Ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC/KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC 176 1. HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 195 - 200)

Chương 4. ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ

4.3. Ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC/KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC 176 1. HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC

Cảm xúc của con người, ngoài cảm xúc trung tính, thường được lưỡng cực thành hai nhóm: TÍCH CỰC (positive) và TIÊU CỰC (negative). Cảm xúc tích cực và tiêu cực được phân tích trong mục này là theo quan điểm tâm lý (psychological viewpoint), không phải quan điểm đạo đức (moral). Cảm xúc tích cực là cảm xúc bao gồm sự đánh giá tích cực của đối tượng, động cơ và cảm giác. Ngược lại, cảm xúc tiêu cực là cảm xúc bao gồm sự đánh giá tiêu cực của đối tượng, động cơ và cảm giác. Cảm xúc tích cực được nói đến trong luận án là ý niệm HẠNH PHÚC, còn cảm xúc tiêu cực là ý niệm KHỔ ĐAU trong tình yêu đôi lứa. Qua khảo sát CDNB, chúng tôi thống kê được ẩn dụ HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC chỉ được thể hiện qua 35/4.793 bài, chiếm tỉ lệ 0,7%; trong khi đó, ẩn dụ KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC được thể hiện qua 541/4.793 bài, chiếm tỉ lệ 11,3 %. Có thể thấy, ẩn dụ KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC chiếm tỉ lệ cao hơn rất nhiều so với HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC.

4.3.1. HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC

Ẩn dụ HẠNH PHÚC mà chúng tôi phân tích trong mục này có tương quan với một số ẩn dụ đó được G. Lakoff - M. Johnson (1980) và Z. Kửvecses (1991) đưa ra, như: HẠNH PHÚC LÀ LÊN TRÊN, HẠNH PHÚC LÀ LÊN KHỎI MẶT ĐẤT, HẠNH PHÚC LÀ LÊN THIÊN ĐƯỜNG, HẠNH PHÚC LÀ ÁNH SÁNG, HẠNH PHÚC LÀ SỨC SỐNG, HẠNH PHÚC LÀ HƠI ẤM, HẠNH PHÚC LÀ SỨC KHỎE, MỘT NGƯỜI HẠNH PHÚC LÀ MỘT CON VẬT SỐNG KHỎE MẠNH, HẠNH PHÚC LÀ MỘT CẢM GIÁC THÂN XÁC LÝ THÚ/DỄ CHỊU, HẠNH PHÚC LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA, HẠNH PHÚC LÀ MỘT CON VẬT BỊ NHỐT, HẠNH PHÚC LÀ ĐỐI THỦ TRONG MỘT CUỘC CHIẾN, HẠNH PHÚC LÀ CẢM GIÁC LÂNG LÂNG/LÊN CAO, HẠNH PHÚC LÀ SỰ ĐIÊN RỒ, HẠNH PHÚC LÀ SỨC MẠNH TỰ NHIÊN [145, tr.24-25].

Xuất phát từ trải nghiệm tâm - sinh lý của con người, có thể thấy, HẠNH PHÚC là trạng thái vui sướng, thỏa mãn của chủ thể vì cảm thấy đạt được ý

nguyện, nên được xếp vào nhóm TÌNH CẢM TÍCH CỰC. Trong CDNB, HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC được thể hiện qua một số ẩn dụ tương hợp, như: HẠNH PHÚC LÀ LÊN KHỎI MẶT ĐẤT, HẠNH PHÚC LÀ LÊN THIÊN ĐƯỜNG, HẠNH PHÚC LÀ SỨC KHỎE, MỘT NGƯỜI HẠNH PHÚC LÀ MỘT CON VẬT SỐNG KHỎE MẠNH, HẠNH PHÚC LÀ MỘT CẢM GIÁC THÂN XÁC LÝ THÚ/DỄ CHỊU, HẠNH PHÚC LÀ CẢM GIÁC LÂNG LÂNG/LÊN CAO, HẠNH PHÚC LÀ VÔ GIÁ.

Nguyên tắc chung của ẩn dụ HẠNH PHÚC được phân tích dưới đây là:

HẠNH PHÚC LÀ GẦN/LÊN TRÊN, GẦN/LÊN TRÊN LÀ TÍCH CỰC, nên HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC. Trong đó, nguyên lý SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC được phân tích xuyên suốt.

Trong CDNB, sự định vị được thể hiện rất đa dạng. Ngoài định vị theo phương thẳng đứng, CDNB còn định vị theo KHOẢNG CÁCH, một biến thể của định vị theo phương nằm ngang:

(1) Xin cho thấy mặt nhau liền,

Thấy thì khỏe mạnh, thuốc tiên không bằng. (421NB) (2) Thiếp đứng gần chàng hơn vàng chín nén, Chàng đứng gần thiếp hơn chén thuốc tiên. (382NB)

Có thể thấy, cả hai bài CDNB đều sử dụng ẩn dụ khoảng cách GẦN, tạo thành ẩn dụ ý niệm GẦN HƠN LÀ TỐT HƠN, GẦN LÀ TỐT/TÍCH CỰC hay SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC. Sự định vị không gian ánh xạ sang định vị tình cảm nam - nữ.

Mối liên hệ giữa HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC trong bài CDNB (1) là ẩn - hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ, TÌNH CẢM LÀ SỰ GẦN GŨI, SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC; còn bài CDNB (2) là ẩn dụ TÌNH CẢM LÀ SỰ GẦN GŨI và SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC. Sự gần gũi tạo ra hiệu ứng HẠNH PHÚC: HẠNH PHÚC LÀ KHỎE MẠNH, HẠNH PHÚC LÀ VÔ GIÁ (hơn chén thuốc tiên, thuốc tiên không bằng, hơn vàng chín nén).

Về mặt TÂM - THỂ, có thể nói rằng, cảm xúc và các yếu tố khác của tinh thần thường gây ra những thay đổi trong cơ thể con người. Suy nghĩ, tình cảm, niềm tin và thái độ của con người có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến chức năng sinh học.

Điều này dẫn đến mối tương quan phức tạp giữa tinh thần và cơ thể. Theo Esther M.

Sternberg và Philip W. Gold, “não bộ và hệ thống miễn dịch liên tục báo hiệu cho nhau, thường theo một chuỗi các phản ứng hóa sinh giống nhau, điều này giải thích các trạng thái của tinh thần ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào” [164, tr.82]. Chính vì vậy, tinh thần thoải mái, lạc quan, cùng các thuộc tính tâm lý tích cực đem lại cho chủ thể trải nghiệm cảm xúc hạnh phúc cảm giác khỏe khoắn, dễ chịu.

Cũng dựa trên nguyên lý về định vị khoảng cách, tác giả dân gian Nam Bộ có những so sánh rất thú vị:

(3) Cao ly sắc với ngưu hoàng,

Uống không mát dạ bằng thiếp với chàng gặp nhau. (351CL) (4) Bữa ăn có cá cùng canh,

Cũng không mát dạ bằng anh thấy nàng. (204NB)

Bài CDNB (3) có sự tương hợp giữa các ẩn dụ DẠ LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM, TÌNH CẢM LÀ SỰ GẦN GŨI, HẠNH PHÚC LÀ THUỐC BỔ, HẠNH PHÚC LÀ MỘT CẢM GIÁC THÂN XÁC LÝ THÚ/DỄ CHỊU. Bài CDNB (4) DẠ LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM, TÌNH CẢM LÀ SỰ GẦN GŨI, HẠNH PHÚC LÀ BỮA ĂN NGON, HẠNH PHÚC LÀ MỘT CẢM GIÁC THÂN XÁC LÝ THÚ/DỄ CHỊU. Nói cách khác, các ẩn dụ này có mối liên hệ với nhau, tạo cơ sở cho ẩn dụ khái quát trong văn bản: HẠNH PHÚC LÀ VÔ GIÁ.

Hiệu ứng của HẠNH PHÚC được thể hiện qua các bài CDNB (1) - (4) đều do nguyên lý định vị về SỰ GẦN GŨI chi phối, hay SỰ GẦN GŨI LÀ SỨC MẠNH GÂY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC. Nói cách khác, trong quan hệ liên nhân, những người GẦN GŨI nhau về mặt tình cảm thường muốn gặp nhau; những người GẦN GŨI nhau về mặt tình cảm thường có tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.

Vẫn là nguyên lý về sự định vị theo phương nằm ngang, chúng ta không thể không chú ý đến sự “co giãn”:

(5) Bao giờ thuyền trả lái day Cờ về tay phất đẹp mày nở gan. (121LT)

Nếu phân tích kỹ, bài CDNB (5) có sự định vị khá phức tạp. THUYỀN - LÁI có quan hệ tiếp xúc, điều khiển/kiểm soát; CỜ VỀ TAY có quan hệ dịch chuyển, tiếp xúc, nắm giữ/kiểm soát; ĐẸP MÀY NỞ GIAN là sự giãn nở. Tất cả đều tạo hiệu ứng nghĩa tích cực trong bài CDNB.

Nói cách khác, bài CDNB trên đã vận dụng ba thành ngữ, tục ngữ nên cơ chế tạo nghĩa khá phức tạp. Trước hết, đó là tục ngữ thuyền theo lái, gái theo chồng.

Người phụ nữ ngày xưa khi lấy chồng thì phải theo chồng (xuất giá tòng phu), cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng. Đây là cơ sở của ẩn dụ khái quát CON NGƯỜI LÀ ĐỒ VẬT, được thể hiện qua ẩn dụ cụ thể NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THUYỀN (bị điều khiển), NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀ LÁI (nắm quyền điều khiển). Thứ hai là tục ngữ Cờ đến tay ai, người ấy phất. Trong ngữ cảnh này, câu tục ngữ có nghĩa là nắm giữ và sử dụng quyền hành. Đây là cơ sở của ý niệm tay biểu trưng cho quyền lực và ẩn dụ ý niệm NẮM (CÁI GÌ ĐÓ) TRONG TAY LÀ CÓ QUYỀN KIỂM SOÁT. Cuối cùng là thành ngữ Đẹp mày nở gan, ý nói sự vui mừng, mãn nguyện của con người. Đây là cơ sở của ẩn dụ khái quát TINH THẦN LÀ THỂ XÁC (THỂ DIỆN CON NGƯỜI LÀ BỘ MẶT CON NGƯỜI), CƠ THỂ LÀ VÂT CHỨA TINH THẦN (GAN LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM). Xâu chuỗi ba thành ngữ, tục ngữ lại, chúng ta sẽ giải mã được bài CDNB: Bao giờ vợ theo chồng, quyền hành trong tay chồng thì người chồng vui sướng, hạnh phúc; và người chồng thể hiện được trách nhiệm, uy quyền cũng như thể diện của mình đối với gia đình, xã hội. Qua đó, có thể thấy, bài CDNB được giải mã qua hàng loạt ẩn dụ ý niệm:

NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THUYỀN, NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀ LÁI, NẮM (CÁI GÌ ĐÓ) TRONG TAY LÀ CÓ QUYỀN KIỂM SOÁT, THỂ DIỆN CON NGƯỜI LÀ BỘ MẶT CON NGƯỜI, GAN LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM.

Trọng tâm ngữ nghĩa của bài CDNB trên được thâu tóm vào thành ngữ cuối cùng, kết quả đạt được của chủ thể trữ tình là Đẹp mày nở gan. Cơ sở nghiệm thân của ẩn - hoán dụ ý niệm THỂ DIỆN CON NGƯỜI LÀ BỘ MẶT CON NGƯỜI, GAN LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM được thể hiện qua bài CDNB trên là: con người trải nghiệm tình cảm hạnh phúc thường có phản ứng sinh lý là lượng máu dưới da tăng lên, thân nhiệt cũng tăng, làm cơ thể ấm lên, do đó, nét mặt tươi tắn, da dẻ hồng hào, còn các bộ phận nội tạng thì có cảm giác thoải mái, dễ chịu, như căng phồng lên.

Hay nói theo G. Lakoff và M. Johnson [153], thì sự tồn tại của niềm hạnh phúc biểu hiện ở bề ngoài là khuôn mặt rạng rỡ. Khi hạnh phúc, con người cũng trải qua với những đáp ứng về sinh học, bao gồm sự ấm áp, sự xung động, sự kích động.

Như đã đề cập, sự định vị trong CDNB rất đa dạng, ở trên là những trường hợp định vị theo khoảng cách, sự co giãn - các biến thể của phương nằm ngang - sau đây là trường hợp định vị theo phương thẳng đứng, một phương vốn xuất phát từ những trải nghiệm vận động của cơ thể con người, thể hiện phổ biến trong các ngôn ngữ:

(6) Ngày nào nên ngãi vợ chồng, Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây. (437CL) Hay:

(6’) Đứa nào nên ngãi vợ chồng,

Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây. (329NB)

Có thể mượn nhận định về cơ sở vật chất của hạnh phúc cá nhân đã được G.

Lakoff và M. Johnson đưa ra: “hạnh phúc, sức khỏe, cuộc sống và quyền hành - những điều đặc trưng hóa cái tốt đẹp đối với mỗi người - tất cả đều lên trên” [153, tr.16].

Bài CDNB (6) (6’) có sự kết hợp của ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT, HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ THĂNG HOA CỦA ĐỘNG VẬT. Trong văn hóa của người Việt, biểu thức ẩn dụ lên mây trong bài CDNB (6) (6’) có thể được hiểu qua một số ẩn dụ HẠNH PHÚC LÀ LÊN KHỎI MẶT ĐẤT,

Một phần của tài liệu Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ (Trang 195 - 200)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(237 trang)
w