CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Thương mại quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thương mại của quốc gia
1.1.2. Các yếu tố tác động đến hiệu quả thương mại quốc tế
1.1.2.1. Các chiến lược phát triển ngoại thương của quốc gia Qua lịch sử phát triển của thương mại quốc tế có thể thấy có ba chiến lược phát triển ngoại thương được áp dụng đối với tình hình từng quốc gia, các chiến lược đó bao gồm chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô, chiến lược hướng nội và chiến lược hướng ngoại [9].
- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô: Đây là chiến lược được các quốc gia chưa có nền kinh tế phát triển chủ yếu thực hiện cho đến ngày nay khi trình độ sản xuất, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển và khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế còn hạn chế. Nguồn hàng xuất khẩu chủ yếu là các tài nguyên thiên nhiên có sẵn và sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến. Điểm tích cực của chiến lược này đó là
giúp nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và giúp quốc gia thu được nguồn vốn cần thiết để công nghiệp hóa đất nước. Tuy nhiên, việc xuất khẩu sản phẩm thô hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do cạnh tranh của thị trường toàn cầu, dẫn đến giá trị hàng thô ngày càng giảm, nhưng việc nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, công nghệ lại có giá trị cao ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của quốc gia không bền vững.
- Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay chiến lược hướng nội: Các quốc gia áp dụng chiến lược này khuyến khích việc sản xuất trong nước để đáp ứng trước hết cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chính phủ thúc đẩy sản xuất nội địa thông qua các rào cản nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Tuy nhiên, chiến lựơc này dẫn đến nhiều trở ngại khi cung từ sản xuất không đáp ứng đủ cầu thị trường, cán cân thương mại thâm hụt do thiếu ngoại tệ từ xuất khẩu, năng lực sản xuất suy giảm do thiếu cạnh tranh và chiến lược này hạn chế liên kết quốc tế. Do đó, chiến lược này dần dần được loại bỏ trong chiến lược phát triển ngoại thương của các quốc gia trên thế giới.
- Chiến lược hướng ngoại hay sản xuất hướng về xuất khẩu: Chiến lược này được xem là phát triển nhất trong các chiến lược ngoại thương khi xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ cần thiết cho quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn và lợi ích hơn và liên kết thương mại quốc tế. Tuy nhiên, chiến lược này cũng gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp nội địa khi trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm không thể so sánh được với các sản phẩm nhập khẩu, dẫn đến khả năng phát triển kinh doanh kém và thị trường có thể trở thành thị trường tiêu thụ.
1.1.2.2. Chính sách điều chỉnh thương mại quốc tế
Theo PGS.TS Nguyễn Như Bình [3], chính sách thương mại quốc tế là chính sách Chính phủ của mỗi quốc gia sử dụng để điều chỉnh thương mại quốc tế. Nó bao gồm hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà các nước sử dụng để điều chỉnh trong thương mại quốc tế. Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế gồm các công cụ thuế quan (rào cản mậu dịch) và các công cụ phi mậu dịch (rào cản phi mậu dịch). Các công cụ của chính sách này chủ yếu áp dụng đối với thương mại hàng hóa. Các công cụ chi tiết như sau:
a. Công cụ thuế quan: là thuế mà chính phủ đánh vào hàng hóa đi qua lãnh thổ hải quan, là khu vực địa lý chịu sự điều chỉnh của luật thuế quan và không nhất thiết đồng nhất với lãnh thổ quốc gia.
Phân loại theo tính chất hàng hóa: Hàng xuất khẩu sẽ có thuế xuất khẩu và ngược lại, thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng nhập khẩu. Trong đó, thuế nhập khẩu là quan trọng nhất và thực tế một số quốc gia không còn đánh thuế xuất khẩu.
Phân loại theo cách thức đánh thuế:
o Thuế trị giá: là thuế tính theo phần trăm trên giá trị hàng hóa o Thuế tuyệt đối: là thuế tính bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa o Thuế hỗn hợp: là thuế kết hợp hai loại thuế trên.
Thuế quan cũng sẽ có những tác động đối với doanh nghiệp và cán cân thương mại. Thứ nhất, thuế quan sẽ làm tăng giá hàng hóa tương tự với hàng hóa thay thế được sản xuất trong nước nhập khẩu và làm giảm cơ hội cho doanh nghiệp nước xuất khẩu, hạn chế thương mại và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Thứ hai, đối với doanh nghiệp trong nước, thuế quan có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất nội địa. Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu, bên cạnh việc làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu tương tự, doanh nghiệp nội địa có cơ hội bán hàng hóa giá cao. Tuy nhiên, điều này cũng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh cho hàng hóa của doanh nghiệp trong nước nếu chính sách bảo hộ quá đáng. Và tác động thứ ba, thuế quan điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và làm thay đổi cán cân thương mại của một quốc gia.
b. Công cụ phi thuế quan
- Hạn ngạch: Là những quy định của chính phủ về giá trị hay khối lượng tối đa mà một mặt hàng hay nhóm hàng được phép nhập khẩu hay xuất khẩu. Hạn ngạch có 02 loại phân theo tính chất hàng hóa, gồm hạn ngạch xuất khẩu và hạn ngạch nhập khẩu. Hạn ngạch có tác động trực tiếp đến hiệu quả thương mại giữa các quốc gia.
- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: những tiêu chuẩn về mức độ an toàn đối với sức khỏe và tính mạng con người, mức tiêu hao nhiên liệu, sự tương thích về mặt kỹ thuật… là một số các tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hóa khi muốn xâm nhập vào một thị trường nước ngoài. Tổ chức WTO đã đề ra Hiệp định về các Hàng rào
Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT – Technical Barriers to Trade) để điều chỉnh việc áp dụng những tiêu chuẩn này.
- Tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật: tiêu chuẩn này được các nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển áp dụng rất ngặt nghèo đối với hàng hóa nhập khẩu. WTO cũng đã đưa ra Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS - Sanitary and Phytosanitary Measure) để điều chỉnh vấn đề này.
- Tiêu chuẩn về môi trường: Với xu thế thế giới ngày càng coi trọng việc bảo về môi trường, một số tiêu chuẩn loại này đã được đề ra và có thể kể đến như ngăn cấm nhập khẩu thủy hải sản mang tính hủy diệt (chích điện, dùng thuốc nổ) hoặc cấm nhập khẩu sản phẩm gỗ có nguyên liệu là gỗ khai thác từ rừng tự nhiên.
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là hình thức hạn chế xuất khẩu do nước xuất khẩu đơn phương “tự nguyện” đưa ra để tránh những phiền hà về mặt chính trị hoặc sự trả đũa về thương mại.
- Trợ cấp xuất khẩu: Đây là những khoản chi hoặc những khoản đóng góp tài chính của chính phủ cho các nhà sản xuất hay xuất khẩu trong nước để họ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. WTO quy định vấn đề trợ cấp xuất khẩu trong Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng của WTO.
- Ngoài các công cụ trên, các nước còn áp dụng các công cụ phi thuế quan như qui định về xuất xứ hiện rất phổ biến và trở thành một công cụ không thể thiếu để điều chỉnh thương mại quốc tế, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, các biện pháp hành chính và một số công cụ đặc thù khác và được quản lý dựa trên các điều khoản trong các Hiệp định thương mại tự do khác, ngoài hiệp định chung của WTO.