Những người lao động cùng khốn, lưu lạc với khát vọng hạnh phúc, lương thiện

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 32 - 40)

1.2. Những nhân vật bị vùi dập “dưới đáy” của xã hội vẫn tỏa sáng sức sống tinh thần…

1.2.1. Những người lao động cùng khốn, lưu lạc với khát vọng hạnh phúc, lương thiện

Nhà văn Nam Cao đã từng nói đại ý: “Hạnh phúc như một cái chăn hẹp, người này kéo thì người kia phải hở”. Nếu như hạnh phúc đúng chỉ là cái chăn hẹp thì những nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng phải co kéo rất nhiều để có thể ghé một chút người vào tấm chăn cỏn con, bé nhỏ ấy. Và có rất nhiều người suốt cả cuộc đời mình, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi cũng chưa biết đến cái cảm giác được hạnh phúc như thế nào. Vì thế, xét cho cùng thì mọi sự cố gắng, đấu tranh của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng đều hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn với khát vọng về một hạnh phúc có thực trong cuộc đời. Và hạnh phúc ấy phải được xây đắp nên từ sự lương thiện, chân chính, từ mồ hôi, nước mắt và máu thịt.

Một mái ấm gia đình là ước mơ về một hạnh phúc bình thường, giản dị nhất của những con người lao động trong cảnh khốn cùng. Lưu lạc, tha hương, dắt díu, nhau qua những miền quê cỗi cằn, trở thành dân nghèo thành thị, họ chỉ muốn đắp xây cái gia đình nhỏ của mình một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc. Khát vọng ấy được Nguyên Hồng thể hiện

rất rõ qua hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của ông. Họ là hiện thân của sự yên ấm, vững bền, của sự sống còn, thành bại. Họ là điểm tựa, là chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần nâng đỡ những nóc nhà xiêu vẹo trụ lại với những “cơn bão cuộc đời”. Nói đến họ là nói đến sức gánh chịu phi thường, đức hy sinh xả kỷ kỳ lạ. Sức mạnh tinh thần ấy có lẽ bắt nguồn từ trái tim rộng lớn bao la của họ. Truyện ngắn Nguyên Hồng nói riêng và tác phẩm của ông nói chung đều là những bài ca về trái tim lớn của người phụ nữ lao động, của những bà mẹ, những người vợ nghèo khổ mà đầy nội lực tinh thần. Họ không có những chiến công hiển hách, vĩ đại. Họ chỉ âm thầm làm những công việc nhỏ mọn hằng ngày mà không ai biết đến nó đòi hỏi ở họ biết bao sự hy sinh bền bỉ, biết bao đau đớn về thể xác và tinh thần.. Đáng thương nhất là gần như những trụ cột gia đình lại rơi hoàn toàn vào tay người đàn bà, để cho họ mặc sức xoay sở, chạy vạy, đầu tắt mặt tối để lo cho chu toàn cuộc sống vốn dĩ đã cùng cực của mình.

Nhân vật Mũn (Đây bóng tối) là hình ảnh của một người vợ, người mẹ hết lòng vì chồng vì con, nàng đã có thể chọn cho mình một cuộc đời khác nếu như không gắn đời nàng vào đời Nhân, nàng cũng có thể trở nên cáu gắt, dằn hắt bởi có những ngày bán buôn bị bắt nạt, bị o ép. Nhưng không, Mũn vẫn hiền hoà với cái vẻ chịu thương chịu khó, nhẫn nhục, cam chịu chỉ miễn sao cho Nhân và lũ con được vui vẻ, no đủ mà thôi. Mũn đã phải chịu nhiều ức hiếp, vẫn không một tiếng kêu ca, phàn nàn, “nàng như một tấm lá chắn đỡ lấy trăm nghìn mũi tên sắc nhọn để che chở cho chồng con được vẹn toàn” [63,73]. “Từ ngày Nhân mù, gia đình Nhân không kém vẻ hòa thuận ấm cúng mà còn vui vẻ êm đềm hơn

[48,72]. Vượt qua khó khăn này, khó khăn khác lại đến. Hạnh phúc chỉ còn là trong quá khứ, trong trí nhớ của Nhân về những ngày được “quây quần trên chiếc phản gỗ rộng mà vui cười bên tiếng quấy bột rì rì lẫn tiếng than củi nổ lép bép và tiếng nói nựng con ngộ nghĩnh của một người đàn bà”. Mũn chết, cả cuộc đời làm vợ, làm mẹ chưa lúc nào được vui chơi, được hưởng cái nhàn tản, yên ấm. Cuộc đời của Mũn là cuộc đời lặng lẽ của biết bao người phụ nữ hết lòng vì chồng, vì con, vì miếng cơm manh áo của gia đình mà phải cực nhục trăm bề. Trái tim nhà văn cũng như tan chảy ra hoà vào dòng nước mắt nghẹn ngào của Nhân và đàn con thơ dại.

Sự tảo tần, lo lắng cho gia đình của Mũn cũng là nỗi lo chung của bao nhiêu người đàn bà khác để giữ cho cái gia đình nhỏ của mình không sụp đổ trong nanh vuốt của đói

nghèo. Vợ Hưng (Miếng bánh) được tác giả gọi bằng một đại từ trung tính, vô cảm là y, nhưng thật ra có bao xót thương, trân trọng đã đặt cả vào nhân vật này. Dường như đó trở thành hình mẫu chung của những người phụ nữ giai đoạn này “Cuộc đời, thân thể, sự sống của y như không có đối với y. Trong sự hiểu biết, suy nghĩ và mong mỏi của y, chỉ bàng bạc một hình ảnh: đó là gia đình …Ngoài những con người ấy, chồng con và cháu ấy, bất cứ cái gì xảy ra lôi cuốn hay chồng lên đời y cũng được, đói rét, ốm đau, chợ xa, đường vắng, ngày mưa ngày nắng dầu dãi khác, gánh rau gánh đất…y cũng cúi đầu chịu lấy hết nếu những người kia sống và y sống.” [63,252]. Vì gia đình, người đàn bà này cam chịu nhận tất cả những cái không may về mình.

Hạnh phúc gia đình còn là niềm khao khát của những người đàn bà thô lậu như mụ vợ lão Đen. Cái khao khát ấy thể hiện qua những lần bỏ đi tận Cẩm Phả, Vàng Danh, Uông Bí, đã thuê cả nhà, đóng cả giường, rồi cứ chiều về thấy mọi người xung quanh trở về nhà, quầy quần bên mâm cơm gia đình mụ lại mủi lòng, nhớ đến những ngày sống với lão Đen. Thế là mụ lại trở về, lại đẻ con, lại chịu những trận đòn thừa sống thiếu chết của lão chồng vũ phu.

Cái gia đình mà mụ đang quần quật vì nó gồm một lão chồng nát rượu và những đứa con hư.

Người đọc không khỏi xót thương cho mụ và lũ trẻ. Những bước chân non nớt của chúng chẳng biết sẽ đi về đâu, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời đang giơ nanh vuốt.

Ngòi bút nhân đạo của nhà văn không chỉ dừng lại đó, ông còn thấy được có khi chính cái khao khát mái ấm gia đình, một chỗ để tựa nương lại trở thành nguyên nhân khiến họ gặp nhiều khổ đau và bất hạnh. Hai lần kết hôn là hai lần mụ Mão trắng tay. Đến với hôn nhân chỉ vì “thấy mình không còn cha mẹ anh em gì, lại cứ sống trơ trọi cô độc rồi chết già, chẳng được ai người máu mủ để nương tựa” [63,233]. Thế nên mụ đã yêu thương chồng, chăm sóc cho những đứa con riêng của chồng và cả cha mẹ chồng bằng cả tấm lòng. Lẽ ra mụ đã có thể hạnh phúc trước tình cảm mà những đứa con mồ côi của Ký Phát dành cho mụ, nhưng chỉ tại mụ nghèo nên hắn đuổi mụ đi. Lấy chồng rồi mụ vẫn không thôi hướng về lũ trẻ. Người đọc không khỏi khâm phục trước tấm lòng hy sinh cao cả và trái tim rộng mở của người đàn bà không con khi mụ Mão xem việc nuôi dưỡng cha mẹ chồng và những đứa con riêng của Ký Phát là niềm vui, nguồn an ủi đời mình. Thấu hiểu và cảm thông vô tận trước mất mát lớn lao của người phụ nữ ấy, Nguyên Hồng đã viết về y với niềm trân trọng và yêu thương sâu sắc. Người đọc có cảm giác nước mắt ông đang nhỏ xuống đầu ngọn bút mà biết

nên những trang văn rơi lệ, đau thương. Dù vậy, câu chuyện kết thúc vẫn để lại cho đời một niềm tin, một niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn sẽ đến với những người biết yêu thương.

Không chỉ thấy được khát vọng mái ấm gia đình của tầng lớp dân nghèo thành thị mà Nguyên Hồng còn thấy được cả ở những con người phải sống kiếp lưu manh, trộm cướp, giết người. Đâu đó trong tấm lòng tận tụy và bàn tay chăm sóc của Bảy Hựu dành cho Hai răng vàng cũng thấp thoáng một ước mơ về một gia đình, mọi người chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, hết lòng vì nhau dù trong bất kì hoàn cảnh nào.

Có thể nói, có được một gia đình, sống trong no đủ, hạnh phúc trở thành niềm khát khao hướng đến của những người lao động trong cảnh khốn cùng. Để có được hạnh phúc họ đã phải hy sinh rất nhiều, và có khi cái giá phải trả là bằng cả tính mạng của mình: Mũn chết, mụ vợ lão Đen vào tù, vợ Hưng héo hắt dần trong cảnh khốn cùng, mụ Mão chật vật, tảo tần nuôi hai ông bà già và bốn đứa trẻ nheo nhóc bằng đôi bàn tay trắng của mình, cũng chưa biết sẽ đi về đâu. Dù vậy, họ vẫn không nguôi mơ ước. Chính cái khát vọng hạnh phúc kia là ngọn lửa thắp sáng cuộc đời tối tăm của họ, là sự quẫy đạp phi thường để thoát ra, vươn đến những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Nó tượng trưng cho sự tồn tại bất diệt của niềm tin con người dù trong bất kì hoàn cảnh nào. Hiện thực tàn ác có thể vùi dập thân xác họ nhưng sẽ không bao giờ làm chết đi trong họ cái khát vọng làm người, cái khát vọng có được hạnh phúc cho mình và cho mỗi người xung quanh mình. Đây là một điểm sáng không gì lí giải nổi của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng. Có lẽ, sự đồng cảm lớn lao trong trái tim rộng mở, nhân hậu đã giúp nhà văn nhận ra điều đó và hơn ai hết ông là người cảm nhận được nó một cách sâu sắc nhất.

Thân phận đầy khổ đau của họ trở thành một nỗi ám ảnh trong tâm trí nhà văn, nó bám riết vào trái tim tràn đầy tinh thần nhân đạo của ông và buộc ông phải thay họ nói lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền bình đẳng của con người trong xã hội. Mỗi tác phẩm của ông vừa là một bài ca về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ vừa là một bản án tố cáo những bất công của xã hội thực dân phong kiến đối với họ.

Quan tâm, yêu thương nhiều nhất đến phụ nữ, trẻ em, Nguyên Hồng nhận ra họ không chỉ biết ước mơ mà còn hành động để có được hạnh phúc của mình. Họ có thể là những con người hết lòng, hết sức lo cho cuộc sống gia đình, sẵn sàng hy sinh bản thân để

đổi lấy niềm vui, miếng cơm manh áo cho chồng cho con họ. Nhưng cũng có thể họ là những người phụ nữ dám dứt bỏ những sợi dây trói vô hình của hủ tục phong kiến để ra đi, tìm kiếm hạnh phúc cho mình. Đó là những cuộc bứt phá của những người phụ nữ phải sống trong hôn nhân gượng ép, hay những người con gái nghe theo tiếng gọi của trái tim. Thể hiện rất rõ điều này trong tác phẩm của mình mà trước hết là trong tập hồi kí “Những ngày thơ ấu” cho đến những truyện ngắn sau này, dường như nhà văn muốn giải phóng người phụ nữ khỏi ràng buộc của lễ giáo phong kiến, tán thành tình yêu và hôn nhân phải xuất phát từ tiếng nói của con tim chân chính. Hết lòng yêu mẹ, cảm thông với nỗi đau của mẹ, Nguyên Hồng lên tiếng bênh vực những người phụ nữ, lên án những hủ tục, tập tục hà khắc đã trói buộc tình cảm, chà đạp nhân phẩm và hạnh phúc của người phụ nữ. Chính chế độ phong kiến lạc hậu lỗi thời cùng những tàn dư của nó đã ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống con người, đặc biệt là ở vùng nông thôn nước ta. Giọng văn của Nguyên Hồng trở nên hồ hởi, sôi nổi khi ông viết về những người phụ nữ đi theo tiếng gọi của trái tim, tìm hạnh phúc mới như mợ Du, Lệ Hà, người mẹ trẻ…

Người mẹ trẻ trong Những ngày thơ ấu những tưởng đã cam chịu sống một cuộc sống hôn nhân gượng ép, không hạnh phúc với người chồng già nghiện ngập, lầm lũi, nhịn nhục cho đến hết cuộc đời. Nào ngờ, sau bao ngày chịu đựng với bổn phận làm vợ, làm dâu, trong lồng ngực trẻ ấy, trái tim nàng vẫn đập những nhịp đập khao khát yêu đương theo tiếng kèn nao nức nhộn nhịp của tốp lính khố xanh, hai gò má của nàng trở nên ửng hồng khi “ánh mắt long lanh của người đàn ông nọ chiếu tới”, đó là anh cai H. Không thể nén chặt những khao khát của lòng mình, người vợ ấy đã không ngần ngại rời bỏ kiếp sống cam phận, nhẫn nhục để đến với hạnh phúc một cách tự nguyện.

Mợ Du trong truyện ngắn cùng tên cũng đã hành động để chống trả lại sự khắc nghiệt của tập tục phong kiến. Mợ Du là người đàn bà có nhan sắc, mợ đã mạnh dạn chạy theo tiếng gọi của tình yêu đích thực cùng “anh thợ may trai trẻ, có duyên”. Còn Lệ Hà (Người con gái) đã chủ động đến với tình yêu, không ngần ngại bộc lộ tình cảm của mình bằng tất cả sự khao khát chân chính của tuổi trẻ. Bất chấp tất cả, Lệ Hà quyết ra đi sống trọn với người yêu vì “không thể chịu đựng sự đau khổ nhục nhã hơn nữa” [63,276]. Ngay cả một người con gái nông thôn như Láng (Láng) mà cũng nghĩ được sâu sắc như vậy: “Trong cuộc lấy nhau phải có tình yêu dấu, thương xót, phải có sự hết lòng và đã phải khó nhọc , đã cùng

đổ mồ hôi nước mắt với nhau thì phải cùng hưởng với nhau những hạnh phúc làm ra với những con cái rạng rỡ do khí huyết tươi tốt của mình”[63,302]. Từ đó, thể hiện quan niệm đúng đắn của tác giả về hôn nhân: hôn nhân muốn có hạnh phúc không thể đến bằng sự gượng ép. Nếu hôn nhân không được xây đắp bằng tình yêu chân chính thì việc đến với nhau chỉ là tạm bợ, chịu đựng, hoặc sống không có hạnh phúc, hoặc sẽ nhanh chóng đổ vỡ mà thôi. Sự quyết liệt trong thái độ và hành động của nhà sư nữ trong truyện ngắn “Nhà sư nữ chùa Âm Hồn” càng khẳng định hơn sự mạnh mẽ của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong việc bảo vệ cái mà người ta cho rằng đó mới chính là hạnh phúc đích thực của đời mình. Cô đã phải chịu đựng và vượt qua những thử thách khắc nghiệt về thể xác (bị cha đẻ chặt tay, phải trốn chạy, chăm sóc người chồng hủi…) đến tinh thần (không có một ngày yên ổn, bị mọi người xua đuổi, nơm nớp lo sợ bị phát hiện…). Tấm lòng chung thuỷ của nhà sư nữ thật thánh thiện biết bao. Khi người chồng hủi chết, xem như cuộc sống của cô cũng không còn ý nghĩa gì nữa, cô cũng chết theo chồng vừa để che giấu cái bí mật của họ, vừa để kết thúc những tháng ngày đau khổ, hai người có thể bên nhau trọn đời.

Ước mơ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy được xây đắp dựa trên nền tảng như thế nào mới là quan trọng. Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, những con người cùng khốn, lưu lạc ấy dù ở trong hoàn cảnh cùng cực, tăm tối, thê thảm như thế nào đi chăng nữa, họ vẫn giữ cho mình cái khát vọng hạnh phúc dựa trên sự lương thiện, trong sáng, lòng tự trọng và niềm hy vọng mãnh liệt một cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn.

Có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc dựa trên đôi bàn tay và sức lao động của chính mình là mong ước của những người phu phen, thợ thuyền như lão Đen, như Mão chột, như Thưởng, như rất nhiều những con người khác. Có thể thấy được điều này qua lời nói của lão Đen với vợ của mình trong dằn vặt: “Lo! Ai khiến mày lo? Mày lo để làm gì? Đời ông đây đã khổ nhiều rồi, ông chẳng cần gì hết. Chẳng giàu có gì mà mày phải bắt ông chắt bóp.

Còn sống ngày nào, còn lê ra được cái đất Sáu Kho, còn cầm nổi cái ngoáo sắt, còn đi được một buổi tầm, thì ông chẳng sợ gì chết đói. Con nhớn, con bé ông kia, nhớn lên thì lại Sáu Kho, lại Xi măng, chúng nó lập thân, khổ sở hay sung sướng mở mặt mở mày là do ở tay chúng nó. Bây giờ cốt sao ông nuôi nổi chúng nó ngày hai bữa, không để chúng nó phải ăn mày, ăn nhặt là được rồi”, “Ông còn sống đây chứ đã chết đâu mà mày sợ”[63,201]. Những hành động san sẻ của Mão Chột với vợ mình “Không bữa nào ngồi ăn với mụ mà hắn ta

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 32 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)