Sau khi học bài này, học viên có thể:
1. Kể được 3 giai đoạn chuyển dạ.
2. Mô tả được cách theo dõi chăm sóc chuyển dạ đẻ thường trong trường hợp sản phụ không thể đến cơ sở y tế.
3. Phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường của bà mẹ chuyển dạ, để chuyển bà mẹ đến cơ sở y tế kịp thời.
Nội dung
Cô đỡ thôn bản cần theo dõi, chăm sóc tốt quá trình mang thai cho bà mẹ ; tư vấn hiệu quả để các bà mẹ đến cơ sở y tế đẻ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bà mẹ không đến hoặc không thể đến đẻ ở cơ sở y tế (ví dụ như: Do địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, thiếu phương tiện chuyển bà mẹ, thời tiết xấu, tập quán sinh đẻ của đồng bào còn lạc hậu hoặc do bà mẹ chuyển dạ nhanh không kịp đến đẻ tại cơ sở y tế…), khi đó CĐTB phải theo dõi bà mẹ chuyển dạ và đỡ đẻ tại nhà. Vì vậy, CĐTB cần xác định được chuyển dạ và theo dõi liên tục cuộc chuyển dạ, phát hiện yếu tố bất thường để thông báo đến cơ sở y tế gần nhất hỗ trợ kịp thời.
1. Định nghĩa chuyển dạ:
Chuyển dạ là quá trình diễn tiến của nhiều hiện tượng, quan trọng nhất là những cơn co tử cung làm cho cổ tử cung xóa mở dần và kết quả là thai và rau được sổ ra ngoài.
2. Dấu hiệu chuyển dạ:
- Cơn co tử cung: Bà mẹ đau bụng từng cơn, các cơn đau tăng dần. Ban đầu có 1-2 cơn đau trong 10 phút, sau tăng dần lên 3 cơn – 4 cơn. Khi cơn đau bụng của bà mẹ đến 5 cơn trong 10 phút là chuẩn bị đẻ.
- Ra dịch hồng hoặc chất nhầy (như nhựa chuối) âm đạo: Đó là do hiện tượng cổ tử cung xoá mở, kết hợp với cơ co tử cung tống nút nhầy ở cổ tử cung ra ngoài.
- Ra nước âm đạo: Có thể đã vỡ ối hoặc rỉ ối.
3. Các giai đoạn của chuyển dạ: Gồm 3 giai đoạn chính:
3.1. Giai đoạn mở cổ tử cung: Là giai đoạn từ khi bà mẹ bắt đầu đau bụng chuyển dạ đến khi cổ tử cung mở hết, đầu thai nhi thập thò ở âm hộ
3.2. Giai đoạn xổ thai
- Tính từ lúc cổ tử cung mở hết, đầu lọt cho đến khi thai xổ ra ngoài - Có khoảng 4-5 cơn co trong 10 phút.
- Thời gian xổ thai ở con so khoảng 40 - 45 phút, con rạ khoảng 20 -30 phút (nếu trên 45 phút đối với con so hoặc trên 30 phút đối với con rạ cần phải gọi cán bộ y tế hỗ trợ).
3.3 . Giai đoạn xổ rau: Tính từ lúc xổ thai cho đến khi rau xổ ra ngoài: từ 10 - 30 phút.
72
4. Theo dõi và chăm sóc cuộc chuyển dạ đẻ. Phát hiện các yếu tố bất thường để chuyển bà mẹ đến cơ sở y tế
Cô đỡ thôn bản chỉ được theo dõi chuyển dạ tại nhà cho những trường hợp thai nghén không có nguy cơ. Mọi trường hợp có nguy cơ phải chuyển đến cơ sở y tế khi có dấu hiệu chuyển dạ.
STT Nội dung theo dõi Phát hiện bất thường Xử trí
1 Theo dõi toàn thân:
- Mạch:
+ Trong chuyển dạ bắt mạch 4 giờ một lần, ngay sau đẻ phải đếm mạch, ghi lại vào sổ sau đó cứ 15 phút một lần trong 2 giờ đầu và 1 giờ một lần trong 4 giờ tiếp theo.
+ Bình thường mạch 70 - 80 lần/phút,
- Huyết áp:
+ Đo huyết áp: trong chuyển dạ 4 giờ một lần, ngay sau đẻ phải đo huyết áp để ghi lại vào sổ, sau đó 1 giờ một lần trong 2 giờ đầu; phải đo huyết áp khi có chảy máu hoặc mạch nhanh. Chỉ đo huyết áp giữa các cơn co tử cung khi sản phụ đã hết đau.
+ Bình thường huyết áp tối đa từ 90 đến dưới 140mmHg; huyết áp tối thiểu từ 60 đến dưới 90 mmHg
- Nếu bà mẹ mệt lả, kiệt sức, vật vã, khó thở
- Trưởng hợp mạch nhanh 100 lần/phút hoặc chậm 60 lần/phút, hoặc mạch rất nhanh, nhỏ khó bắt
- Huyết áp tối đa trên 140mmHg hoặc huyết áp tối thiểu trên 90mmHg hoặc cả hai
- Huyết áp tụt thấp dưới 90/60mmHg phải gọi cán bộ y tế xuống hỗ trợ chuyển tuyến
- Cho uống oresol, nước chè đường nóng hoặc nước gừng pha đường nóng.
- Thông báo với cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn và phối hợp xử trí.
- Huy động gia đình và/hoặc cộng đồng chuyển bà mẹ đến cơ sở y tế.
2 Theo dõi các cơn co tử cung:
- Cơn co tử cung xuất hiện tự nhiên ngoài ý muốn của sản phụ, gây đau và có tính chất chu kỳ, đều đặn.
- Thời gian 1 cơn co khi mới chuyển dạ từ 15-20 giây
- Khoảng cách giữa 2 cơn co:
+ Khi mới chuyển dạ từ 4-5 phút/cơn + Khi cổ tử cung mở hết từ 1-2 phút/cơn.
- Cách đo cơn co tử cung (theo dõi bằng đồng hồ): đặt lòng bàn tay lên bụng sản phụ (phía đáy tử cung) khi thấy tử cung co chắc lại và sản phụ thấy đau bụng đến khi sản phụ hết
- Nếu số cơn đau trong 10 phút chỉ 1-2 cơn, lâu không tăng là bất thường.
- Nếu số cơn đau tăng nhanh mà không thấy đầu thai nhi ở âm đạo là bất thường
- Thai phụ đau bụng dồn dập, quằn quại, mệt mỏi, kêu la.
- Nhìn thấy rõ hai khối bị thắt ở giữa như hình quả bầu nậm, khối dưới là đoạn dưới bị kéo dài (có khi lên tới rốn), đẩy
- Không xoa bụng, không để bà mẹ đi lại, hướng dẫn bà mẹ cố gắng thở nhiều hơn, cho bà mẹ uống nước đường hoặc nước cam…
- Gọi điện ngay đến cán bộ trạm y tế xã hoặc khoa sản bệnh viện, thông báo tình trạng của bà mẹ và thực hiện theo hướng dẫn của họ.
- Huy động gia đình,
73
STT Nội dung theo dõi Phát hiện bất thường Xử trí
đau bụng và tử cung hết co là 1 cơn, tính khoảng cách các cơn bằng cách tiếp tục để tay lên bụng sản phu và theo dõi đồng hồ để đếm cơn co tiếp theo.
- Đếm số cơn cơ co tử cung trong 10 phút. Nếu số cơn đau trong 10 phút là 4 – 5 lần là sản phụ chuẩn bị đẻ.
khối thân tử cung lên cao (chỗ thắt ở giữa là vòng Bandl)
cộng đồng chuẩn bị phương tiện để chuyển bà mẹ đến cơ sở y tế.
Gia đình chuẩn bị quần áo cho mẹ và bé, cử người đi cùng bà mẹ đến bệnh viện.
3 Theo dõi nhịp tim thai.
- Nghe tim thai 30 phút một lần, nghe trong 1 phút và nhận xét nhịp tim thai có đều không.
- Thời điểm nghe tim thai: sau khi hết cơn đau (hết cơn cơ tử cung); và
- Nghe trước và sau khi bấm ối hoặc khi ối vỡ, để phát hiện bất thường - Phải đếm nhịp tim thai trong 1 phút - Nhịp tim thai bình thường trong khoảng 120 - 160 lần/phút
Tình trạng thai nhi nguy kịch khi:
- Đếm nhịp tim thai thấy trên 160 lần trong 1 phút hoặc dưới 120 lần trong 1phút.
- Nghe nhịp tim thai không đều - Không nghe thấy tim thai
- Cho bà mẹ nằm đầu cao, nghiêng sang bên trái
- Nới rộng quần áo, động viên bà mẹ thở sâu
- Gọi điện ngay cho cán bộ trạm y tế xã hoặc khoa sản bệnh viện để thông báo tình trạng của bà mẹ và thực hiện theo hướng dẫn của họ.
- Huy động gia đình, cộng đồng chuyển bà mẹ đến cơ sở y tế ngay 4 Theo dõi tình trạng ối
- Quan sát hoặc hỏi bà mẹ có thấy ra nước ở âm hộ nhiều không? Nếu có là ối đã vỡ.
- Khi nhìn thấy đầu thai nhi ở âm hộ nhưng vẫn còn màng ối, thì phải tiến hành bấm ối (làm rách màng ối) bằng dụng cụ vô khuẩn trước khi cho bà mẹ rặn.
- Bình thường đầu ối dẹt, nước ối có thể trong hay đục, số lượng 500 đến 1000ml
- Sờ thấy đầu ối như túi nước nhưng khó sờ thấy đầu thai nhi.
- Nếu ối vỡ non (ối vỡ khi chưa có chuyển dạ), ối vỡ sớm trên 6 giờ chưa đẻ.
- Nước ối xanh, nước ối có lẫn phân su
- Nước ối chảy ra ở âm hộ nhiều hoặc ra ít nhưng liên tục - Nếu sau khi vỡ ối mà thấy dây rau ra ở âm đạo thì nguy cơ thai bị suy yếu
- Gọi điện đến cán bộ xã hoặc đến khoa sản bệnh viện để được hướng dẫn xử trí
- Chuyển ngay thai phụ đến cơ sở y tế.
Khi chuyển nên cho sản phụ nằm nghiêng trái, kê cao mông để tránh sa dây rau.
* Nếu khi vỡ ối thấy dây rau ở âm hộ (sa dây rau) phải đẩy dây rau vào trong âm đạo.
Nếu không được, lấy
74
STT Nội dung theo dõi Phát hiện bất thường Xử trí
gạc tẩm nước ấm bọc dây rau, cho sản phụ nằm úp kê cao mông trước khi chuyển và giữ dây rau trong khi chuyển.
5 Theo dõi mức độ xóa mở cổ tử cung:
- Thăm âm đạo để xác định độ xóa mở cổ tử cung 4 giờ/lần nếu ối chưa vỡ; khám ngay khi ối vỡ và khi sản phụ mót rặn
- Bình thường cổ tử cung mềm, mỏng, không cứng, không phù nề - Cần hạn chế thăm âm đạo để tránh nhiễm khuân
- Độ mở cổ tử cung từ 0-3cm: thời gian trung bình 8 giờ
- Độ mở cổ tử cung từ 3-10cm: thời gian trung bình 7 giờ
- Sau 4 giờ cổ tử cung không mở thêm
- Sờ thấy cổ tử cung không tiến triển, phù nề
- Cổ tử cung mở hết mà đầu không lọt.
- Thời gian chuyển dạ kéo dài:
+ Con so quá 15 giờ + Con dạ quá 12 giờ (tính cả hai giai đoạn)
Chuyển sản phụ đến cơ sở y tế ngay.
6 Theo dõi mức độ tiến triển của ngôi (độ lọt):
- Phải đánh giá mức độ tiến triển của đầu thai nhi bằng cách nắn ngoài thành bụng và thăm âm đạo. Có 4 mức độ: đầu cao lỏng, đầu chúc, đầu chặt và đầu lọt. Khi đầu đã lọt có 3 độ lọt cao, lọt trung bình và lọt thấp - Bình thường cổ tử cung mở rộng dần thì đầu thai nhi lọt dần và xuống thấp. Khi khám vùng bụng ngay trên xương mu, sờ thấy đầu thai nhi ít dần là có lọt.
Nếu khám ngoài, sờ ngay trên xương mu, thấy đầu thai nhi vẫn lắc qua lắc lại được là chưa lọt, không đẻ được.
- Nếu khám âm đạo sờ thấy tóc thai nhi và có cảm giác sờ vào túi nước – đó là bướu huyết thanh. Tiên lượng đẻ khó và dễ suy thai.
- Nếu khám âm đạo, sờ thấy đầu thai nhi nhưng thấy các gờ xương nổi lên, đó là hiện tượng chồng xương đầu thai nhi. Là đẻ khó, dễ suy thai.
- Nếu ngôi thai không tiến triển: luôn ở cao, đầu chờm khớp vệ (khớp mu) không đẻ được
Chuyển ngay sản phụ đến cơ sở y tế có khả năng mổ lấy thai
75 Bài 16