Đề xuất phát triển ngành sản xuất xe nâng / xe tải công nghiệp Việt Nam

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 43 - 46)

B. Tiểu ban Du lịch và Nhà hàng - Khách sạn

6. Đề xuất phát triển ngành sản xuất xe nâng / xe tải công nghiệp Việt Nam

Hiện tại: Phải nộp thuế hải quan khi nhập khẩu phụ tùng xe nâng để bán trong nước (Tối thiểu 5%

~ Tối đa 25% / Trung bình 15%). Tuy nhiên, khi nhập khẩu và bán xe nâng thành phẩm được miễn thuế / có sự phân biệt đối với các nhà sản xuất trong nước.

Kiến nghị:

 Cần giảm thuế đối với các bộ phận nhập khẩu để sản xuất xe nâng. Mở rộng phạm vi áp dụng các bộ phận dùng cho sản xuất xe nâng (Mã HS 8431.20) hoặc mở rộng việc áp dụng thuế suất 0% đối với các bộ phận chung cho sản xuất xe nâng.

 Cần có các tiêu chuẩn quản lý một cách có hệ thống đối với xe nâng nhập khẩu

 Áp thuế nhập khẩu xe nâng đã hoàn thành: Hiện tại 0% / Áp dụng trong tương lai (trên 30%)

 Bao gồm phê duyệt hình thức Việt Nam cho xe nâng nhập khẩu (đã qua sử dụng và mới)

BÀI PHÁT BIỂU CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM TẠI DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THƯỜNG NIÊN 2020

Trình bày bởi Ông Tetsu Funayama Đại diện

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ Việt Nam vì những nỗ lực hỗ trợ chúng tôi trong suốt thời gian qua, đặc biệt bao gồm vấn đề hoàn thiện môi trường kinh doanh đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Hôm nay, tôi xin thay mặt JCCI đưa ra đề xuất về các biện pháp nhằm xúc tiến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao gồm đầu tư từ các doanh nghiệp Nhật Bản.

Thực tế cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục đà tăng trưởng mạnh trong bối cảnh rất nhiều nền kinh tế trên thế giới đang rơi vào trạng thái trì trệ do ảnh hưởng tiêu cực từ COVID-19. Đây là kết quả xứng đáng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và kịp thời của Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa đà tăng trưởng hiện tại, chúng tôi cho rằng đẩy mạnh thu hút thêm nhiều vốn FDI chính là một trong những chìa khóa quan trọng.

Trong số những doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam, có không ít doanh nghiệp phải đối mặt với các vấn đề khi "Thực hiện dự án đầu tư đã được cấp phép", hoặc khi "Lắp đặt nhà máy sản xuất". Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp cảm thấy bối rối khi gặp vấn đề về "Thuế và lao động", hoặc lo lắng về "Cơ sở hạ tầng năng lượng". Bởi vậy, giải quyết được những vấn đề kể trên sẽ tạo tiền đề quan trọng giúp thu hút nhiều hơn nữa vốn FDI không chỉ từ Nhật Bản mà còn từ nhiều quốc gia khác.

Tôi xin đề xuất hai yêu cầu nhằm giải quyết những vấn đề này.

Đầu tiên là "Bố trí một đầu mối liên hệ chung liên quan đến dự án đầu tư". Tôi mong rằng Chính phủ sẽ bố trí một đầu mối liên hệ chung trong bộ máy chính quyền trung ương để liên lạc với các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương và đối ứng tham vấn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Thông qua trao đổi liên lạc với đầu mối liên hệ này, các doanh nghiệp nước ngoài có thể hiểu một cách chi tiết về thủ tục cần thiết để xin cấp phép đầu tư và thực hiện đầu tư, hiểu về việc áp dụng cụ thể của từng quy định pháp luật trước khi thực hiện đăng ký đầu tư. Điều này sẽ giúp loại bỏ những lo lắng của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, từ đó giảm thiểu phần nào các rủi ro phát sinh trong quá trình “Thực hiện đầu tư”.

Thứ hai là "Tiếp tục hỗ trợ người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam vì mục đích công việc và thực hiện các biện pháp đặc biệt cho người nước ngoài có thể nhập cảnh vào Việt Nam trong thời gian ngắn hạn vì mục đích công việc". Dưới sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam, đến nay đã có khoảng 3.000 người nước ngoài được nhập cảnh vào Việt Nam với mục đích công việc. Tuy nhiên, những người nước ngoài được nhập cảnh vào Việt Nam theo diện trên phần lớn là các vị trí cấp cao của doanh nghiệp đã sinh sống ở Việt Nam trong một thời gian dài. Thực tế cho thấy việc nhập cảnh đối với các kỹ sư sang Việt Nam ngắn hạn để thi công, vận hành thử dây chuyền sản xuất, giải quyết các vấn đề trước khi sản xuất chính thức vẫn còn rất nhiều hạn chế. Chúng tôi rất hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ có những biện pháp, cơ chế đặc biệt đối với các trường hợp nhập cảnh ngắn hạn như đã kể trên.

Bên cạnh việc cải thiện môi trường kinh doanh, về lâu dài, liên quan đến lĩnh vực công nghiệp sản xuất chế tạo, việc “Phát triển công nghiệp vật liệu” và “Giải quyết tận gốc vấn đề năng lượng” là

Trang 2/ 2

những nan đề mà Chính phủ Việt Nam bắt buộc phải lưu tâm. Bên cạnh đó, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc như hiện nay, tôi nghĩ rằng Việt Nam cần phải "Xây dựng một thị trường chứng khoán, cơ chế tài chính minh bạch và công bằng, được vận hành một cách hiệu quả và mở cửa hơn đối với các giao dịch với nước ngoài".

Bên cạnh đó, câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ thực hiện "Chuyển đổi kỹ thuật số" – yếu tố chìa khóa ảnh hưởng tới sự hưng thịnh hay lụi tàn của các doanh nghiệp và việc kinh doanh trong tương lai bằng cách nào? Đây là một đề tài vô cùng quan trọng trong việc quyết định khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặc dù việc ứng dụng chuyển đổi số có thể phải đồng nghĩa với nguy cơ đánh đổi các chính sách về an ninh quốc gia và doanh nghiệp, việc ứng dụng nhanh và đi trước các quốc gia khác sẽ đem lại lợi ích to lớn đối với Việt Nam. Chính vì thế, chúng tôi rất hy vọng Chính phủ sẽ có những hỗ trợ đặc biệt đối với các doanh nghiệp nước ngoài mong muốn đóng góp sức mình cho Việt Nam trong lĩnh vực này.

Tôi tin tưởng rằng dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo tài tình của Chính phủ Việt Nam trong việc thành công đẩy lùi đại dịch COVID-19, thực hiện các chính sách xây dựng môi trường kinh doanh phù hợp để thu hút FDI, cùng những nỗ lực dẫn đầu trong quá trình chuyển đổi số chắc chắn sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng phi mã trong tương lai.

BÁO CÁO CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM TẠI DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THƯỜNG NIÊN 2020

Nhờ nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau bao gồm Chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ Việt Nam, tổng số vốn được chấp thuận đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam trong 4 năm từ năm 2017 đến tháng 8 năm 2020 đạt 20.3 triệu đô la Mỹ. Tính theo vốn đầu tư của từng nước, Nhật Bản trở thành nước có vốn đầu tư lớn thứ 2 tại Việt Nam. Tính riêng từng năm, Nhật Bản là nước có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam trong năm 2017 và 2018.

Nhằm thu hút hơn nữa vốn đầu tư từ Nhật Bản - một nước đang xếp thứ hạng cao về vốn đầu tư lớn vào Việt Nam, phục hồi nền kinh tế Việt Nam dưới tác động của dịch Virus corona chủng mới theo mô hình chữ V và đưa nền kinh tế sang trạng thái bình thường mới của thời kỳ hậu COVID- 19, chúng tôi xin kiến nghị các nội dung sau đây gồm Các vấn đề cũng như đưa ra Giải phápcho các vấn đề đó như sau:

Một phần của tài liệu VBF-2020-Report-VI (Trang 43 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(296 trang)