu LNG phải đáp ứng đủ các điều kiện theo Điều 6 Nghị định 8787/2018/NĐ- CP của Chính phủ, bao gồm: (i) là công ty được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) sở hữu hoặc có hợp đồng thuê cầu cảng với thời hạn thuê tối thiểu 5 năm và các cầu cảng này phải

Trang 4/9

nằm trong mạng lưới / hệ thống cảng Việt Nam; (iii) sở hữu bình gas hoặc có hợp đồng thuê bình gas đáp ứng tất cả các quy định về an toàn; (iv) đáp ứng các điều kiện về phòng cháy và chữa cháy; và (v) có kho chứa khí hoặc hợp đồng cho thuê kho chứa khí đáp ứng đủ điều kiện lưu thông trên thị trường của thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu khí và kinh doanh khí tồn trữ. Tổ chức kinh doanh nhập khẩu LNG qua đường ống ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại (i), (ii) và (iii) nêu trên phải có đường ống vận chuyển khí và trạm cấp khí đáp ứng đủ điều kiện về an toàn, phòng cháy và chiến đấu. Doanh nghiệp nhập khẩu sẽ được cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức kinh doanh nhập khẩu LNG khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định nêu trên.

6. Nhận xét và đề xuất

Bên cạnh những thuận lợi như tiêu thụ điện năng lớn, chính phủ ngày càng ủng hộ các quan điểm như khuyến khích sử dụng khí nhiều hơn, giá nhân công rẻ ..., tuy nhiên các nhà đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực điện LNG tại Việt Nam có thể gặp nhiều thách thức bao gồm: (i) chi phí đầu tư LNG cao;

(ii) khung pháp lý đang phát triển về điện khí hóa lỏng (LNG-to-power) ở Việt Nam có thể mang lại những bất ổn; (iii) làm việc với các doanh nghiệp nhà nước đôi khi là một công việc khó khăn do cách thức hoạt động của các doanh nghiệp này và nguồn thông tin hạn chế để các nhà đầu tư thực hiện thẩm định doanh nghiệp; và (iv) Việt Nam không có đủ nguồn khí trong nước và phải nhập khẩu nhiên liệu để vận hành các nhà máy điện LNG, đồng nghĩa với việc tăng thêm chi phí.

Khung pháp lý tại Việt Nam về lĩnh vực LNG cần được làm mới để hỗ trợ các cơ hội đầu tư tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, Việt Nam cần duy trì sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế và an ninh năng lượng để Việt Nam không phải đối mặt với tình trạng thiếu điện trong tương lai, đồng thời với vấn đề độc lập kinh tế cho đất nước, Việt Nam nên xây dựng nguồn dự trữ LNG dồi dào và tránh dựa trên mô hình phát điện phụ thuộc chủ yếu vào nhiên liệu nhập khẩu. Các chính sách tốt hơn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thiết lập các cơ sở lưu trữ LNG tại Việt Nam và quốc gia này sẽ được hưởng lợi khi có nguồn nhiên liệu dồi dào để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai.

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 64 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(296 trang)