Chi tiêu hiệu quả tổng quát

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành (2006): Phần 2 (Trang 102 - 109)

VỊ THE TREN THỊ TRƯỜNG VÀ TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN

10.3. HE THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA KINH DOANH CHUONG TRINH DU LICH

10.3.1. Chi tiêu hiệu quả tổng quát

Chỉ tiêu hiệu quả tổng quát phần ánh cứ một đơn vị tiền tệ chi phí bổ ra, hoặc đơn vị tiển tệ vốn bỗ ra cho việc kinh doanh tour thì thu vào được bao nhiêu đơn vị tiển tệ. Do vậy hệ số phải lớn hơn 1 thì kinh doanh tour mới có hiệu quả và hệ số càng lớn hơn 1 bao nhiêu thì hiệu quả kinh doanh của đoanh nghiệp càng cao bấy nhiêu và

ngược lại

Công thức tính hiệu quả tổng quát:

H=— TR hoac H = FR

TC TV

Trong đó:

H là hiệu quả tổng quát

'TR là tổng doanh thu từ kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

TC là tổng chi phí cho kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ

phân tích

TV là tổng vốn đầu tư cho kinh doanh chương trình du lịch

trong kỳ phân tích

10.3.9. Chỉ tiêu doanh lợi, tỷ suất lợi nhuận

Chỉ tiêu này phần ánh cứ một đơn vị tiền tệ chỉ phí bỏ ra hoặc một đơn vị tiển tệ vốn cho kinh doanh chuyến du lịch thì đem lại bao

Í học Kính lế Quốc dã

nhiêu phần trăm lợi nhuận. Nếu chỉ tính chỉ tiêu doanh lợi bằng lợi nhuận trên chỉ phí thì chưa phần ánh đầy đủ các chi phi có liên quan đến kinh doanh chương trình du lịch, trong đó có khoản trong vốn

đầu tư chưa được tính vào. Chỉ phí kinh doanh luôn nhỏ hơn vốn đầu

tư cho kinh doanh chương trình du lịch. Vì vậy, để đánh giá chính xác

khả năng sinh lợi của vốn đầu tư cho kinh doanh chương trình du lịch cần phải tính chỉ tiêu này bằng lợi nhuận trên vốn (bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động). Hoặc tỷ suất lợi nhuận phản ánh mối quan hệ

giữa lợi nhuận thuần với tổng doanh thu từ kinh doanh các chương trùnh du lịch trong kỳ phân tích để xác định mức độ đầu tư và khả

năng chủ động, trực tiếp bảo đảm các dịch vụ đầu vào để kinh doanh chương trình du lịch của doanh nghiệp, sao cho doanh thu phải là doanh thu thực của doanh nghiệp chứ không phải là thu hộ. Chẳng hạn doanh thu thì rất lớn nhưng trong đó của doanh nghiệp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Ví dụ có doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam nối rằng

doanh thu từ các chương trình du lịch của doanh nghiệp hàng tháng

là trên 3 tỷ đồng. Nhưng doanh thu thực của doanh nghiệp chưa day 2% trong đó bao gồm tất cả các chi phi của doanh nghiệp (doanh thu

gộp) vì vậy lợi nhuận thuần là rất thấp và do đó xét tỷ suất lợi nhuận

trong mối quan hệ với tổng doanh thu bao gồm cả thu hộ là vô cùng nhỏ. Qua chỉ tiêu này có thể xác định được trình độ kinh doanh lữ

hành của doanh nghiệp. Doanh nghiệp lữ hành thuộc loại bán buôn trong kinh doanh chương trình du lịch trọn gói hay chỉ đơn giản là văn phòng đại diện hoặc các đại lý lữ hành? Thông qua chỉ tiêu này

để so sánh với chỉ tiêu lãi xuất tiết kiệm và cân nhắc xem đầu tư kinh

doanh chương trình du lịch có chỉ tiêu doanh lợi cao hơn không?

Công thức tính doanh lợi:

hoặc p=

TC TV

Công thức tính tỷ suất lợi nhuận:

Trong đó:

D là doanh lợi kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

P là tỷ suất lợi nhuận kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

Z là lợi nhuận thuần từ kinh doanh chương trình du lịch trong

kỳ phân tích

TC là tổng chi phí kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

TV là tổng vốn đầu tư kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

TR là tổng doanh thu từ kinh doanh kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích

10.38.38. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho kinh

doanh các chương trình du lịch

Trong quá trình kinh doanh chương trình du lịch, vốn lưu động

chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho kinh kinh doanh

của các doanh nghiệp lữ hành. Vì các nhà kinh doanh lữ hành phải

"mua" dịch vụ và hàng hoá của các nhà cung cấp đơn lẻ để lên kết

chúng thành sản phẩm "chương trình du lịch" có tính hoàn chỉnh. Do

đó, việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp lữ hành, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hơn thế nữa, các nhà kinh doanh lữ hành với

vai trò là nhà buôn, trong vai trò của nhà buôn thì “khéo buôn không

bằng trường vốn”. Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, cần sử dụng các chỉ tiêu số vòng quay của vốn lưu động cho các chương trình du lịch trong kỳ phân tích, thời gian của một vòng luân chuyển, hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Công thức tính số vòng quay của vốn lưu động

Tổng doanh thu trong kỳ phân tích

Số vòng quay của vốn lưu động = 7

g quay ong Vốn lưu động bình quân trong kỳ phân tích

Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động cho kinh đoanh chương trình du lịch quay được mấy vòng trong kỳ.

Công thức tính thời gian của một vòng luân chuyển:

ơ a a . 2 Thời gian của kỳ phõn tớch

Thời gian của một vòng luân chuyển = Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ ——— 2 = `

Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ

thì tốc độ luân chuyển càng lớn.

Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Chỉ tiêu này phan ánh cứ một đơn vị tiền tệ vốn lưu động bỏ ra

thì thu được bao nhiêu đơn vị tiển tệ doanh thu hoặc lợi nhuận. Hệ số

càng lớn hơn 1 bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao

bấy nhiêu và ngược lại.

Công thức tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động

H = TR/ Vid hoặc H= #/Vid Trong đó:

H: Hiệu quả chung (đơn vị tính lần hoặc %)

TR: Tong doanh thu

a: Ldi nhuan thuần Vid: Vén liu động

10.38.4. Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một lao động trong doanh nghiệp thì

thực hiện phục vụ bao nhiêu ngày khách trong kỳ phân tích, hoặc cứ một lao động thì làm ra được bao nhiều đồng doánh thu từ kinh doanh tour trong kỳ phân tích. Đây là chỉ tiêu tổng quát nhất để so sánh hiệu quả sử dụng lao động giữa các kỳ phân tích với nhau, giữa

các doanh nghiệp cùng ngành với nhau.

Công thức tính năng suất lao động bình quân:

N -1\K hoặc N, -I1K hoặc N,.TR

N N N

a

Trong đó:

Na: Năng suất lao động bình quân trong kỳ phân tích

N: Số lao động của doanh nghiệp lữ hành trong kỳ phân tích

TNR: Tổng ngày khách trong kỳ phân tích TLK: Tổng lượt khách trong kỳ phân tích TR: Tổng doanh thu trong kỳ phân tích

Nhóm các chỉ tiêu tuyệt đối trên đây giúp cho nhà kinh doanh -

lữ hành không chỉ đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mình bằng số lượng mà còn làm cơ sở để đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh, làm cơ sở để tổng hợp kết quả kinh doanh của toàn

ngành, so sánh với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp khác trong ngành. Ngoài các chỉ tiêu này còn có các chỉ tiêu doanh thu

trung bình một ngày khách, chi phí trung bình một ngày khách, lợi nhuận trung bình một ngày khách. ,

10.3.5. Chỉ tiêu doanh thu trung bình một ngày khách

Công thức tính: 8, “HE (Đơn vị tiển tệ/ngày khách)

Trong đó:

Ra là doanh thu trung bình một ngày khách trong kỳ phân tích 'TR là tổng doanh thu từ kinh doanh các chương trình du lịch trong kỳ phân tích.

TNK là tổng số ngày khách thực hiện của các chương trình du

lịch trong kỳ phân tích

10.3.6. Chỉ tiêu chỉ phí trung bình trên một ngày khách

Công thức tính: C, = oe (Don vj tién té/ngay khách)

Trong đó:

Ca 1a chi phí trung bình một ngày khách trong kỳ phân tích.

TC là tổng chỉ phí cho kinh doanh các chương trình du lịch

trong kỳ phân tích. :

TNK là tổng số ngày khách thực hiện của các chương trình du

lịch trong kỳ phân tích.

10.3.7. Chỉ tiêu lợi nhuận trung bình trên một ngày khách

Công thức tính: z„= nức (Đơn vị tiển tệ/ngày khách)

Trong đó:

nr. là lợi nhuận thuần trung bình một ngày khách trong ky phân tích.

P là tổng lợi nhuận thuần từ kinh doanh các chương trình du

lịch trong kỳ phân tích.

TNK là tổng số ngày khách thực hiện của các chương trình du lịch trong kỳ phân tích.

Các chỉ tiêu trung bình giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp so

sánh giữa các chương trình du lịch của doanh nghiệp, của đối thủ cạnh tranh để xác định các đơn vị kinh doanh chiến lược và lựa chọn chiến lược đầu tư và chiến lược cạnh tranh cho tương thích với từng

loại chương trình du lịch của doanh nghiệp.

Ví dụ 3:

Hãy sử dụng các dữ liệu ở ví dụ 1 để tính các chỉ tiêu hiệu quả

kinh doanh chương trình du lịch của công ty lữ hành A. Biết rằng vốn lưu động bình quân trong kỳ là 350 triệu đồng, tháng kinh doanh là 31 ngày. Bình luận hiệu quả kinh doanh chương trình du lịch của doanh nghiệp trong kỳ phân tích

Lời giải:

1. Tính các chỉ tiêu hiệu quả Hiệu quả tổng quát:

H= 425.855.000 đồng : 389.924.690 đồng = 1,092

Chỉ tiêu doanh lợi

D = 6.830.304 đồng: 389.924.690 đồng) * 100 =9,2%

'Tỷ suất lợi nhuận:

P = (35.830.304 déng: 425.855.000 déng) * 100 = 8,084 %

Chi tiéu quay vong von:

86 véng quay = 425.855.000 déng : 350. 000.000 déng = 1,22

Thời gian của một vòng luân chuyển = 31 ngày: 1,22 = 25,41

ngay

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

Tính theo doanh thu= 425.855.000 đồng : 350. 000.000 đồng =

1,22

Tính theo lợi nhuận =35.830.304 đồng: 350. 000.000 đồng = 0,108

Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân:

Tính theo doanh thu = 425.855.000 đồng: 30 người = 14.195.166

(đồng / người)

Tính theo ngày khách = 2003 ngày khách: 30 người = 66,73

(ngày khách /người)

Tinh theo lượt khách = 542 lượt khách: 30 người = 185 (lượt khách/ người)

Tính theo chỉ phí tiển lương, tiền công = 35.830.304(đồng):

90.000.000(đồng) = 0, 40

Cứ một đồng chỉ phí cho tiển công và tiển lương thu được 0,4

đồng lợi nhuận:

Chỉ tiêu doanh thu bình quân một ngày khách

Rbq = 425.855.000(đồng): 2002 (ngày khách) = 212.715 (đồng

/ngày khách)

Chỉ tiêu chi phí bình quân một ngày khách:

Cbq = 389.924.690 (đổng): 2002 (ngày khách) = 194.768

(đểng/ngày khách)

Chỉ tiêu lợi nhuận thuần bình quân một ngày khách:

Pbq = 3õ 830.304(đồng): 2002 ngày khách = 17.898 (đồng /ngày

khách)

Bình luận

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên đây có thể thấy rằng:

Thứ nhất, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả nhưng ở mức độ thấp, các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát, chỉ tiêu doanh lợi, tỷ suất lợi nhuận đều thấp.

Thứ hai, thời gian của một vòng luân chuyển vốn lưu động

nhiều gần 1 tháng.

Thứ ba, năng lực và trình độ kinh doanh lữ hành của doanh

nghiệp bình thường.

Thứ tư, các chỉ tiêu năng suất lao động bình quân, doanh thu

bình quân, chỉ phí bình quân, lợi nhuân bình quân trên ngày khách thiếu các thông tin để so sánh. Để nhận xét các chỉ tiêu này cần thiết

phải có các chỉ tiêu tương ứng của doanh nghiệp phân tích ở kỳ trước, các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh, các chỉ tiêu tương ứng của ngành

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành (2006): Phần 2 (Trang 102 - 109)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(269 trang)