Đức Phật ở tại ấp Di-na, dưới rừng A-nậu.240 Bấy giờ, những người quý tộc dòng họ Thích, phần nhiều xuất gia học đạo theo đức Phật. Khi ấy, Thích-ma-nam241 nói với A-na-luật:242
“Nay các quý tộc đều xuất gia tu Phạm hạnh, tại sao riêng anh em chúng ta lại không? Nếu anh xuất gia thì em làm chủ việc nhà, nếu em xuất gia thì anh sẽ lo liệu”.
A-na-luật nói:
“Anh243 cứ đi xuất gia, em sẽ làm chủ việc nhà”.
Thích-ma-nam nói:
“Trước đây (mọi việc)* nhà do anh, em chỉ biết hưởng nhàn, mà không biết gian nan, song xuất gia hành đạo cũng lại khổ sở! Nay em ở nhà, anh sẽ chỉ cho em phương pháp quản lý gia nghiệp”.
(Thích-ma-nam)* liền hướng dẫn mọi việc, ban ngày phải như vậy, ban đêm phải như vậy, phương pháp làm ruộng, cách điều hành mua bán hàng hóa, chỉ bày mọi việc.
A-na-luật nói:
“Nếu quản lý gia nghiệp mà phải như vậy mới được thành công, [17a01] thì một ngày em cũng không thể quản lý nổi. Xin, anh ở nhà, em sẽ đi xuất gia (tu đạo)”.
Thích-ma-nam nói:
“Theo chư Phật Thế Tôn, cha mẹ không cho phép thì không được làm đạo. Nay em nên tự đến trình thưa với mẹ”.
A-na-luật liền đến thưa:
“Con muốn xuất gia học đạo ở trong Phật pháp”.
Mẹ bảo:
“Ta chỉ có hai anh em con, tình thương yêu rất nặng, làm sao sống mà xa cách cho được!? Nhà ta rất giàu có, tu công đức tùy thích, sao phải xuất gia để làm tổn thương ý này của mẹ!?”
Khổ cầu đến ba lần, mẹ bèn nói:
“Nếu vua Bạt-đề244 xuất gia thì mẹ cũng cho phép con”.
Lúc ấy, vua Bạt-đề cùng A-na-luật, A-nan,245 Nan-đề,246 Điều- đạt,247 Bà-bà,248 Kim-bệ-lô249 các vị thương mến nhau rất nặng, nếu có làm việc gì thề không trái nhau.
Bấy giờ, A-na-luật đến nói vua Bạt-đề:
“Nay có chút việc xin được bày tỏ”.
Vua nói:
“Chúng ta vốn đã thề nặng là không làm trái nhau, nếu làm trái nhau thì đầu sẽ bị vỡ thành bảy mảnh. Chỉ cần theo ý nguyện, quyết sẽ làm theo”.
A-na-luật liền đem những gì mẹ đã nói thưa lên vua. vua nói:
“Theo như nguyện này của bạn, tôi chưa có thể tùy thuận. Vì sao? Vì ý nguyện làm vua của tôi, hôm nay mới bắt đầu có kết quả. Thân tộc tôi tuy giàu sang, nhưng sự lo lắng không thể không có, làm sao có thể bỏ nó để xuất gia học đạo?”
A-na-luật nói:
“Nếu vua xuất gia thì ý nguyện của tôi mới toại, tham đắm sự phồn vinh thì tôi sẽ vĩnh viễn trầm luân. Xin vua ba lần, nên suy nghĩ đừng để trái với lời thề trước kia”.
Vua Bạt-đề nói:
“Sẽ theo ý nguyện của bạn, nhưng để lui cho tôi bảy năm, sau đó sẽ cùng bạn xuất gia học đạo”.
A-na-luật nói:
“Sau bảy năm chưa chắc đức Phật còn tại thế? Hơn nữa, tính mạng nguy thúy của tôi khó mà bảo toàn. Tại sao nay vua lại đem nó ra để hẹn?”
Vua lại nói:
“Bảy năm nếu lâu thì có thể sáu năm?”
Trả lời cũng như trên, từ năm, bốn, ba, hai đến một năm, rồi từ bảy tháng đến còn một tháng, từ bảy ngày đến còn một ngày đều cũng như vậy.
Nhà vua nói:
“Chúng ta là gia chủ,250 đông như vậy làm sao tiện lợi mà đi. Cần phải tạo phương tiện, trang bị xa giá xuất hành, nhân cuộc vi hành này mới có thể được. Tiện đây bạn có thể nói với A-nan-đà cùng các vị để biết ý này”.
A-na-luật liền thông báo hết với năm người, năm người vui mừng thuận ý. Liền trong đêm trang bị bốn loại binh (voi, ngựa, xe, lính bộ) trang sức bề ngoài nhất đời, trời vừa sáng thì họ xuất hành, tham quan du ngoạn xong, âm thầm dẫn theo người thợ cạo tóc Ưu-ba-ly,251 bỏ lại hết những người tùy tùng, tìm đến chỗ thanh vắng, y phục quý báu biếu cho Ưu-ba-li, nhờ ông cạo tóc, thay đổi y phục mà đi. (Bảy người)* đi chưa được bao lâu, Ưu-ba-ly nghĩ như vầy: “Các hào tộc dòng họ Thích cường bạo, nếu biết ta cạo đầu cho những người này, chắc họ sẽ giết ta. Hơn nữa, các quý tộc này còn có thể bỏ nhà (đi xuất gia)*,[17b01] nay ta tại sao không bỏ đồ nghề hớt tóc và các y phục quý giá này theo họ mà đi!” Rồi liền tự cạo đầu, đem các y phục quý báu treo trên cây, nghĩ như vầy: “Ai cần thì lấy nó”. Ngay lúc đó đi thật nhanh, trong chốc lát đuổi theo kịp và nói với bảy người: “Nay tôi cũng muốn theo (quí vị)* xuất gia”.
Bảy người liền chấp thuận, rồi cùng đi đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch:
“Kính bạch đức Thế Tôn, nay chúng con muốn xuất gia tịnh tu Phạm hạnh mà Ưu-ba-ly là người nô bộc của chúng con, xin Ngài cho ông ta thọ Cụ túc giới trước, sau mới độ chúng con,252 để cho chúng con và mọi người dòng họ Thích phá lòng kiêu mạn lớn đối với người kia”.
Đức Phật liền độ Ưu-ba-ly trước, độ bảy người sau.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ như vầy: “Ca-duy-la-vệ253 cách đây không xa, những người dòng họ Thích biết việc này sẽ gây trở ngại”, liền đưa tám người đến thành Bạt-đề-la,254 ở dưới cây Võng Lâm, vì họ nói diệu pháp về:
Nhãn vô thường, sắc vô thường; nhãn thức, nhãn xúc; nhãn xúc làm duyên sanh thọ vô thường… cho đến ý vô thường, pháp vô thường; ý thức, ý xúc; ý xúc làm duyên sanh thọ vô thường. Các ngươi là Thánh đệ tử nên quán như vậy, sanh tâm yểm ly, sẽ đắc trí giải thoát, việc làm đã xong, Phạm hạnh đã lập, không tái sanh đời sau.
Lúc nói pháp này, sáu người lậu hết, đắc A-la-hán. A-nan vì hầu Phật, các lậu chưa hết. Điều-đạt, người duy nhất không thu hoạch được chi.255
Vua Bạt-đề đắc A-la-hán rồi, tâm tịnh không sợ hãi, hoặc ở dưới bóng cây, ngồi nơi đất trống, kinh hành, tự vui sướng, thốt lên:
“Khoái thay! Khoái thay!”
Lúc ấy, có Tỳ-kheo khác nghe câu nói đó, nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo Bạt-đề chắc nhớ chuyện vui thế gian, không thích Phạm hạnh”. Liền đến bạch Phật:
“Vừa rồi con nghe Bạt-đề nói: ‘Khoái thay! Khoái thay!’, chắc nhớ lại chuyện vui khi còn làm vua, không thích sống Phạm hạnh”.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo ấy:
“Ngươi có thể gọi đến đây”.
Liền đến nói:
“Đại sư cho gọi ông”.
Bạt-đề liền đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Đức Phật hỏi Bạt-đề:
“Thật sự ông có nói ‘Khoái thay!’ phải không?”
Bạt-đề thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn”.
Lại hỏi Bạt-đề:
“Ông thấy được nghĩa gì mà nói khoái thay!?”
Bạt-đề thưa:
“Xưa kia con ở tại gia, con sống trong bảy lớp hào thành, bảy hàng voi, bảy hàng ngựa, bảy hàng xe, bảy hàng bộ binh; bốn loại binh bao quanh,
mà bỗng nghe một tiếng gì khác lạ lòng kinh hoàng, lông dựng lên. Nay ở dưới bóng cây, nơi đất trống mà thản nhiên không lo, cho nên con đã nói
‘khoái thay!’”.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Bạt-đề đã đắc La-hán, mà không thích Phạm hạnh là điều không thể có”.
Bấy giờ, đức Phật vì Bạt-đề nói bài kệ:
[17c01] Khoái thay! A-la-hán, Không bị ân ái buộc,
Đã phá dục, sân, si, Lại không bị lưới bủa.
Đã đến nơi Niết-bàn, Không còn tâm uế trược, Không nhiễm đắm nơi đời, Giải thoát không các lậu.
Thấu triệt về năm uẩn, Dạo qua bảy rừng pháp, Nơi sở hành đại long, Đã thắng mọi khủng bố, Thành tựu mười chủng phần.
Long đức Tam-muội thiền, Hết tất cả hữu lậu,
Là đệ nhất thế gian, Bất động, không sợ hãi.
Không tái sanh đời sau, Đã dứt, chỗ tịch diệt, Hằng không báo khổ vui, Trụ nơi trí vô học.
Thân này là cuối cùng, Phạm hạnh kiên cố lập, Không có điều không tin, Trên đời, trong trời đất, Lại không mọi dục lạc.
Đây gọi sư tử rống, Không thể hơn đức Phật.
2. Nhân duyên Chúng Lạc (A-xà-thế)256
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng các Đại đức Thanh văn nhận lời mời của Long vương A-nậu-đạt.257 Điều-đạt vì chưa đắt thần thông nên không thể
đi được, xấu hổ vô cùng, liền nghĩ như vầy: “Nay ta nên hỏi pháp tu thần thông”. Liền đến bạch Phật:
“Xin Phật vì con dạy pháp tu thần thông”.258
Đức Phật vì ông mà dạy, Điều-đạt thọ giáo. Trong thời gian an cư, tiện đắc thần thông. Được thần thông rồi, suy nghĩ như vầy: “Ai nên giáo hóa trước? Rồi nghĩ như vầy: “Thái tử con vua Bình-sa259 tên Chúng Lạc, trước hết nên hóa đạo người này, sau đó ta sẽ giáo hóa những người khác”.
Nghĩ như vậy rồi, (Điều-đạt)* liền biến mất khỏi nơi Võng Lâm, hiện thành một đứa trẻ nít nằm ngửa, mút ngón tay, ở trên giường Thái tử. Thái tử thấy đứa trẻ, hoảng sợ vô cùng, hỏi:
“Ngươi là trời hay là quỷ thần?”
Trả lời:
“Tôi là Điều-đạt, đừng nên sợ hãi”.
Thái tử nói:
“Nếu là Điều-đạt thì nên hiện nguyên hình trở lại”.
Liền biến lại hình thái260 như cũ. Thái tử hoan hỷ, tôn thờ làm thầy, hằng ngày đến thăm hỏi, đem theo năm trăm cỗ xe. Điều-đạt lại hóa làm năm trăm đứa trẻ nằm ngửa, mút ngón tay trên xe. Lại dùng năm trăm cỗ xe chở thức ăn ngon bổ đến cúng dường. Lúc ấy, người trong nước đều cho đây là việc hiếm có, nói: “Điều-đạt có đại thần lực biến hóa như vậy, nên khiến thái tử [18a01] hằng ngày đến thăm hỏi, cúng dường các thức ăn ngon bổ”.
Ở đây, Điều-đạt không tự lượng sức mình, bèn muốn thu nhận nuôi dưỡng đồ chúng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ra khỏi Võng Lâm du hành trong nhân gian, đến nước Câu-xá-di,261 trú tại vườn Cù-sư-la.262 Khi ấy, Mục-kiền-liên đang ở một nơi riêng biệt. Nước này, trước đây có Kiều-trần-như Tử gọi là Kha- hưu,263 tịnh tu Phạm hạnh, đắc quả A-na-hàm, sanh lên cõi Phạm Thiên.264 Nửa đêm vắng lặng, từ cõi trời giáng hạ, phóng ánh sáng lớn, đến chỗ Mục-liên,265 đầu mặt kính lễ sát chân, thưa với Mục-liên: “Nay Điều-đạt, hiện các thần thông biến hóa thu phục266 thái tử Chúng Lạc và muốn nuôi đồ chúng, sợ ông ta (mưu tâm)* chắc sẽ phá hòa hiệp Tăng”.
Nói như vậy rồi biến mất.
Sáng sớm hôm đó, Mục-liên sửa y phục, đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ điều Kha-hưu vừa nói lên đức Phật. Đức Phật hỏi Mục-liên:
“Ý ông thế nào? Có đúng như lời Kha-hưu nói không?”
Thưa:
“Ý con cũng như vậy”.
Đức Phật bảo Mục-liên:
“Đừng nói lời ấy, tại sao vậy? Vì trên trời, dưới trời, không thấy Sa- môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm nào có thể thống lãnh đồ chúng của Phật”.267
Lại bảo Mục-liên: “Ở đời có năm hạng thầy,268 hiện nay đều có mặt:
1. Giới không thanh tịnh, tự nói thanh tịnh. Các đệ tử của họ đều biết sự thật, nhưng che giấu tội lỗi của họ để mong cầu lợi dưỡng.
2. Tà mạng, nịnh hót, quanh co, tự nói mình chánh trực; nhưng các đệ tử cũng che giấu điều đó.
3. Nói điều bất thiện, tự nói là lời thiện; nhưng các đệ tử vui mừng cho là thiện.
4. Kiến giải không thanh tịnh, tự nói là thanh tịnh, nhưng các đệ tử cho rằng kiến giải tịnh.
5. Nói lời phi pháp luật, nói là pháp luật, nhưng các đệ tử cũng cho là đúng pháp, mà không thể khiến cho người trí tin nhận.
Này Mục-liên, Như Lai giới tịnh, không có nịnh hót quanh co, lời nói không bất thiện, tri kiến thanh tịnh, nói năng như pháp, người trí tin nhận, không cần đệ tử che giấu và khen ngợi.
Bấy giờ có Tỳ-kheo khác ở thành Vương Xá, an cư xong, mặc y bưng bát đến chỗ đức Phật, bạch: “Kính bạch đức Thế Tôn, Điều-đạt thu phục thái tử Chúng Lạc, hiện làm một đứa trẻ…. cho đến cúng dường các thức ăn ngon bổ”.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chớ hâm mộ những biến hóa này do Điều-đạt đã tạo ra để mong cầu lợi dưỡng. Nếu ai thọ nhận sự cung kính cúng dường này thì sẽ chịu mọi thống khổ lâu dài tăng thêm. Cũng như con chó dữ, dùng gậy đánh nó, nó sẽ lại dữ thêm. Điều-đạt cũng như vậy, nhận được nhiều sự cúng dường, phiền não lại tăng thêm”.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói bài kệ:
[18b01] Người ngu thêm ác kia, Do lợi dưỡng sanh ra.
Người si đoạn pháp thiện, Giống như đầu lìa thân.
Không tu hạnh thanh tịnh, Mà muốn nuôi đồ chúng, Muốn ngồi trên mọi người, Mong tất cả tôn kính.
Có người cầu lợi dưỡng, Có người cầu Nê-hoàn, Lợi dưỡng hại pháp thiện.
Tịch diệt trừ xan tham.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Cây chuối, cây trúc, cây lau do ra quả mà chết. Con Cự Hư269 mang thai cũng bỏ mạng mình. Nay Điều-đạt tham cầu lợi dưỡng cũng lại như vậy”.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này, nói bài kệ:
Cây chuối vì quả chết, Trúc, lau cũng như vậy.
Cự Hư mang thai chết, Kẻ sĩ tham tự mất.
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di, tuần tự du hành đến thành Vương Xá, trú nơi núi Kỳ-xà-quật. Ngài được Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà- tắc, Ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, cư sĩ cúng dường y thực, ngọa cụ và các thuốc men, cung kính, tôn trọng, khen ngợi, nhưng Ngài không hề nhiễm trước, giống như bông sen.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Điều- đạt từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, để trống vai bên hữu, đầu mặt đảnh lễ sát chân, quỳ gối chắp tay bạch Phật:
“Kính bạch đức Thế Tôn, cúi xin Ngài an trụ, nay con sẽ tự thống lãnh chúng Tăng”.
Đức Phật nói với Điều-đạt:
“Xá-lợi-phất, Mục-liên còn chưa thể thống lãnh đồ chúng của Ta, huống nữa ông, người ngu si, ăn đờm dãi ư!”270
Khi ấy Điều-đạt nổi lòng phẫn hận: “Tại sao trước đại chúng, Đức Thế Tôn lại mạ nhục ta thậm tệ như thế!” Do sanh ác tâm với đức Phật nên Điều-đạt bắt đầu tổn giảm thần túc. Lại nghĩ như vầy: “Đức Phật khen ngợi Xá-lợi-phất, Mục-liên mà hủy nhục ta”. Rồi lại sanh ác tâm với Xá-lợi-phất và Mục-liên, đó là lần thứ hai bị tổn giảm thần túc.
(Điều-đạt)* trở về lại trú xứ thuyết pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh. Trong chúng đó có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:
“Nay Điều-đạt nói pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh”.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Điều-đạt không những đời này có được đại chúng này, mà đời quá khứ cũng đã từng có các Tỳ-kheo này”.
Đời quá khứ xa xưa có một Ma-nạp271 ở trong hang núi, tụng sách Sát- lợi (Sát-đế-lợi). Có một con cáo đồng ở xung quanh đó, chuyên nghe tụng sách,[18c01] tâm có điều hiểu, nghĩ như vầy: “Như ta hiểu lời sách này đủ để làm vua trong các loài thú”. Nghĩ như vậy rồi, liền bắt đầu du hành, gặp một con cáo đồng khác ốm yếu, liền muốn giết nó.
(Con cáo)* kia nói:
“Tại sao muốn giết tôi?”
Trả lời:
“Ta là vua của loài thú, ngươi không phục ta, cho nên phải giết”.
Cáo kia nói:
“Xin đừng giết tôi, tôi sẽ làm tùy tùng”.
Thế là hai con cáo cùng nhau du hành, lại gặp một con cáo nữa, cũng muốn giết nó. Đối đáp như trên và cũng xin được tùy tùng. Như vậy, lần lữa nó hàng phục tất cả loài cáo. Lại dùng bầy cáo hàng phục tất cả voi. Lại dùng những con voi hàng phục tất cả hổ. Lại dùng những con hổ hàng phục tất cả sư tử. Nhân đó, tạm thời được làm vua trong loài thú. Đã được làm vua rồi, lại nghĩ như vầy: “Nay ta đã là vua loài thú, thì không nên lấy thú làm vợ”. Liền cỡi voi trắng, điều khiển vô số loài thú, vây quanh thành Ca- di272 trăm ngàn vòng.
Vua sai sứ hỏi: “Ngươi cùng các loài thú, tại sao làm như vậy?”
Con cáo đồng trả lời: “Ta là vua thú, nên lấy con gái của ông. Nếu gả cho ta thì hay, bằng không ta sẽ tiêu diệt nước ông”.
(Sứ thần)* về báo như vậy, nhà vua tập hợp quần thần cùng thương nghị. Chỉ trừ một vị thần (không đồng ý)*, tất cả đều bảo nên gả. Tại sao vậy? Vì chỗ dựa của quốc gia chỉ nương vào voi, ngựa; ta có voi ngựa, đối phương lại có sư tử. Voi ngựa nghe hơi thở (của sư tử)* cũng sợ hãi nằm sát đất, có chiến đấu chắc không thắng được, bị các loài thú tiêu diệt. Sao tiếc một người con gái mà để mất một quốc gia!?”
Khi ấy, vị đại thần thông minh, mưu sâu tâu với nhà vua:
“Theo nhận xét của thần thì xưa nay chưa từng nghe thấy, có con gái nhà vua nào đem gả cho một loài thú thấp hèn. Thần tuy yếu hèn nhưng muốn giết con cáo này, khiến bầy thú tự chúng sẽ chạy tán loạn”.
Vua liền hỏi:
“Hãy trình bày mưu kế ra xem!”
Đại thần tâu:
“Vua chỉ cần sai sứ hẹn ngày giờ. Trước ngày giao chiến, yêu cầu chúng một điều, điều đó là sư tử nên giao chiến trước, rồi rống sau. Chúng bảo ta sợ, tất ra lệnh sư tử rống trước, rồi giao chiến sau. Đến ngày giao chiến, vua ra lệnh cho (mọi người)* trong thành đều bịt lỗ tai lại”.
Vua áp dụng theo kế này, sai sứ hẹn ngày giờ và yêu cầu điều trên.
Đến ngày giao chiến, lại sai người đưa tin yêu cầu sau đó mới xuất quân.
Trong đoàn quân tiên phong muốn giao chiến, quả thật cáo đồng ra lệnh sư tử rống trước. Cáo đồng nghe tiếng sư tử rống, tim bị vỡ làm bảy mảnh, từ trên lưng voi rớt xuống đất, ngay lúc đó, các loài thú đều tẩu tán.
Nhân việc này, đức Phật nói bài kệ:
Cáo đồng lắm kiêu mạn, Muốn tìm cầu vây cánh,