Chương 4. ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ
4.1. Ẩn dụ định vị, sắc thái đánh giá và ẩn dụ kéo theo
Như chúng tôi đã đề cập ở chương 1, sự định vị không gian là cơ sở để tri nhận các phạm trù khác nhau, kèm theo đó là sắc thái đánh giá tích cực/tiêu cực.
Ở đây, cũng cần phải nói thêm rằng, sự khái quát hóa một số ẩn dụ không gian của G. Lakoff và M. Johnson chủ yếu là dựa trên ngữ liệu tiếng Anh, do đó, tuy phác họa được một bức tranh khái quát, nhưng các tác giả cũng dự cảm rằng cách định vị không gian sẽ có sự khác biệt trong các ngôn ngữ, do văn hóa quy định. Các tác giả cho rằng mỗi nền văn hóa đều ưu tiên cho sự định vị khác nhau.
Mỗi ý niệm được định vị bằng những cách khác nhau và mỗi sự định vị có tầm quan trọng khác nhau trong mỗi nền văn hóa.
Khảo sát CDNB, chúng tôi thấy rằng các ẩn dụ không gian có tính phổ quát liên quan đến phương thẳng đứng, hay phương nằm ngang, như: lên - xuống, trên - dưới, trong - ngoài, phải - trái, trước - sau cũng được sử dụng phổ biến. Tuy vậy, trong rất nhiều trường hợp, sự định vị không hẳn dựa vào phương thẳng đứng cũng như phương nằm ngang, mà có khi dùng trọng lượng, định dạng/hình dáng vật thể, không gian của vật thể/vật chứa, sự vận động, khoảng cách làm cơ sở để tri nhận các phạm trù trừu tượng hay cụ thể, như CƯƠNG THƯỜNG - TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC - KHỔ ĐAU. Điều đặc biệt là các ý niệm này luôn đi kèm với sắc thái đánh giá tích cực/tiêu cực. Dưới đây là một số biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ tiêu biểu trong CDNB:
Vẹn toàn/tròn, trọn - thiếu/không tròn: tròn hiếu trung, trọn bề hiếu trung;
trọn thảo, trọn nghĩa, tròn nghĩa, nhân nghĩa vuông tròn (hình dạng/định dạng), nhơn ngãi vẹn toàn; tam tòng vuông tròn (hình dạng/định dạng), giữ trọn ba giềng, trọn đạo ba, giữ trọn đạo ba > < làm dâu không tròn; Làm người phải biết ngũ luân,/Nếu mà thiếu một mười phân thẹn thuồng; Mình giữ chữ Trung, chữ Hiếu, còn thiếu chữ Tình…
Trọng (nặng) - khinh (nhẹ): công sanh thành là nặng > < điều tình ái là khinh; tiền tài như phấn thổ > < nghĩa trọng tợ thiên kim; tiền tài không trọng mấy >
< em quý nghĩa tào khang…
Vận động (không tồn tại) - cố định (vĩnh hằng): Tiền tài nay đổi mai dời >
<Ngỡi nhơn gìn giữ trọn đời với nhau; Anh coi, đồng tiền sớm mơi còn chiều mất,/
Chớ nhân nghĩa bạn vàng vững chắc thiên kim…
Khoảng cách gần - xa (kết hợp lên - xuống, các ngữ liệu gạch chân): Thiếp đứng gần chàng hơn vàng chín nén,/Chàng đứng gần thiếp hơn chén thuốc tiên; Cao ly sắc với ngưu hoàng,/Uống không mát dạ bằng thiếp với chàng gặp nhau > < Vượn lìa cây có ngày vượn rũ,/Anh xa nàng mặt ủ mày chau; Bồn xa bông bồn khô, bông héo,/Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng; Thiếp xa chàng quên ăn
quên ngủ,/Chàng xa thiếp thức đủ năm canh; Gió lao rao tàu cau ngã liệt,/Anh xa em rồi rũ riệt tay chân; Đứt tay một chút chẳng đau,/Xa em một chút như dao cắt lòng…
Các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ trên có thể được khái quát thành một số ẩn dụ ý niệm, như: CƯƠNG THƯỜNG LÀ VẬT THỂ/CƯƠNG THƯỜNG LÀ VẬT CHỨA; VẸN TOÀN/TRỌN VẸN LÀ TỐT/TÍCH CỰC - KHÔNG VẸN TOÀN/KHÔNG TRỌN VẸN/THIẾU LÀ XẤU/TIÊU CỰC; TRỌNG (NẶNG) LÀ TỐT/TÍCH CỰC - KHINH (NHẸ) LÀ XẤU/TIÊU CỰC; VỮNG CHẮC/CỐ ĐỊNH LÀ TỐT/TÍCH CỰC - VẬN ĐỘNG/ĐỔI DỜI LÀ XẤU/TIÊU CỰC; TÌNH CẢM/CẢM XÚC LÀ KHOẢNG CÁCH; HẠNH PHÚC LÀ GẦN; KHỔ ĐAU LÀ XA; GẦN LÀ TÍCH CỰC; XA LÀ TIÊU CỰC; SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC; SỰ XA CÁCH/CHIA LÌA LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC.
Thực tế các ngữ liệu ở trên cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng một khái niệm không gian để định danh cho tất cả chúng là không thể. Các thuộc tính về định vị, trọng lượng, định dạng/hình dáng vật thể, không gian của vật thể/vật chứa, sự vận động, khoảng cách chồng lấn lên nhau. Tất cả chúng đều gắn với SẮC THÁI ĐÁNH GIÁ TÍCH CỰC/TIÊU CỰC của ý niệm CƯƠNG THƯỜNG - TIỀN TÀI,
HẠNH PHÚC - KHỔ ĐAU.
Theo G. Lakoff và M. Johnson, “những giá trị cơ bản nhất trong một nền văn hóa sẽ tương hợp với mô hình ẩn dụ của những ý niệm cơ bản nhất trong nền văn hóa ấy” [153, tr.22]. Sự tương hợp trong ẩn dụ là điều kiện dẫn đến hiện tượng các ẩn dụ kéo theo (metaphorical entailments).
Từ những điều trình bày ở trên, trong chương này, chúng tôi sẽ phân tích các ẩn dụ kéo theo, như:
CƯƠNG THƯỜNG LÀ VẬT THỂ/VẬT CHỨA TOÀN VẸN TOÀN VẸN LÀ TÍCH CỰC
CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC CƯƠNG THƯỜNG LÀ TRỌNG/NẶNG
TRỌNG/NẶNG LÀ TÍCH CỰC CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC
CƯƠNG THƯỜNG LÀ VỮNG CHẮC/CỐ ĐỊNH VỮNG CHẮC/CỐ ĐỊNH LÀ TÍCH CỰC
CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC TIỀN TÀI LÀ KHINH/NHẸ
KHINH/NHẸ LÀ TIÊU CỰC TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC
TIỀN TÀI LÀ VẬN ĐỘNG/ĐỔI DỜI VẬN ĐỘNG/ĐỔI DỜI LÀ TIÊU CỰC TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC
HẠNH PHÚC LÀ GẦN GẦN LÀ TÍCH CỰC
HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC KHỔ ĐAU LÀ XA
XA LÀ TIÊU CỰC
KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC
Như vậy, chúng ta có bốn ẩn dụ khái quát: CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC/TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC, HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC/KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC. Bốn ẩn dụ này bao trùm tất cả các thuộc tính định vị, trọng lượng, định dạng/hình dáng vật thể, không gian của vật thể/vật chứa, sự vận động, khoảng cách.
Chúng tôi đề xuất gọi bốn ẩn dụ này là ẩn dụ đánh giá, có thể coi là biến thể của ẩn dụ định vị. Bốn ẩn dụ khái quát này được phân tích trong sự tương quan với các ẩn dụ định vị, định dạng/định lượng, vận động - ẩn dụ lược đồ hình ảnh - đồng thời cũng là nguyên tắc được phân tích xuyên suốt: VẸN TOÀN/TRỌN VẸN LÀ TÍCH CỰC - KHÔNG VẸN TOÀN/KHÔNG TRỌN VẸN/KHIẾM KHUYẾT LÀ TIÊU CỰC;
TRỌNG/NẶNG LÀ TÍCH CỰC - KHINH/NHẸ LÀ TIÊU CỰC; VỮNG CHẮC/CỐ ĐỊNH LÀ TÍCH CỰC - ĐỔI DỜI/VẬN ĐỘNG LÀ TIÊU CỰC; GẦN LÀ TÍCH CỰC - XA LÀ TIÊU CỰC.