Các loại ẩn dụ ý niệm

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 50 - 55)

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.6. Các loại ẩn dụ ý niệm

G. Lakoff, M. Johnson [153] chia ẩn dụ ý niệm thành ba loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể ẩn dụ định vị. Theo Z. Kửvecses, cỏch phõn loại này là theo chức năng tri nhận. Z. Kửvecses cho rằng cú nhiều loại ẩn dụ khỏc nhau và cú thể phõn loại ẩn dụ thành nhiều cách khác nhau. Tác giả đã đề cập đến các cách phân loại như: theo tính quy ước (conventionality), chức năng (function), bản chất (nature) và cấp độ của tính chất khái quát (level of generality) của ẩn dụ [147, tr.33]. Theo chức năng tri nhận, Z. Kửvecses [147, tr.37-40] chia ẩn dụ thành ba loại: ẩn dụ cấu trỳc, ẩn dụ bản thể ẩn dụ định vị. Bờn cạnh đú, Z. Kửvecses [147, tr.135-146] cũn phõn biệt ẩn dụ đơn (simple) và ẩn dụ phức (complex).

Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ có ý niệm đích được cấu trúc theo lối ẩn dụ trên cơ sở ý niệm nguồn. Trong ẩn dụ cấu trúc, giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích có một hệ thống yếu tố tương ứng nào đó, ở những phương diện nào đó. Hệ thống yếu tố tương ứng này là kết quả ánh xạ từ cấu trúc của ý niệm nguồn sang cấu trúc của ý niệm đích. Cấu trúc của ý niệm nguồn là cơ sở giúp cho ta hiểu cấu trúc của ý niệm đớch. Theo Z. Kửvecses, “trong loại ẩn dụ này, miền nguồn cung cấp một cấu trỳc tri thức tương đối phong phú cho miền đích. Nói cách khác, chức năng tri nhận của những ẩn dụ này là giúp người nói hiểu miền đích A trên cơ sở cấu trúc của miền nguồn B… Việc hiểu này diễn ra trên cơ sở các ánh xạ ý niệm giữa các yếu tố của A và các yếu tố của B” [147, tr.37].

Ẩn dụ bản thể là ẩn dụ trong đó, những loại sự vật, hiện tượng, vốn tồn tại không phân lập, không có biên giới rõ ràng hay mang tính chất trừu tượng, được phạm trù hóa thành những thực thể hay chất thể. Theo G. Lakoff, M. Johnson, ẩn dụ bản thể (ontological metaphors) gồm ẩn dụ thực thể (entity metaphors), ẩn dụ chất thể (substance metaphors), ẩn dụ vật chứa (container metaphors). Kinh nghiệm của chúng ta về các vật thể vật chất (đặc biệt là chính cơ thể của chúng ta) đã cung cấp nền tảng phong phú cho những ẩn dụ bản thể, tức là cách thức nhìn nhận các sự kiện, hoạt động, cảm xúc, ý tưởng,… như các vật thể chất thể. G. Lakoff và M. Johnson viết:

“kinh nghiệm của chúng ta về các vật thể vật chất và chất thể cung cấp một cơ sở nữa cho sự nhận thức, vượt ngoài sự định hướng đơn thuần” [147, tr.25].

Từ việc nhận thức những ý niệm vô hình, trừu tượng, mơ hồ như trạng thái, sự kiện, hoạt động, tâm lý, tình cảm, tư tưởng là những thực thể hay chất thể hữu hình, chúng ta có thể phân loại, định lượng, định tính và suy luận về những thực thể đó. Như vậy, ở ẩn dụ bản thể, giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích không có những yếu tố tương ứng về cấu trúc rõ ràng, xác định như ở ẩn dụ cấu trúc. “Nhiệm vụ tri nhận của loại ẩn dụ này dường như chỉ đơn thuần là cung cấp một trạng thái bản thể mới cho các phạm trù khái quát của những ý niệm đích trừu tượng, và mang lại những thực thể trừu tượng mới. Điều đó có nghĩa là chúng ta hình dung các trải

nghiệm của chúng ta trên cơ sở các vật thể, chất thể và các vật chứa, nhìn chung, không xác định chính xác loại của vật thể, chất thể hay vật chứa là gì” [147, tr.38].

Chớnh vỡ vậy, Z. Kửvecses cho rằng tri thức của chỳng ta về cỏc vật thể, chất thể và các vật chứa thường giới hạn ở cấp độ khái quát, nên chúng ta không thể dùng các phạm trù khái quát cao để hiểu nhiều về các miền đích. Nhìn chung, ẩn dụ bản thể có các miền nguồn ánh xạ sang các miền đích chủ yếu như được đề cập bên dưới.

Những miền nguồn VẬT THỂ VẬT CHẤT

CHẤT THỂ VẬT CHỨA

(Nguồn: Z. Kửvecses, [147, tr.39]) Z. Kửvecses cũn cho rằng ẩn dụ bản thể cú nhiệm vụ liờn hệ, định lượng hay nhận diện các kinh nghiệm cần được chi tiết hóa nhiều hơn. Khi kinh nghiêm “phi vật” (nonthing) tiếp nhận trạng thái của một vật thông qua ẩn dụ bản thể, thì kinh nghiệm được ý niệm hóa như thế có thể tiếp tục được cấu trúc hóa trên cơ sở các ẩn dụ cấu trúc.

Bên cạnh ẩn dụ thực thể, ẩn dụ chất thể, ẩn dụ vật chứa, thì nhân hóa (personification) cũng được G. Lakoff và M. Johnson quan niệm là một loại của ẩn dụ bản thể. “Nhân hóa là phần mở rộng của ẩn dụ bản thể và cho phép chúng ta hiểu được các hiện tượng trên thế giới dựa trên cơ sở con người - là những cơ sở mà qua

đó, chúng ta có thể hiểu biết được dựa vào động cơ, mục tiêu, hành động và đặc tính của chúng ta” [153, tr.34].

Ngoài ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, còn có ẩn dụ định vị. Ẩn dụ định vị là loại ẩn dụ mà trong đó một hệ thống toàn thể các ý niệm được định vị hay quy về các hướng trong không gian như trên - dưới, trong - ngoài, trước - sau, lên - xuống…. G.

Lakoff và M. Johnson cho rằng những định vị không gian này nảy sinh

từ thực tế là chúng ta có một cơ thể và cơ thể của chúng ta có chức năng hoạt động trong môi trường vật chất.

Theo G. Lakoff và M. Johnson, Cooper và Ross (1975) nhận thấy rằng, quan niệm của chúng ta về một thành viên điển dạng trong nền văn hoá của chúng ta như thế nào quy định việc định vị các ý niệm trong hệ thống ý niệm của chúng ta. Con người quy chuẩn (canonical person) tạo ra một điểm quy chiếu về ý niệm, và một số lượng lớn các ý niệm trong hệ thống ý niệm của chúng ta được định vị trong mối quan hệ bất kể chúng có tương đồng với những thuộc tính của con người điển dạng này hay không. Bởi vì con người thường vận động theo tư thế thẳng đứng (upright), nhìn và di chuyển hướng về phía trước (frontward), sử dụng hầu hết thời gian của mình để thực hiện các hành động (actions), và nhìn nhận bản thân mình cơ bản là tốt (good), nên chúng ta có cơ sở trong kinh nghiệm của chúng ta cho việc nhìn nhận bản thân chúng ta là LÊN (UP) nhiều hơn XUỐNG (DOWN), TRƯỚC (FRONT) nhiều hơn SAU (BACK), CHỦ ĐỘNG (ACTIVE) nhiều hơn BỊ ĐỘNG (PASSIVE), TỐT (GOOD) nhiều hơn XẤU (BAD). Vì chúng ta đang ở nơi chúng ta có mặt và tồn tại ở hiện tại, nên chúng ta nhận thức về chúng ta như đang Ở ĐÂY (HERE) hơn là Ở ĐÓ (THERE), và LÚC NÀY (NOW) hơn là LÚC KHÁC (THEN). Việc này quy định điều mà Cooper và Ross gọi là định vị TÔI - TRƯỚC TIÊN (ME - FIRST): LÊN (UP), TRƯỚC (FRONT), CHỦ ĐỘNG (ACTIVE), TỐT (GOOD), Ở ĐÂY (HERE), và LÚC NÀY (NOW) đều được định vị hướng về con người quy chuẩn; XUỐNG (DOWN), SAU (BACKWARD), BỊ ĐỘNG (PASSIVE), XẤU (BAD), Ở ĐÓ (THERE) và LÚC KHÁC (THEN) đều được định vị cách xa con người quy chuẩn [153, tr.132]. Như vậy, cách định vị này đề cao vai

trò của chủ thể định vị, lấy “cái tôi” làm trung tâm (ego-centric). Nói rộng ra, “tôi”

hay “chúng tôi” với tư cách là những thành viên trong một cộng đồng văn hóa có cách định vị đặc trưng nhất định nào đó.

Z. Kửvecses đề nghị gọi ẩn dụ định vị là “ẩn dụ đồng hướng” (coherence metaphor), vì cách gọi này phù hợp với chức năng tri nhận mà chúng thực hiện hơn.

Theo Z. Kửvecses [147, tr.40], định hướng lờn trờn cú xu hướng đi cựng với sự đỏnh giá tích cực, trong khi định hướng xuống dưới đi cùng với sự đánh giá tiêu cực.

Nhưng sự đánh giá tích cực - tiêu cực (positive - negative) không giới hạn ở những định hướng không gian lên trên - xuống dưới (up - down). Điều này chỉ ra rằng, các lược đồ hình ảnh không gian (spatial image schemas) có tính lưỡng cực (bipolar) và lưỡng trị (bivalent). Như vậy, toàn thể (whole), trung tâm (center), liên kết (link), cân bằng (balance), trong (in), mục tiêu (goal) và trước (front) chủ yếu được xem là tích cực, trong khi đối lập với chúng, phi toàn thể (not whole), ngoại vi (periphery), không liên kết (no link), mất cân bằng (imbalance), ngoài (out), không có mục tiêu (no goal) và sau (back) được xem là tiêu cực. Một ví dụ đáng chú ý trong tiếng Anh, cụm từ một nửa đàn ông (half the man) có nghĩa là một người nào đó được xem là không tích cực, như trong Anh ta chỉ bằng nửa đàn ông của ngày xưa thôi (He is half the man he used to be). Rõ ràng là, trong trường hợp này, toàn thể so với phi toàn thể có giá trị đối lập nhau.

Ba cách phân loại ẩn dụ ở trên được G. Lakoff và M. Johnson đưa ra vào năm 1980. Trong lần tái bản năm 2003, các tác giả cho rằng: “cách phân biệt ẩn dụ thành ba loại - định vị, bản thể và cấu trúc - là không tự nhiên. Mọi ẩn dụ đều mang tính cấu trúc (vì nó ánh xạ cấu trúc này sang cấu trúc khác); mọi ẩn dụ đều mang tính bản thể (vì nó tạo ra các thực thể ở miền đích) và nhiều ẩn dụ mang tính định vị (vì nó xác định các lược đồ hình ảnh định vị)” [153, tr.264]. Chính vì vậy, sự tách biệt các chương thành ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định vị trong luận án là để giản tiện cho quá trình phân tích, chúng chỉ mang tính tương đối.

Như đó đề cập, Z. Kửvecses cũn phõn loại ẩn dụ theo cấp độ của tớnh khỏi quát. Các ẩn dụ ý niệm có thể là ẩn dụ cấp độ khái quát hay cấp độ cụ thể. Theo Z.

Kửvecses [147, tr.45], ẩn dụ KHÁI QUÁT LÀ CỤ THỂ (GENERIC IS SPECIFIC) giúp chúng ta thuyết giải tục ngữ và ngữ cố định khác. Tục ngữ thường bao gồm các ýniệm cấp cụ thể. Xem xét câu tục ngữ Con chim đầu bắt được con sâu (The early bird catches the worm), thì chim, bắt, sâu là những ý niệm cụ thể. Việc thuyết giải câu tục ngữ này được thuận lợi nhờ ẩn dụ KHÁI QUÁT LÀ CỤ THỂ. Nó gợi ý cho chúng ta giải thích câu tục ngữ ở cấp độ chủng loại: con chim đầu là người nào đó làm điều gì đó đầu tiên, bắt là thu nhận được cái gì đó, và con sâu là thứ gì đó có được trước những thứ khác. Như vậy, nghĩa khái quát của câu tục ngữ là Nếu bạn làm điều gì đó đầu tiên, bạn sẽ đạt được điều mà bạn muốn trước khi những người khác đạt được. Trong luận án, ẩn dụ KHÁI QUÁT LÀ CỤ THỂ cũng được vận dụng để thuyết giải CDNB. Ẩn dụ này có thể cung cấp cho chúng ta cách giải thích ở cấp khái quát đối với các bài CDNB thuộc cấp độ cụ thể, qua đó cho phép chúng ta áp dụng cách thuyết giải cấp khái quát đối với từng trường hợp cụ thể có cấu trúc chủng loại ngầm ẩn phù hợp.

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 50 - 55)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(237 trang)
w