Chương 3. ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ
3.1. Ẩn dụ ý niệm DUYÊN
3.1.3. DUYÊN LÀ SỢI DÂY
Trong 237 bài CDNB có biểu thức ẩn dụ ý niệm DUYÊN, thì diễn đạt hình dạng SỢI DÂY xuất hiện ở 35 bài, chiếm tỉ lệ 14.7%. Các thuộc tính đánh dấu
DUYÊN LÀ SỢI DÂY được thể hiện qua kết (28 lần), chỉ (10 lần), dây (7 lần), vòng (6 lần), se (6 lần), buộc (3 lần), tơ hồng (2 lần), mở (1 lần), vắn vỏi (1 lần).
Ẩn dụ DUYÊN LÀ SỢI DÂY được thể hiện qua các thuộc tính ánh xạ cơ bản như lược đồ 3.3.
DUYÊN LÀ SỢI DÂY Miền nguồn: SỢI DÂY
Kết, buộc, se
Đứt, bứt, dứt, không se, mở Rối ren
Vắn vỏi
Lược đồ 3. 3. Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ SỢI DÂY trong ca dao Nam Bộ
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, “sợi dây tượng trưng cho mọi hình thức gắn bó, ràng buộc, với những năng lực bí ẩn, thậm chí thần bí” [10, tr.247]. SỢI DÂY còn có tác dụng nối kết tất cả các dạng tồn tại với nhau và với bản nguyên của chúng. Thậm chí, SỢI DÂY còn nối kết thế giới này với thế giới khác và với tất cả các sinh linh.
Theo Phật giáo, duyên nghiệp của con người là SỢI DÂY, còn gọi là SỢI DÂY DUYÊN NGHIỆP. Trong văn hóa của người Việt, SỢI DÂY là biểu tượng văn hóa biểu trưng cho quan hệ hôn nhân (xem [41-tr.179-188] [93-tr.186-190]). Dân gian tin rằng Nguyệt lão hay Nguyệt hạ lão nhân là vị thần chuyên lo việc hôn nhân, se duyên cho các đôi trai gái. Nguyệt lão lấy SỢI CHỈ ĐỎ buộc chân các cặp nam - nữ lại với nhau, dù họ có cách núi ngăn sông thì vẫn đến được với nhau; còn nếu Nguyệt lão không buộc thì cho dù có ở gần bên nhau thì họ cũng không nên duyên chồng vợ.
Người Việt tin rằng nhân duyên của con người là do Nguyệt lão sắp đặt.
Tác giả dân gian Nam Bộ ý niệm hóa SỢI DÂY DUYÊN NỢ ràng buộc con người trong mọi sự vui buồn, sầu khổ, oán trách. SỢI DÂY DUYÊN NỢ nối kết và siết chặt những trái tim đồng điệu lại với nhau:
(1) Nước dưới sông lững đững, Mây đưa gió dật dờ.
(2) Trách ông tơ bà nguyệt chẳng se, Một mình ngồi lén bụi tre khóc ròng.
Trời sao trời ở không công,
Duyên tôi như chỉ lộn vòng rối ren. (400NB) (3) Nợ duyên này ai bứt cho rời
Ông Tơ biểu buộc chặt, ông Trời biểu thương.
Qua các biểu thức ẩn dụ buộc chặt/tơ duyên, se dây (1) (2) (3), chúng ta có thể khái quát không chỉ ẩn dụ DUYÊN LÀ SỢI DÂY mà còn cả ẩn dụ DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ THỂ THỐNG NHẤT (LOVE IS A UNITY). Định mệnh một khi đã buộc hai trái tim đồng điệu vào nhau, thì họ trở thành một khối thống nhất không thể tách rời:
(4) Trăm lạy ông trời duyên nợ cho mau xong, Ai giăng dây cũng đứt, ai thắt vòng cũng mở ra. (402NB)
Qua bài CDNB (4) có thể thấy, trong tri nhận của người Việt, sợi dây duyên nghiệp của con người không chỉ do ông Tơ bà Nguyệt se mà còn do ông Trời nối kết.
Chính vì vậy, các thế lực siêu nhiên này một khi mà không cùng quan điểm, không đứng chung một chiến tuyến, thì sẽ gây ra những khổ đau, phiền muộn trong quan hệ tình yêu đôi lứa ở trần gian:
(5) Căn duyên này phá cho rồi Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không.
Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết, Gặp bà nguyệt hỏi thiệt cho rành,
Vì đâu hoa nọ lìa cành,
Nợ duyên sớm dứt, cho đành dạ em. (356 CL)
Bài CDNB (5) có sự kết hợp của ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT, DUYÊN LÀ VẬT THỂ, DUYÊN LÀ SỢI DÂY và DUYÊN LÀ THỂ THỐNG NHẤT. Qua đó, có thể thấy, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều kinh nghiệm để ý niệm hóa DUYÊN. Tương tự, bài CDNB sau cũng được hiểu qua sự kết hợp các loại kinh nghiệm trong ẩn dụ:
(6) Nhớ khi chung chạ chiếu giường Bây giờ đành đoạn đứt đường tơ duyên.
Đứt đường tơ duyên có thể được hiểu DUYÊN LÀ SỢI DÂY hay DUYÊN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH. Trong cuộc hành trình, hai người yêu nhau không còn đi chung đường nữa, “đứt đường” (6) thì tình yêu tan vỡ. Đứt dây hay đứt đường đều thể hiện sự ly tán trong tình yêu. Biểu thức nhớ khi chung chạ chiếu giường là một sự hồi tưởng của ý niệm DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ SỰ THỐNG NHẤT đã qua, còn hiện tại thì DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ SỰ TAN VỠ.
Đến đây có thể nói rằng, ý niệm DUYÊN trong CDNB có khi đồng nhất với tình yêu và được thể hiện rất phong phú qua các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ, tạo ra hàng loạt ẩn dụ gắn kết với nhau: DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ,
DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY, DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ THỂ THỐNG NHẤT và DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH. Qua đó, cũng có thể nói rằng, quá trình khái quát hóa từ ẩn dụ ngôn ngữ thành ẩn dụ ý niệm có lẽ là phần tương đối khó và không khỏi gây tranh cãi. Bởi lẽ, cái khó chủ yếu là do bản chất của ẩn dụ ý niệm. Các quá trình tri nhận tạo ra ẩn dụ là sản phẩm của cộng đồng, trải qua lịch sử lâu dài. Đây không phải là những quá trình nhận thức khoa học chặt chẽ (qua các thao tác tư duy lý tính như phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, so sánh…), mà chỉ là những quá trình tri nhận dựa vào kinh nghiệm, thường là vô thức. Vì thế, bản thân ẩn dụ ý niệm trong một nền văn hóa vốn không tồn tại có hệ thống rạch ròi, chặt chẽ. Nghiên cứu ẩn dụ là khái quát hóa, hệ thống hóa trên cơ sở cái vốn không có hệ thống chặt chẽ, nên kết quả ít nhiều
phụ thuộc vào sự tri nhận và kinh nghiệm mang tính chủ quan của người nghiên cứu.
Trong các ẩn dụ ý niệm mà chúng tôi vừa khái quát, DUYÊN/TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY đóng vai trò chủ đạo, trung tâm của sự gắn kết, tạo ra các ẩn dụ tương hợp hoạt động xung quanh nó. SỢI DÂY quán xuyến DUYÊN như sợi định mệnh, sợi dây số phận, buộc những con người hữu duyên lại với nhau. Qua các diễn đạt của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ SỢI DÂY, tác giả dân gian Nam Bộ đã giải thích một cách ngắn gọn, đơn giản và hiệu quả nhất sự hợp tan của tình yêu đôi lứa.