KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VẢ PHÁT TRIEN NGANH DU LICH VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành (2006): Phần 2 (Trang 146 - 157)

KINH DOA@NH LG HANH O VIET NAM

12.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VẢ PHÁT TRIEN NGANH DU LICH VIỆT NAM

12.1.1. Vai nét về hoạt động du lịch trước năm 1860

Có thể nói rằng Du lịch của người dân trên đất Việt đã có từ lâu đời, người Việt đã biết Du lịch nghĩa là đi chơi xa một cách lịch lãm.

Đi để “Một ngày đàng học một sàng khôn”, hoặc

“Đi cho biết đó biết đây

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”

Hơn thế nữa người Việt còn đi Du lịch vào lúc nông nhàn.

Chẳng hạn:

“Thang giéng là tháng ăn chơi.

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”

Và cũng chính người Việt đã đúc rút được thú vui đặc trưng khi đi du lịch, đó là “Trà tam, tửu tứ, du hành nhị”. Từ các triểu đại

phong kiến của Việt Nam đã có một số vua quan, nhà nho, nhà thơ

kết hợp với công việc chính trong chuyến đi đã giành thời gian đi

tham quan một số cảnh quan nổi tiếng của đất nước. Chính nhờ các chuyến công du này nhiều nhà vua, nhà văn, nhà thơ đã đặt tên cho

các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước sau này. Ví dụ: các dấu tích trên đá của Nguyễn Nghiễm ở Bích Động (1773), của Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1770) đã khấc lại năm chữ “Nam Thiên

Đệ Nhất Động” nghĩa là Động đẹp nhất trời Nam vào cửa động

Hương Tích. Khắc thơ trên núi Dọi Đèn nay có tên là Núi Bài Thơ ở Hồng Gai Quảng Ninh. Bài thơ của Ngô Thì Sĩ (1726-1780) bên vách động Tam Thanh. Trương Hán Siêu, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện

Thanh Quan với các chuyến đi chu du nhiều nơi trên đất nước được sử sách ghỉ lại rõ ràng. Còn nông dân thì chưa có điều kiện đi-du lịch

mà chỉ tham gia vào các lễ hội tổ chức ngay trong địa phương (làng xã

của mình).

Đến thời thực dân Pháp chiếm và cai trị Việt Nam từ cuối thế

kỷ thứ XIX đã có một số người Pháp thực hiện các chuyến du lịch cùng một số quan lại người Việt. Bảo Đại là một vị vua sành điệu về thưởng ngoạn hầu như nơi nào ở Việt Nam có cảnh đẹp, có khí hậu ôn

hoà là ở nơi đó có biệt thự mang tên Bảo Đại. Trong thời kỳ đô hộ của

thực dân Pháp việc khai thác các giá trị của tài nguyên thiên nhiên nhằm mục đích tham quan và nghỉ đưỡng đã hình thành một cách rõ

nét hơn. Chính quyền bảo hộ thực dân Pháp đã xây dựng một số điểm _ du lịch khang trang mang kiến trúc của Pháp như ở Hồ Tây, Sa Pa,

Tâm Đảo, Dé Son, Nha Trang, Bạch Mã, Bà Nà, Vũng Tàu, Đà Lạt

nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch nghỉ ngơi giải trí cho tầng lớp có

đẳng cấp xã hội cao của thời kỳ đế quốc phong kiến ở Việt Nam từ

cuối thế thế kỷ thứ XIX đến nửa đầu thế ky XX.

12.1.2, Khai quat vé sy phat trién ngành du lịch Việt Nam

Sau ngày hoà bình lập lại (1954) đất nước tạm thời bị chia cắt.

Tuy vậy, năm 1960 hoạt động du lịch ở Việt Nam với tư cách là ngành

du lịch đã được hình thành. Cho đến nay, có thể chia quá trình hình thành và phát triển du lịch nói chung và lữ hành nói riêng thành 3 giai đoạn:

ô Giai đoạn 1960 - 1975

ôe Giai đoạn 1976 - 1985 e© Giai đoạn 1986 - nay

Giai đoạn từ 1960 - 1975

Ngày 09/7/1960 theo quyết định của Thủ tướng, công ty Du lịch

Việt Nam được thành lập, trực thuộc Bộ Ngoại thương, đã đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam với nhiệm vụ chính là phục vụ

các đoàn khách (chủ yếu là Khách quốc tế) của Đảng và Chính phủ.

Cơ số vật chất ban đầu có một vài khách sạn cũ với 20 giường phục vụ khách quốc tế, phương tiện vận chuyển gồm một xe Zill và một Simca

cũ với 112 cán bộ nhân viên

Ngày 16 tháng 3 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đã có

quyết định giao nhiệm vụ kinh doanh cho Công ty Du lịch Việt Nam.

Do hoàn cảnh miền Bắc vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, cơ quan

quần lý nhà nước của ngành du lịch có sự thay đổi.

Ngày 18 tháng 8 năm 1969 ngành du lịch chịu sự quản lý trực tiếp của Phủ Thủ tướng.

Ngày 12/9/1969 theo quyết định số 94 /TTg, Chính phủ giao cho Bộ Công an tham gia quản lý ngành du lịch.

Xét quá trình hình thành và phát triển của ngành du lịch Việt

Nam ngày nay, sự kiện thành lập và lịch sử phát triển của Công ty

du lịch Việt nam được cơi là nền móng cho sự hình thành và phát triển của của ngành du lịch Việt nam nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng. Chính vì vậy, ngày 9/7 là ngày kỷ niệm thành lập ngành du lịch Việt Nam.

Đặc điểm chung nhất của ngành du lịch Việt Nam giai đoạn này

có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, ngành du lịch không có điều kiện để phát triển vì đất

nước đang trong tình trạng chiến tranh, hai miền Nam Bắc đang còn bị chia cất. Nhiệm vụ chủ yếu của ngành du lịch Việt Nam (miền

Bắc) trong giai đoạn này là phục vụ các đoàn khách quốc tế. Khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu là khách của các nước xã hội chủ nghĩa đến Việt Nam với mục đích công vụ.

Thứ hai, khách du lịch nội địa là những công đân có thành tích

trong chiến đấu lao động, học tập được đi nghỉ mát, điều đưỡng theo ý nghĩa động viên khuyến khích, giáo dục, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với người lao động. Việc tổ chức các chuyến đi chủ yếu là do

Công đoàn tổ chức và được gọi phổ biến với cái tên đi “an dưỡng”,

hoặc đi “tham quan nghỉ mát” với thời gian từ 3 đến 7 ngày. Chi phí cho chuyến đi chủ yếu được lấy từ quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ phúc

lợi của các tập thể cơ sở. Với ý nghĩa đó khái niệm kinh doanh du lịch

chưa xuất hiện và chưa được biết đến ở thời kỳ này. Đó cũng là một trong những đặc trưng của nền kinh tế thời chiến.

Thứ ba, khái niệm hoạt động kinh doanh lữ hành, du lịch lữ

hành cũng chưa được biết đến một cách đầy đủ. Trên thực tế hoạt động du lịch lữ hành thời kỳ này chính là hoạt động bao cấp đưa khách đến các cơ sở du lịch và điều dưỡng hàng năm. Khái niệm

“kinh tế du lịch”, “kinh doanh du lịch” còn rất xa vời với người đân

Việt Nam.

Thứ tư, cơ số vật chất kỹ thuật của ngành và tiện nghỉ phục vụ còn nghèo nàn (ở miền Bắc) chủ yếu là các khu nghỉ mát an dưỡng do tổ chức Công đoàn quản lý và được gọi là “nhà nghỉ mát”, “khu điều

dưỡng”. Còn ở miền Nam Việt Nam chính quyền cũ đã cho xây đựng một số khách sạn lớn ở Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt đáp ứng nhu cầu của những người giàu có, quan chức và lính đánh thuê.

Do hoàn cảnh lịch sử cả trong nước và quốc tế, điều kiện kinh tế xã hội, tính chất nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn này là độc lập tự do và thống nhất đất nước, mà du lịch Việt Nam chưa hội đủ các điểu kiện chung và điều kiện đặc trưng để phát triển với tư cách là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp.

Giai đoạn từ 1976 - 1985

© Về tổ chức quản lý ngành du lịch

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng vào mùa

xuân năm 1975, đất nước Việt Nam chuyển sang một kỷ nguyên mới.

Bắt đầu kỷ nguyên độc lập tự do, kỷ nguyên xây dựng nước ta dang

hoàng hơn, to đẹp hơn. Năm 1977, du lịch được giao cho toàn bộ

ngành Công an quản lý. Ngày 27/6/1978, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

ban hành Nghị định số 282/NQ-QHKG6, thành lập Tổng cục Du lịch,

trên cơ sở một vụ của Bộ Nội vụ. Ngày 23 tháng 1 năm 1979 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 32 CP thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam. Từ đây Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyến biến quan trong trong quá trình phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Bởi vì sự kiện nay dA phan ánh mức độ nhận thức về tầm quan trọng và vai trò, hiệu quả kinh tế - xã hội của du lịch đối với sự phát triển của nước nhà. Chính sự thay đổi về mặt tổ chức này đã mở rộng thẩm quyển và chức năng của cơ quan quản lý du lịch. Giai đoạn này bộ máy tổ chức và quản lý của Tổng cục Du lịch dần được hoàn thiện. Ngày 23/1/1979

Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định 32/CP quy định chức năng và nhiệm vụ của ngành du lịch và năm 1981 ban hành Nghị định 137/CP quy định phương hướng phát triển của ngành. Cũng năm 1981 Du lịch Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Du lịch

Thế giới (WTO). Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành cũng được mở rộng bằng việc xây dựng các khách sạn mới ở miền Bắc, tiếp quản các khách sạn của chế độ cũ sau ngày miển Nam giải phóng.

Tuy vay, du lich Viét Nam vẫn chưa có cơ hội và chưa hội đủ các

điều kiện chung (cần) và điều kiện đặc trưng(đủ) để phát triển. Một mặt, do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại. Mặt khác, do bối cảnh quan hệ quốc tế lúc đó chi phối cộng thêm đường lối, chính sách của nền kinh tế đóng, cơ chế quản lý kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, cấp phát của thời chiến vẫn còn. Vì vậy, nền kinh tế nói chung,

ngành du lịch nói riêng chưa có động lực để phát triển.

® Về cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động

Cơ sở vật chất của ngành còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu và xuống cấp.

Tính đến năm 1989 toàn ngành có khoảng 140 khách sạn với 6.980 buồng, trong đó có 4.000 buồng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Các khách sạn phân bố không đều. Nhiều nơi có điều kiện tự

nhiên, văn hoá để phát triển du lịch nhưng không đủ khách sạn như

Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng v.v...

Co sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, bưu điện v.v lạc hậu

kém phát triển. :

Đội ngũ cán bộ, công nhân phục vụ trong ngành du lịch đến

năm 1989 khoảng 20.000 người, hầu hết chưa qua đào tạo, nên trình độ nghiệp vụ trong phục vụ và quần lý còn yếu. vẻ

Chưa có sự đầu tư xây dựng mới các cơ sổ vui chơi giải trí,

© Về kết quả kinh doanh

Nếu từ năm 1976 trong hoạt động du lịch quốc tế, số ngày khách du lịch quốc tế là 184.119 ngày khách, doanh thu là 28.776.000đ, nộp ngân sách 1.219.000đ thì đến năm 1980 số hiệu tương ứng như trên là

290.000 ngày khách 51.000.000đ và 11.748.000đ. :

Năm 1989 đón được 215.000 khách quốc tế, doanh thu 2,9 triệu

rúp và 4õ,8ð triệu USD. 8o với những năm đầu thập niến 80 số Riộng

khách cũng như doanh thu ngoại tệ đã tăng hàng chục lần. ' |

Cùng với hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế chủ động việc: an kinh doanh du lịch quốc tế bị động cũng bắt đầu được triển khải vào

nắm 1986 và đến 1989 số người Việt Nam đi du lịch nước ngoài là

10.000 khách.

Bên cạnh phát triển du lịch quốc tế, dụ lịch nội địa ở giai đoạn

này cũng phát triển tương đối nhanh. 8o với thời kỳ 1976-1980 thì khách du lịch nội địa thời kỳ 1981-1985 tăng 15,6 lần và thời ky. 1989

tang 21,7 lan.

¢ Vé kinh doanh la hanh

Tổng công ty Du lịch Việt Nam “Việt Nam Tourism” là cơ quan

đối ngoại lớn nhất của du lịch Việt Nam. Trong Nghị quyết 63/HĐBT

ngày 11/4/1987 của Hội đồng Bộ trưởng đã xác định rõ chức năng của

Tổng công ty du lịch Việt Nam là: “Thống nhất quản lý khách dụ lịch là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào nước ta du lịch từ đầu vào đến đầu ra và tổ chức cho công dân Việt

‘Nam di du lich ở ngoài nước” Về tổ chức quản lý. “Việt Nam

Tourism” trực thuộc Tổng cục Du lịch. Ngoài hai đơn vị có chức' năng

chính là kinh đoanh du lịch lữ hành, còn có các đơn vị kinh doanh du

lịch lữ hành tổng hợp mà ở Việt Nam thường gọi là các công .ty du

lịch. Gọi là công ty du lịch lữ hành tổng hợp vì các công ty này không

aa wt

chỉ kinh doanh lữ hành mà bao gồm cả hệ thống khách sạn, vận

chuyển đường bộ (ô tô) và các dịch vụ khác. Trong số các công ty có 18 công ty trực thuộc Tổng cục Du lịch (còn gọi là các công ty du lịch Trung ương) và các công ty trực thuộc uỷ ban nhân dân địa phương

(gợi là các công ty du lịch địa phương), các công ty trực thuộc các tổ

chức xã hội. Giai đoạn này các cơ sở kinh đoanh du lịch hoàn toàn là các doanh nghiệp nhà nước.

Hoạt động lữ hành ở giai đoạn này cũng chỉ mới ở mức độ sơ khai. Thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và liên Xô cũ. Điều đáng lưu ý nhất là vào năm 1986 hoạt động lữ hành với tư cách là công ty gửi khách tới các công ty nhận khách ở Đông Âu, Liên Xô cũ đã bắt đầu triển khai và thực hiện. Chính sự kiện này

đã đánh dấu bước trưởng thành của hoạt động du lịch lữ hành quốc tế bị động trong ngành du lịch của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa

Việt Nam.

Trong hoạt động du lịch lữ hành vẫn mang nặng tính chất phục

vụ theo cơ chế của nền kinh tế tập trung bao cấp, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch nội địa. Vì vậy còn được gọi là bao cấp của bao cấp.

Một số nhận xét về thực trạng và nguyên nhân phát triển ngành du lịch nói chung và lữ hành nói riêng ở giai đoạn 1975- 1986.

Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam đang trong quá trình hình

thành và phát triển, kinh doanh lữ hành bước đầu đã thể hiện được

vai trò phân phối sản phẩm du lịch, đáp ứng được nhu cầu của cả nhà

cung ứng du lịch và người tiêu dùng du lịch.

Thứ hơi, so với nhu cầu phát triển ngành du lịch và so với tiểm

năng du lịch của đất nước thì ngành du lịch Việt Nam trên tất cả các phương diện ở trình độ cồn rất thấp. Quy mô quá nhỏ bé, tốc độ phát

triển chậm, lượng khách du lịch hàng năm thấp

Thứ ba, cơ số hạ tầng phục vụ chính cho ngành du lịch ở trình độ thấp kém và lạc hậu như là giao thông vận tải, điện nước, thông

tin liên lạc, ngân hàng, y tế, văn hoá, nghệ thuật. Chất lượng phục vụ

kém trên cả ba phương diện chủng loại, cơ cấu dịch vụ, điều kiện và phương tiện thực hiện dịch vụ và phương thức thực hiện đều rất thấp so với yêu cầu của kinh doanh du lịch quốc tế.

Thứ tư, hệ thống tổ chức quản lý ngành du lịch thiếu ổn định manh mún mối quan hệ liên ngành, liên vùng lỏng lẻo, cơ chế chính sách chậm đổi mới ràng buộc gây cản trở cho việc phát triển của kinh

doanh lữ hành và làm cho ngành du lịch chậm phát triển theo.

Nguyên nhân: một mặt, bối cảnh lịch sử ra đời trong chiến tranh, đất nước bị chia cắt, bị bao vây cấm vận của Hoa Kỳ. Quan hệ quốc tế có nhiều biến động. Mặt khác, ngành du lịch dựa trên một nền kănh tế

kém phát triển. một trong những quốc gia lạc hậu và nghèo nhất thế

giới bởi sự kéo dài nhiều chục năm của cơ chế quản lý tập trung quan

liêu bao cấp. Hơn thế nữa, các nhà quản lý chưa có được nhận thức đúng đắn về lợi thế so sánh của Việt Nam _SO VỚI các quốc gia tố nền kinh tế phát triển và vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân.

Đặc biệt đối với các quốc gia chậm phát triển, chưa nhận thức được du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp. Vì vậy chưa có định hướng, và quy hoạch tổng thể mang tính chiến lược cho việc xây dựng và phát

triển ngành du lịch,.

Giai đoạn từ 1986 đến nay

Quản lý nhà nước uề du lịch `

Nghị quyết Đổi mới của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần

thứ VI chính thức đi vào cuộc sống là một trong những điều kiện tién

để mang tính quyết định và cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch Việt .

Nam phát triển. Đại hội Đảng IX đã có nghị quyết về phát triéi 4

ngành du lịch trong “Định hướng phat triển các ngành” nHHƯ sau:

Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; nâng

cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về

điểu kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển của khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất.

Hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết các nước. Tại Điều 3 của Pháp lệnh Du lịch đã ghi rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch theo

hướng du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, giữ gìn và phat huy b bản Sic

văn hoá thuần phong mỹ tục của đân tộc Việt Nam”. Š

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành (2006): Phần 2 (Trang 146 - 157)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(269 trang)