Chương 2. ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CA DAO NAM BỘ
2.2. Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ TỰ NHIÊN
2.2.1. CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên xuất hiện trong các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thuộc miền nguồn ánh xạ sang miền đích con người như bảng 2.3 bên dưới.
STT trong biểu
1 2
3 4 5 6
Bảng 2. 3. Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thuộc ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN trong ca dao Nam Bộ
Ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN được thể hiện qua các thuộc tính ánh xạ cơ bản như lược đồ 2.4.
CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN Miền nguồn: HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN
Thương nhớ Vờn, trao, gởi
TƯỢNG TỰ NHIÊN trong ca dao Nam Bộ
Vũ trụ quan trong tư duy tập thể đánh dấu một bước tiến quan trọng về sự chinh phục tự nhiên của người Việt cổ. Đó là sự tiến bộ trong lịch sử văn minh, từ đồ đá sang đồ đồng, sắt; từ săn bắn hái lượm sang trồng trọt lúa nước và định cư nông nghiệp.
Trong lao động sản xuất nông nghiệp, gió, trăng, mây, mưa, nắng rất gần gũi, quen thuộc vì người Việt luôn phải dõi theo thời tiết: …Trông trời, trông đất, trông mây/Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm…/Trời êm, biển lặng, mới yên tấm lòng. Con người luôn luôn phải quan sát, phân tích, đánh giá, đồng thời cũng lo lắng, mong đợi, hy vọng được mưa thuận gió hòa, thiên thời, địa lợi, thì mới yên lòng.
Nền văn hóa nông nghiệp, sản xuất lúa nước truyền thống của người Việt từ xa xưa đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tư duy - ngôn ngữ - văn hóa dân tộc. Qua thực tiễn lao động sản xuất, tích lũy kinh nghiệm, người Việt không chỉ dự cảm được những hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, bão, lũ,… có ảnh hưởng đến mùa màng, nông vụ, mà còn xem chúng như những bản thể nhân cách hóa để gửi gắm tâm sự.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong các hiện tượng tự nhiên, gió xuất hiện nhiều nhất, 99 lần ở 79 bài, chiếm tỉ lệ 14.8%; trăng/nguyệt 59 lần, 38 bài, chiếm 9.0%; mây 24 lần, 23 bài, chiếm 4,3%; mưa 21 lần, 17 bài, chiếm 10%,… Trong đó, gió đóng vai trò là trung tâm trong các kết hợp sóng đôi như gió - mây, gió - mưa, gió - trăng. Trước hết là sự kết hợp sóng đôi gió - mây:
(1) Những là thương gió nhớ mây, Một ngày cách bạn cũng tày ba đông. (86LT)
(2) Buồn trông ngọn gió vờn mây, Tương tư ai giải cho khuây nỗi buồn? (195NB)
Trong tư duy, văn hóa của người Việt, gió - mây được ý niệm hóa là con người. Gió - mây là người tình đem đến sự thương nhớ, mơ mộng vẩn vơ cho các chàng trai (thương gió nhớ mây, tưởng gió nhớ mây, thương gió (nhớ mưa)). Đôi khi, gió cũng chính là chàng trai, trong quan hệ với mây là cô gái (gió vờn mây). Có
thể nói, gió - mây được ý niệm hóa như một sinh thể sống, gió - mây là người và người là gió - mây, quấn quýt, sẻ chia vui buồn cùng nhau.
Bên cạnh gió - mây, thì gió - mưa cũng được sử dụng phổ biến trong CDNB:
(3) Làm thơ mà gởi cho mưa,
Mưa đưa cho gió, gió đưa cho chàng. (54LT) (4) Sụt sùi gió Nữ mưa Ngâu,
Nỗi thương chi xiết nỗi sầu lại vương. (98LT)
Gió, mưa được ý niệm hóa là người tình (nam nhân, nữ nhân), hay sứ giả của tình yêu, trao gửi yêu thương. Đặc biệt, thành ngữ gió Nữ mưa Ngâu được dân gian sử dụng để ý niệm hóa cho sự chia lìa xa cách trong tình yêu đôi lứa rất thú vị. Thành ngữ này xuất phát từ truyện cổ tích Ngưu Lang - Chức Nữ hay Ông Ngâu - Bà Ngâu.
Xuất phát từ câu chuyện này, hằng năm, ngày thất tịch mùng bảy tháng bảy, theo văn hóa phương Đông, là ngày lễ TÌNH YÊU và được người phương Tây gọi là Ngày Valentine châu Á. Từ chuyện tình trắc trở của Ngưu Lang - Chức Nữ, tác giả dân gian Nam Bộ đã dùng thành ngữ gió Nữ mưa Ngâu để ý niệm hóa cho chuyện tình ly biệt, ai oán và nỗi khao khát, hy vọng được sum hiệp trong tình yêu.
Ngoài gió - mây, gió - mưa, thì gió - trăng cũng được ý niệm hóa là con người:
(5) Gió đưa trăng thời trăng đưa gió Trăng lặn rồi gió biết đưa ai? (403CL)
Gió - trăng là hiện tượng tự nhiên không chỉ ý niệm hóa cho nam thanh nữ tú trong tình yêu đôi lứa mà còn chỉ những con người biết nương tựa vào nhau trong cuộc sống. Gió - trăng là những con người trong cuộc thế xoay vần, biết lựa chọn cách giải quyết đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, biết tận dụng thời cơ để thành công.
Có thể nói, qua ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN, tác giả dân gian muốn góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị truyền thống của nền văn hóa canh tác lúa nước. Người Việt luôn biết dựa vào tự nhiên, thân thiện với tự nhiên. Các hiện tượng tự nhiên luôn được con người dõi theo, quan sát, gửi gắm vào
đó biết bao tâm tình, không chỉ trong lao động sản xuất mà còn trong cả đời sống tâm tư tình cảm. Vì vậy, trong tư duy của người Việt, CON NGƯỜI và HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN luôn có mối tương quan trong kinh nghiệm.