Chương 3. ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ
3.2. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU
3.2.3. TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA
Các biểu thức diễn đạt ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA được thể hiện qua 10/205 bài, chiếm 4.9%. Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG/CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA được thể hiện qua các thuộc tính ánh xạ cơ bản như lược đồ 3.11 bên dưới.
TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA/CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA Miền nguồn: VẬT CHỨA/CHẤT THỂ
TRONG VẬT CHỨA Đầy
Vơi Cạn
Lược đồ 3. 11. Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA/CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA trong ca dao Nam Bộ
Không chỉ trong tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác trên thế giới cũng vậy, TÌNH YÊU được ý niệm hóa là một VẬT CHỨA, bên cạnh vật chứa khác là CƠ THỂ. Z. Kửvecses đó chỉ ra rằng VẬT CHỨA (CONTAINER) là một ý niệm quan trọng trong lĩnh vực cảm xúc, và ẩn dụ này hoạt động theo hai cách. Cảm xúc được ý niệm hóa là một CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA (FLUID IN A CONTAINER), vật chứa là cơ thể người, hay TÌNH YÊU đồng thời cũng là một vật chứa.
Qua khảo sát và phân tích ngữ liệu CDNB, chúng tôi thấy rằng TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA (LOVE IS A CONTAINER), đồng thời TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA (LOVE IS A FLUID IN A CONTAINER), nhưng vật chứa không phải là CƠ THỂ, chẳng hạn:
(1) Sá chi chút phận bèo mây,
(2) Chừng nào thủy nọ xa gương, Đừng chào anh nữa, tình thương cạn rồi. (108 LT)
Bài CDNB (1) có thể hiểu TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA (bể ái khi đầy khi vơi), còn bài CDNB (2) chỉ được hiểu TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA (tình thương cạn rồi).
Nhìn chung, lược đồ hình ảnh VẬT CHỨA (CONTAINER image schema) có thể được áp dụng cho cả những cảm xúc khác, ngoài TÌNH YÊU, như TỰ HÀO (PRIDE), NỖI BUỒN (SADNESS), SỢ HÃI (FEAR) hay HẠNH PHÚC (HAPPINESS). VẬT CHỨA có điểm cao nhất (đỉnh) và điểm thấp nhất (đáy), mà nó có thể là cơ sở của ẩn dụ định hướng NHIỀU HƠN LÀ LÊN TRÊN (MORE IS UP).
Hai ẩn dụ này cùng hoạt động, do đó, cường độ cảm xúc tăng được ý niệm hóa là sự gia tăng của chất lỏng trong vật chứa (Z. Kửvecses). Theo đú, một VẬT CHỨA trống rỗng tương ứng với sự vắng mặt của cảm xúc. Điều thú vị là ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT VẬT CHỨA và TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA có sự khác biệt. Một mặt, TÌNH YÊU được mô tả ở bên
ngoài một không gian mà chúng ta có thể bước vào, đi ra hoặc bị lạc trong đó, mặt khác TÌNH YÊU được tri nhận như là một vật chứa.
Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA có sự tương tác hoặc với ẩn dụ NHIỀU HƠN LÀ LÊN TRÊN hoặc ÍT HƠN LÀ XUỐNG DƯỚI. Ở bài CDNB (1), TÌNH YÊU được ý niệm hóa là VẬT CHỨA hoặc CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA khi đầy (nhiều) khi vơi (ít), ở BÀI CDNB (2) là CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA còn ít hoặc trống rỗng, không còn (tình thương cạn rồi). Theo đó, NHIỀU (TÌNH YÊU) HƠN LÀ TỐT và ÍT (TÌNH YÊU) HƠN LÀ XẤU.
Trong các bài CDNB sau, TÌNH YÊU được ý niệm hóa là vật thể chứa đựng:
(3) Thân em giả tỉ như chiếc thuyền tình, Mười hai bến nước linh đinh,
Biết đâu trong đục mà mình gởi thân? (376NB) (4) Linh đinh một chiếc thuyền tình, Mười hai bến nước gởi mình vào đâu. (71LT)
Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đề cập đến thuyền tình: Thuyền tình vừa ghé đến nơi/Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ. Theo Trần Phương Hồ, hai câu này lấy ý từ hai câu thơ cổ: Nhất phiến tình chu dĩ đáo ngạn/Bình trầm hoa chiết dĩ đa thời (Một chiếc thuyền tình mới tới bến,/Cái bình đã chìm, cành hoa đã gãy tự bao giờ).
Hai câu thơ diễn tả tình yêu của đôi trai gái không được thỏa mãn như ước mong.
Thuyền tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du lấy tích từ chuyện tình bi thương của kỹ nữ Đào Sư Nhi và Vương Sinh đời Đường. Tình cảm của Đào Sư Nhi và Vương Sinh bị mẹ Vương Sinh ngăn cấm nên hai người mướn thuyền đi dạo chơi, sau đó ôm nhau nhảy xuống sông tự vẫn. Chiếc thuyền chở Đào Sư Nhi và Vương Sinh trở thành thuyền tình nổi tiếng. Theo tích này, “thuyền tình là chiếc thuyền chở tình yêu” [41, tr.65].
Trở lại bài CDNB (3) (4), chiếc thuyền tình lênh đênh trên sông nước có mười hai bến nước, không biết về bến nào, bến trong hay bến đục. Qua đó, CHIẾC THUYỀN ý niệm hóa là NGƯỜI PHỤ NỮ; tình cảm được vật chất hóa nên TÌNH
CẢM LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA (THUYỀN); LÊNH ĐÊNH TRÊN SÔNG NƯỚC ý niệm hóa cho DUYÊN PHẬN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ bấp bênh, vô định; TRONG, ĐỤC ý niệm hóa cho HẠNH PHÚC, KHỔ ĐAU. Có thể mô hình hóa như lược đồ 3.12 bên dưới.
Ẩn dụ cấp độ 1: NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ GHE THUYỀN Miền nguồn: GHE THUYỀN
Ẩn dụ cấp độ 2: TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CHẤT THỂ TRONG GHE THUYỀN
Miền nguồn: CHẤT THỂ TRONG GHE THUYỀN
Ẩn dụ cấp độ 3: TÌNH YÊU (DUYÊN PHẬN) CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ (bấp bênh, vô định) LÀ GHE THUYỀN LÊNH ĐÊNH TRÊN MẶT NƯỚC
Miền nguồn: GHE THUYỀN LÊNH Miền đích: TÌNH YÊU (DUYÊN ĐÊNH TRÊN MẶT NƯỚC PHẬN) CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ (bấp
bênh, vô định)
Ẩn dụ cấp độ 4: TÌNH YÊU (SỐ PHẬN) HẠNH PHÚC/KHỔ ĐAU LÀ GHE THUYỀN CẬP BẾN TRONG/ĐỤC
Miền nguồn: GHE THUYỀN CẬP BẾN TRONG/ĐỤC
Lược đồ 3. 12. Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA trong ca dao Nam Bộ