TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 146 - 149)

Chương 3. ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ

3.2. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU

3.2.1. TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) Miền nguồn: VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG

ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

Bỏ, để, đựng, ôm khối tình, cục tình Vuông tròn

Lược đồ 3. 8. Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) trong ca dao Nam Bộ

TÌNH YÊU là một ý niệm trừu tượng. Chúng ta có thể cảm nhận được TÌNH YÊU, nhưng không thể chạm vào TÌNH YÊU. Chúng ta cũng không thể nhìn thấy TÌNH YÊU, mà chỉ cảm nhận được biểu hiện và hiệu ứng của TÌNH YÊU. Tuy vậy, trong CDNB, TÌNH YÊU lại được ý niệm hóa là một thực thể hay chất thể, nên tình yêu có các thuộc tính: dày, mỏng, nặng, nhẹ, lợt phai,… và ta có thể dứt, gá, giữ, phân, lìa,… TÌNH YÊU.

TÌNH YÊU được thực thể hóa là một MÓN ĐỒ, một VẬT THỂ NHỎ BÉ dễ mang theo, hay bỏ ở bất kỳ đâu đó trên dòng đời xuôi ngược:

(1) Anh ơi, đưa hộp kiếng em bỏ chữ tang tình, Để chiều về trển mở ra nhìn có em.

(167NB)

(2)Bành tô xấu mặt dễ nhìn,

Anh bận cho có túi để đựng cục tình của em. (180NB)

(3) Anh thương em không biết để đâu, Để trong túi áo lâu lâu thăm chừng. (169NB)

(4) Anh về em nắm vạt áo em la làng, Phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em. (173NB)

Các biểu thức ẩn dụ bỏ chữ tang tình (1), cục tình (2), thương… để trong túi áo (3), bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng (4) là những biểu hiện của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ. Trong đó, bài CDNB (1) có sự kết hợp của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ và TÌNH YÊU LÀ CON NGƯỜI (bỏ chữ tang tình… mở ra nhìn có em). Bài CDNB (4) được hiểu qua hai ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ và TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (anh về… phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng).

Trong tri nhận của tác giả dân gian Nam Bộ, TÌNH YÊU là VẬT THỂ nên TÌNH YÊU được bỏ vào hộp, bỏ trong túi, bỏ giữa đàng. Cách tiếp cận bản thể không chỉ giúp người Việt Nam Bộ tri nhận được bản chất của TÌNH YÊU, mà còn gợi mở ra những tri thức mới về TÌNH YÊU.

Xét thêm các dẫn liệu sau để thấy rằng VẬT THỂ mang tên TÌNH YÊU rất đa dạng, TÌNH YÊU được ý niệm hóa là ngọn, gò: (5) Đèn treo ngọn ái,/Nước xoáy gò ân,/Phải lương duyên thì xích lại cho gần,/Kẻo mai vắng mặt, hai đứa thầm nhớ thương. (255NB); được xác định hình khối vuông tròn: (6) Đêm khuya vắng nghe con chim kêu, con gà gáy,/Anh để em ôm khối tình ngậm đắng nuốt cay. (257NB);

(7) Vái trời cho đặng vuông tròn,/Trăm năm giữ vẹn lòng son cùng chàng.

(413NB); và cực đỉnh của TÌNH YÊU là một VẬT THỂ CÓ KHỐI LƯỢNG RẤT LỚN: (8) Thương em chẳng biết để đâu,/Để quán quán đổ, để cầu cầu xiêu. (388 NB)

Chúng tôi chọn bài CDNB (6) ở trên phân tích để làm rõ thêm về ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ. TÌNH YÊU trong bài CDNB này được ý niệm hóa là VẬT THỂ/CHẤT THỂ qua biểu thức ẩn dụ được đánh dấu ôm khối tình.

Khối tình được dùng rất phổ biến không chỉ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày mà còn cả trong văn chương của người Việt. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: Nợ tình chưa trả cho ai,/Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan; Hồ Biểu

Chánh có tác phẩm Hai khối tình (1939); Tản Đà có Khối tình con,… Trong Tình Sử Trung Quốc, khối tình được lý giải dựa trên một số câu chuyện khác nhau. Theo Diên Hương [49], Mộng Bình Sơn [93], Trần Phương Hồ [41], thì khối tình có nghĩa là tình yêu sâu nặng đúc lại thành khối. Khối tình ấy rất cứng, làm cách nào cũng không tan vỡ, chỉ khi có nước mắt của người yêu nhỏ vào thì mới tan ra. Khối tình trong bài CDNB (6) cũng được hiểu là tình yêu sâu nặng đúc lại thành khối. Cô gái trong bài CDNB cô đơn, sầu tủi, thương nhớ người yêu da diết. Cô đã phơi bày tình cảm vô hình của mình bằng cách hữu hiệu nhất là vật thể/chất thể hóa nó, làm nó hữu hình, để mọi người có thể cảm nhận được bằng thị giác, xúc giác. Bài CDNB còn có sự kết hợp của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ và TÌNH YÊU LÀ GIA VỊ, nên TÌNH YÊU càng được tri nhận sâu sắc và tinh tế hơn.

TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ Miền nguồn: VẬT THỂ/CHẤT THỂ

Tri giác được

Có đường nét, hình khối; được lượng, định tính trong không gian Được định vị trong quan hệ với thể/chất thể khác

Có thể bị tác động, làm biến đổi

Lược đồ 3. 9. Lược đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ trong ca dao Nam Bộ

TÌNH YÊU là một trong những biểu hiện tình cảm của con người. Nó được hình thành qua sự trải nghiệm tâm - sinh lý phức tạp, sự tương tác với những ảnh hưởng sinh - hóa bên trong cơ thể và môi trường xung quanh. Do trừu tượng, khó nắm bắt nên con người đã thực thể/chất thể hóa tình yêu. Điều này nằm trong quy luật chung của tư duy. Khởi nguyên của mọi ý niệm về thế giới đều dựa trên bản chất của sự tồn tại. Tồn tại giúp con người có thể nhận thức được bằng lý tính. Đây là cơ sở lý giải tại sao các phạm trù ý niệm TÌNH CẢM của con người nói chung,

TÌNH YÊU nói riêng thường gắn với các thực thể vật chất. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ cho phép chúng ta chuyển di những hiểu biết về cấu trúc cơ bản của những sự vật tồn tại trong thế giới khách quan để hiểu nhiều hơn về TÌNH YÊU. Kinh nghiệm của con người về những đặc trưng, tính chất cơ bản của những cái thực tồn trong thế giới khách quan giúp con người liên hệ, xác định mối quan hệ giữa TÌNH YÊU và VẬT THỂ/CHẤT THỂ. Nói cách khác, TÌNH YÊU - VẬT THỂ/CHẤT THỂ tồn tại trong sự tương quan ý niệm. Từ những dẫn liệu và phân tích ở trên, có thể mô hình hóa TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ qua lược đồ 3.9 ở trên.

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 146 - 149)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(237 trang)
w