Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh ảnh hưởng

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 23 - 33)

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.2. Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh ảnh hưởng

3.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Hy Lạp Các công trình tiếng Việt

Các công trình của học giả Việt Nam có quan điểm cho rằng Ấn Độ ảnh hưởng văn hóa thế giới, đặc biệt là phương Tây có công trình Hành trình về phương Đông (Journey to the East) của tác giả Baird T. Spalding (1857-1953) xuất bản năm 1924 ở Ấn Độ được Nguyên Phong dịch và phóng tác và được Nhà xuất bản người Việt công bố tại Việt Nam năm 1988, Những tiếp xúc ban đầu giữa Ấn Độ và phương Tây của Đỗ Thu Hà (2000) đăng trong kỷ yếu của

Hội thảo Khoa học Đông phương học Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội và Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đối với châu Âu, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 3 (45), 2002 cùng tác giả và Đặc trưng văn hóa Ấn Độ và ảnh hưởng của nó với thế giới và Việt Nam của Nguyễn Hoài Văn (2017).

Trong đó, Hành trình về phương Đông kể về những trải nghiệm của một đoàn khoa học gồm các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa học Hoàng gia Anh được cử sang Ấn Độ để nghiên cứu về huyền học và những khả năng siêu nhiên của con người. Suốt hai năm trời các thành viên trong đoàn rong ruổi khắp các đền, chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều pháp thuật, nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí lừa đảo của nhiều pháp sư, đạo sĩ dỏm. Cuối cùng, họ được tiếp xúc với những vị chân tu thông thái sống ẩn dật ở thị trấn hay trên rặng Tuyết Sơn. Nhờ thế, các nhà khoa hoc Anh được chứng kiến, trải nghiệm, hiểu biết sâu sắc về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ như yoga, thiền định, thuật chiêm tinh, các phép dưỡng sinh và chữa bệnh, những kiến thức về nhân duyên, nghiệp báo, luật nhân quả, cõi sống và cõi chết. Tuy nhiên, công trình của Nguyên Phong được dựa trên nguyên tác Life and Teaching of the Masters of the Far East (Cuộc đời và sự nghiệp truyền đạo của những người Thầy ở Viễn Đông) của tác giả Baird T. Spalding. Nguyên tác kể về hành trình của mười một nhà khoa học đến vùng Viễn Đông vào năm 1894 với mục tiêu tìm kiếm những bậc chân sư. Trải qua hơn ba năm ở Ấn Độ, các nhà khoa học đã gặp được bậc chân sư và tận mắt chứng kiến những điều kỳ diệu mà trước đó họ chưa bao giờ nhìn thấy và không thể tin nổi. Họ đã đi từ hoài nghi đến hoàn toàn bị thuyết phục và tin tưởng. Một vài người trong số họ đã quyết định ở lại trải nghiệm cuộc sống giống như các bậc chân sư Ấn Độ, trong đó có nhà khoa học và là tác giả của quyển sách Baird T. Spalding. Công trình cho thấy mãi đến thế kỷ XIX, những hiểu biết của người phương Tây đối với phương Đông vẫn còn hạn chế và xa lạ. Khi tiếp xúc trực tiếp và thực nghiệm, các nhà khoa học phương Tây hoàn toàn bị Ấn Độ chinh phục và làm cho thán phục.

Trong khi đó, Đỗ Thu Hà (2000) lại nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa phương Tây nói chung vào thời kỳ Trung cổ trở về sau và tác

giả khẳng định: “Trong suốt thời kỳ Trung cổ, có rất ít hoặc không có gì liên hệ trực tiếp giữa Ấn Độ và phương Tây.” (tr.463). Theo tác giả thì người phương Tây đến với Ấn Độ ban đầu chỉ là sự tình cờ nhưng dần dần họ đã bị lôi cuốn bởi chiều sâu tâm linh của nền văn hóa và văn minh Ấn Độ. Mối liên hệ liên quan trực tiếp giữa Ấn Độ và phương Tây được thiết lập lần đầu tiên kể từ thời kỳ suy tàn của đế chế La Mã vào năm 1498, Vasco Da Gama đi thuyền buồm tới cảng Calicut, mở ra thời kỳ giao lưu văn hóa Đông-Tây. Tư tưởng triết học trong Upanishad và văn học của Ấn Độ đã ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Đức, Pháp, Anh, v.v…

Tương tự, Nguyễn Hoài Văn (2017) trong bài viết Đặc trưng văn hóa Ấn Độ và ảnh hưởng của nó đối với thế giới và Việt Nam, khi bàn về “tinh thần Ấn Độ” đã cho rằng: ‘Văn hóa Ấn Độ tiếp nhận, đồng hóa nhiều yếu tố văn hóa ngoại nhập đồng thời cũng lan tỏa rộng rãi ảnh hưởng của mình ra thế giới.’

Tác giả đã chỉ ra sự tiếp xúc và giao lưu của Ấn Độ với thế giới bên ngoài qua ba cửa ngõ:

“Một là qua hướng Tây Bắc, Ấn Độ đã thường xuyên tiếp xúc, đón nhận những ảnh hưởng của các tộc người ở cao nguyên Afghanistan, Iran, Trung Cận Đông và Địa Trung Hải; hai là cửa ngõ Đông Bắc tiếp xúc với thế giới da vàng, và ba là đường biển tiếp xúc với các chủng tộc có da màu sẫm.”(tr.103)

Những cuộc giao lưu ở cửa ngõ Tây Bắc về tính chất được tác giả đánh giá

một mặt là tự nhiên, mặt khác do cưỡng bức”. Về địa lý, địa hình nơi đây nổi tiếng với ngọn đèo Khyber, kết nối vùng Kabul và Peshawar, và là cửa ngõ tiếp xúc với các tộc người và đạo quân xâm lược từ bên ngoài vào tiểu lục địa Ấn Độ. Nguyễn Hoài Văn (2017) đã nhận định: “Ấn Độ đã tồn tại trong lịch sử như một đất nước vừa mang tính chất đóng kín vừa mang tính chất giao lưu.”

Song, công trình của Nguyễn Hoài Văn không tập trung vào đề tài giao lưu văn hóa ở Ấn Độ mà chỉ khái quát giai đoạn này và đưa ra một số nhận định đánh giá xác đáng về sự đóng góp của giai đoạn giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và các quốc gia Hy Lạp hóa vào sự phong phú của nền văn hóa Ấn mà thôi. Ngược

lại, Nguyễn Hoài Văn nhấn mạnh sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa thế giới nói chung trong đó có Việt Nam. Về nội dung nghệ thuật, Lương Ninh (1994) và Lê Thị Liên (2006) đã phân tích chi tiết về nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đông Nam Á và ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thế nhưng, các tác giả chỉ xem xét những tiếp biến và ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ ở Đông Nam Á và Đồng bằng sông Cửu Long, chứ chưa giải quyết sự hình thành và các yếu tố ngoại sinh của mỹ học Ấn Độ.

Các công trình tiếng Anh

Pococke (1862) trong công trình India and Greece: or truth in mythology (Ấn Độ và Hy Lạp: hay chân lý trong huyền thoại) khẳng định rằng Ấn Độ ảnh hưởng Hy Lạp về mọi mặt từ ngôn ngữ, triết học, tôn giáo, sông, núi, các tộc người, tầng lớp trí thức, thể chế chính trị,… Tác giả cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy Hy Lạp đã từng là thuộc địa của Ấn Độ. Pococke (1862) so sánh trường hợp thuộc địa Ấn Độ ở Hy Lạp với trường hợp Saxons ở Anh (tr.19).

Tuy nhiên, quan điểm của tác giả chưa nhận được sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu thế giới khi cho rằng Ấn Độ từng cai trị Hy Lạp trong lịch sử.

Công trình Greek image of the Indian society (Cảm nhận của người Hy Lạp về xã hội Ấn Độ) của tác giả Arora (1982) cho rằng người Hy Lạp bắt đầu tiếp xúc với người Ấn Độ vào triều đại của đế chế Ba Tư. Khi cả hai cùng phục vụ trong triều đại này, người Hy Lạp có cơ hội và điều kiện học tập người Ấn Độ và chính những người Hy Lạp ở Ionia đã giúp lan tỏa tư tưởng Ấn Độ. Arora đã tham khảo các tài liệu ghi chép về Ấn Độ của những nhà du hành và sử gia Hy Lạp để chỉ ra sự giao lưu tiếp xúc giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại. Theo tác giả, khi Alexander và đoàn quân của ông đến Ấn Độ đã đụng độ với những người Bà la môn. Những người Bà la môn chia thành hai nhóm: nhóm phản đối sự xâm lược của Alexander và nhóm những nhà thông thái “wise-men”. Tác giả cho rằng chính những nhà thông thái Ấn Độ đã ảnh hưởng những kẻ xâm lược (tr.472). Tuy nhiên, công trình nghiên cứu dưới góc nhìn lịch sử, mà chưa phân tích và xem xét vấn đề dưới góc nhìn văn hóa, đặc biệt là giao lưu tiếp biến văn hóa.

Có thể nói công trình The Greek Experience of India: from Alexander to the Indo-Greeks của Richard Stoneman (2019) là công trình mới nhất và cập nhật liên quan đến đề tài luận án. Vào tháng 1 năm 1784, Hiệp Hội Châu Á Bengal được thành lập tại Calcutta, William Jones (1746-1794) được bổ nhiệm làm Chủ tịch (Harisha, 2019, tr.6). Hiệp hội đã ra mắt Tạp chí Asiatic Research Journal (Tạp chí Nghiên cứu Châu Á) để xuất bản các bài viết về tôn giáo so sánh, nghiên cứu so sánh ngôn ngữ, văn hóa Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ. William Jones, Chủ tịch Hội, nghiên cứu và đã phát hiện ra rằng vua Chandragupta của Ấn Độ cổ đại không ai khác hơn là vua Sandrokottos được đề cập trong nhiều tài liệu của Hy Lạp. Điều này đã cung cấp cho các nhà Ấn Độ học cơ sở quan trọng để nghiên cứu so sánh ảnh hưởng giữa Ấn Độ và Hy Lạp. Stoneman đã nghiên cứu giai đoạn tiếp xúc Ấn Độ và Hy Lạp trong và sau cuộc Đông chinh của Alexander. Công trình của Stoneman có thể làm thay đổi định kiến của phương Tây về Ấn Độ bằng việc so sánh nguồn tài liệu Ấn Độ và nguồn tài liệu Hy Lạp.

Stoneman cho rằng cuộc Đông chinh của Alexander đã giúp thúc đẩy giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù Stoneman nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Ấn Độ đối với tư tưởng Hy Lạp, nhưng tác giả bác bỏ quan điểm tái sinh của Pythagoras và nguồn gốc linh hồn của Plato chịu sự ảnh hưởng của Ấn Độ.

3.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu yếu tố Hy Lạp trong văn hóa Ấn Độ Các công trình tiếng Việt

Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng Hy Lạp ảnh hưởng Ấn Độ ở Việt Nam còn khá khiêm tốn, cho thấy các học giả Việt Nam chưa quan tâm đến mảng đề tài này. Trong khi đó, bài viết Ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp lên nét điêu khắc của Phật giáo (Quảng Anh, 2011), đã bàn luận khá sâu sắc về “mỹ lệ Hy Lạp” và sự lan tỏa của nghệ thuật Phật giáo ở một vùng rộng lớn từ vùng Gandhara (thuộc miền Bắc Ấn Độ xưa), đến Trung Đông, rồi Trung Hoa và Nhật Bản và con đường Tơ lụa đóng vai trò quan trọng cho sự lan tỏa này. Mặc dù tác giả cho rằng: “Nghệ thuật Hy Lạp đã truyền đi dọc theo đường Tơ lụa từ Hy Lạp qua nhiều thành thị đến miền Bắc Ấn Độ, rồi sang Trung Hoa và Nhật

Bản bằng hai đường chính yếu: một là đường ngang qua Ấn Độ, một đi lên phía Bắc tới Hắc Hải”, tác giả đã không bình luận gì thêm về sự ảnh hưởng của mỹ thuật Hy Lạp đến nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ khi lan tỏa đến miền Bắc của đất nước này. Xét về mặt chủ thể, rõ ràng Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo, nhưng ai là chủ nhân của nghệ thuật Phật giáo? Trong nền nghệ thuật này, chúng ta thấy có sự xuất hiện đậm nét của những đặc điểm nghệ thuật Hy Lạp. Những câu hỏi liên quan đến sự hình thành, phát triển của nghệ thuật Phật giáo qua sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa diễn ra ở đây còn bỏ ngỏ chưa được giải quyết một cách thấu đáo. Hơn nữa, tác giả cũng bỏ qua các yếu tố nội tại, nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo ở Ấn Độ là do sự thống trị của các triều đại Hy Lạp và nửa Hy Lạp (Indo-Greek) ở Gandhara, miền Bắc Ấn Độ. Mặt khác, công trình ‘Ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp lên nét điêu khắc của Phật giáo’ chỉ ở dạng một bài báo nên không thể nghiên cứu chuyên sâu và giải quyết vấn đề một cách thấu đáo.

Các công trình tiếng Anh

Công trình The Influence of Greek Classics on Indian Culture in Ancient Era (Sự ảnh hưởng của cổ điển Hy Lạp đối với văn hóa Ấn Độ thời cổ đại) của ba học giả Trung Quốc Shumaila Firdos Yu, Wenjie Xu, và Sangyi (2017) cho rằng người Hy Lạp cổ đại là những nhà phát minh sản sinh ra nhiều yếu tố văn minh hơn bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Các công trình nghệ thuật và tư tưởng Hy Lạp được xem như là những hình mẫu chuẩn mực của thành tựu. Các tác giả cho rằng Hy Lạp đã ảnh hưởng nhiều mặt đến văn hóa Ấn Độ bao gồm nghệ thuật, ngôn ngữ và văn hóa, trong đó, quan trọng nhất là sự phát triển tôn giáo ở Ấn Độ là kết quả của sự tiếp xúc, giao lưu giữa Ấn Độ và Hy Lạp. Các tác giả lý giải nhân tố ảnh hưởng của Hy Lạp đối với Ấn Độ. Theo quan điểm của các tác giả, Ấn Độ với xã hội-chính trị kém phát triển hơn Hy Lạp đã bị Hy Lạp ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực đời sống và những dấu ấn Hy Lạp có thể vẫn còn hiện diện trong xã hội Ấn Độ ngày nay (tr.204). Tuy nhiên, nhận định này của các tác giả đúng nhưng chưa đủ và khá chủ quan khi cho rằng Ấn Độ có xã hội- chính trị kém phát triển. Các tác giả đã quên rằng với hơn 5000 năm lịch sử,

Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại và văn hóa thế giới nhiều giá trị vẫn tồn tại đến ngày nay. Đó là các giá trị tôn giáo (Phật giáo, Hindu giáo và Jain giáo), giá trị triết học (Veda và Upanishad), Yoga, thiên văn và y học,… Vì vậy, rất cần thiết nghiên cứu vấn đề để đánh giá mối giao lưu Ấn Độ và Hy Lạp một cách đúng đắn, đầy đủ và khách quan hơn.

Trước đây, khi chưa nhận thức đầy đủ về nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, một nhà phê bình nghệ thuật có tầm ảnh hưởng lúc bấy giờ là John Ruskin (1811- 1900) cho rằng nghệ thuật Ấn Độ là “nguyên mẫu của nghệ thuật xấu xí trên toàn trái đất” (Ruskin, 1872, tr. 200). Tuy nhiên, James Fergusson, một nhà nghiên cứu tiên phong và chuyên gia nghiên cứu về nghệ thuật Ấn Độ đã phát hiện ra rằng không chỉ trường phái nghệ thuật Gandhara mà nghệ thuật Amaravati cũng chịu sự ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp (Fergusson, 1873, tr.

6). Cùng đồng thuận với quan điểm của James Fergusson, một nhà nghiên cứu uy tín về khảo cổ học Ấn Độ là Alexander Cunningham trong các công trình nghiên cứu của mình cũng cho rằng: “Tác phẩm điêu khắc Ấn Độ tốt nhất chỉ có ý nghĩa trong phạm vi mà nó giống như các mẫu vật của nghệ thuật Hy Lạp

(the finest Indian sculpture was significant only to the extent that it resembled specimens of Greek art (Cunningham, 1854, tr.125-26). Các nhà nghiên cứu cho thấy sự phát triển trong nghệ thuật Ấn Độ từ những hình mẫu xấu xí đến hình mẫu hoàn hảo nhờ vào yếu tố Hy Lạp. Không chỉ dừng lại ở bình diện nghệ thuật, trong công trình “Hellenism in Ancient India” (Hy Lạp hóa ở Ấn Độ cổ đại), Gauranga Nath Banerjee (1920) đã phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hy Lạp đối với văn hóa Ấn Độ trên các bình diện như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, nghệ thuật đúc tiền, chiêm tinh học, toán học, y học, nghệ thuật chữ viết, văn học, kịch nghệ, tôn giáo, triết học, và thần thoại. Ông cho rằng Hy Lạp đã góp phần dù nhỏ vào nền văn minh của Ấn Độ cổ đại:

“Greece has played a part, but no means a predominant part, in the civilization of ancient India.” (tr.26). Tuy nhiên, Hy Lạp không những ảnh hưởng Ấn Độ mà Hy Lạp cũng bị Ấn Độ chinh phục, nhưng vấn đề chưa được tác giả quan tâm làm rõ.

Trong khi Banerjee (1920) cho rằng sự giao lưu với phương Tây là động lực thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật bản địa Ấn Độ và sự ra đời của triều đại Maurya đã cho thấy sự phục hưng của Ấn Độ sau thời gian dài hỗn loạn do chiến tranh và cũng là kết quả gián tiếp của cuộc Đông chinh của Alexander (Banerjee, 1920, tr.23). Một số học giả như Havell (1908) và Coomarswamy (1956) cho rằng nghệ thuật Ấn Độ mang yếu tố nội sinh và sự giao lưu giữa Ấn Độ và Hy Lạp là do vấn đề chiến tranh và thương mại mà thôi. Tương tự, Smith (1908) cũng cho rằng cuộc Đông chinh của Alexander Đại Đế không ảnh hưởng gì đến văn hóa Ấn Độ. Ấn Độ không hề bị Hy Lạp hóa khi tất cả sự cai trị của Hy Lạp kết thúc ở đây (Smith, 1908, tr. 110). Vấn đề còn nhiều tranh cãi và chưa có sự thống nhất giữa các học giả. Trong khi Havell (1908) và Coomarswamy (1956) vừa công nhận sự giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ với Hy Lạp nhưng lại vừa phủ nhận mối giao lưu này khi cho rằng đó là do chiến tranh và thương mại mang lại. Nhưng ở khía cạnh nào đó thì mối giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp là sự tất yếu cho dù tự nguyện hay cưỡng bức.

Công trình của Coomarswamy (1974) về ‘The Influence of Greek on Indian Art’ (Ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật Ấn Độ) đã bình luận khá chi tiết về nguồn gốc của nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ. Ông đưa ra nhiều giả thuyết rằng: thứ nhất, nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ cổ đại làm từ vật liệu nhẹ như gỗ, đất sét, đất nung, vàng, đồng, tuyệt nhiên không có tác phẩm nào được làm tự chất liệu đá; thứ hai, nghệ thuật Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật vùng Địa Trung Hải và sự tương đồng này là do cùng gốc: “The Sources of Mediterranean and Indian Decorative Art Are due rather to a Common Origin, than Borrowing in either Direction” (Vol.8, No.1 Winter,1974). Tương tự, Coomarswamy cũng cho rằng nghệ thuật điêu khắc đá là do ảnh hưởng từ Hy Lạp. Song, công trình của ông chỉ mới đưa ra nhận định sơ khởi và phỏng đoán chứ chưa đi sâu và làm rõ yếu tố Hy Lạp trong nghệ thuật Ấn Độ.

Công trình “Hellenistic India” (Ấn Độ Hy Lạp hóa), tác giả Mairs (2006) đã so sánh thời kỳ Hy Lạp ở Ấn Độ cổ đại và thời kỳ thuộc Anh của Ấn Độ.

Ông cho rằng Ấn Độ trong lịch sử đã từng là thuộc địa của Hy Lạp và chỉ ra

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 23 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(264 trang)