1.2. Những nhân vật bị vùi dập “dưới đáy” của xã hội vẫn tỏa sáng sức sống tinh thần…
1.2.2. Những người trí thức bần cùng với vẻ đẹp của lương tri, nhân cách
Nếu như đối với những con người đầu tắt mặt tối, không chữ nghĩa, bán mồ hôi và công sức của mình để kiếm miếng ăn qua ngày mà việc giữ gìn sự lương thiện, giữ gìn vẻ đẹp của tâm hồn còn quan trọng như thế, thì đối với những người trí thức việc giữ gìn nhân cách của mình lại càng quan trọng gấp bội. Nhân cách thanh cao làm nên khí tiết của một con người. Nếu như người trí thức nghèo trong truyện ngắn của Nam Cao phải gánh chịu cái bi kịch do sự mâu thuẫn giữa ý thức sâu sắc về giá trị của sự sống và nhân phẩm, những khát vọng về một sự nghiệp tinh thần với gánh nặng cơm áo gạo tiền, những lo toan tẹp nhẹp đời thường và xã hội đầy rẫy bất công vô lý để rồi cuối cùng họ trở thành những đời thừa, những kiếp sống mòn về mặt tâm hồn, nhân phẩm bị sa sút thì ngược lại, nhân vật người trí thức trong truyện ngắn của Nguyên Hồng không bao giờ gục ngã về tinh thần, không bao giờ chịu chết hẳn phần người, cho dù có bị đặt vào hoàn cảnh tối tăm, thê thảm, họ luôn khao khát vươn về ánh sáng, về phía “thánh thiện”, cố gắng dựng dậy, đánh thức cái lương tri, nhân cách của mình.
Những truyện ngắn viết về người trí thức của Nguyên Hồng không nhiều nhưng phải nói là rất hay và để lại dấu ấn thể hiện sự suy tư của nhà văn về đối tượng này. Họ, xét ở nhiều góc độ, là hình ảnh của nhà văn. Họ là đại diện cho lớp thanh niên trẻ, có trí thức nhưng phải sống trong xã hội ngập đầy bóng tối, đâu đâu cũng đầy rẫy áp bức và bất công, muốn sống làm người lương thiện sao mà khó. Họ ý thức rất rõ hơn ai hết cái tư cách làm người trong xã hội thế nhưng có đôi khi bị đặt trong những hoàn cảnh nhất định họ không giữ nổi bản lĩnh, đã có những cử chỉ, hành vi tha hoá. Nguyên Hồng thấy được điều ấy, ông lặng lẽ ghi lại cái khoảnh khắc những con người ấy đang buông xuôi mình theo những nhu cầu tầm thường về vật chất, thoã mãn về thể xác, nhưng không bi quan như Nam Cao, Nguyên Hồng nhận ra liền sau đó là những ăn năn, hối hận, những đau đớn, giằng xé trong tâm hồn nhân vật. Điều đó làm cho người đọc thấy thương xót, cảm thông, chia sẻ với nhân vật của ông hơn là căm ghét, ghê tởm và khinh bỉ.
Miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao lúc nào cũng gợi nên sự chua chát cho người đọc về nỗi nhục nhã của con người trước nhu cầu để sống, để tồn tại. Con người ta không thể không ăn mà sống, và miếng ăn thì chẳng dễ dàng gì kiếm được, vì thế mà người ta phải viện đủ mọi lí do để có ăn (Trẻ con không biết ăn thịt chó), mặc kệ sự dè bỉu, khinh miệt của người khác, cố ăn thật nhiều, cốt sao thật no, để rồi chết vì bội thực (Một bữa no).
Nguyên Hồng cũng nói về chuyện miếng ăn nhưng nhân vật của Nguyên Hồng lại ý thức rất rõ sự đi xuống về nhân phẩm của mình vì thế mà họ ân hận, đau đớn và dằn vặt khủng khiếp hơn. Bởi lẽ, dẫu sao thì những nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao cũng chỉ là những người dân nghèo cơ cực, rơi vào cảnh khốn cùng, phải quy phục vì bị cái đói giày vò, không ý thức được sự tha hoá của mình, còn nhân vật của Nguyên Hồng lại là một trí thức nghèo, một anh giáo trong cảnh thất nghiệp, phải bán đi những thứ còn sót lại trong nhà để lấy hai đồng bạc ra tỉnh tìm công việc. Vì quá đói, quá thèm khát mà nhân vật Hưng trong Miếng bánh đã dùng hai hào mà anh mất rất nhiều thời gian để đắn đo dành dụm mua bánh rồi vòng ra sau chợ ăn một cách lén lút, vụng trộm. Hành động của Hưng cũng không khác là mấy so với hành động của nhân vật người chồng, người cha trong truyện ngắn Trẻ con không biết ăn thịt chó của Nam Cao, một nhân vật đã vì miếng ăn mà quên mất nghĩa vụ và trách nhiệm làm chồng, làm cha của mình. Nếu truyện dừng ở đây thì câu chuyện này phải đề tên Nam Cao mới phải, nhưng nó là của Nguyên Hồng, chính vì thế mà nhân vật Hưng giằng xé trong
tuyệt vọng bởi nhận ra sự tha hoá, tuột dốc của mình. Lúc đầu, Hưng nghĩ có thể an ủi mình rằng: “Mình còn phải đi làm kiếm tiền …giờ mình có ăn cả mấy miếng bánh này hay thêm mấy hào bánh nữa cũng chẳng thấm thía gì …”[63,251] nhưng rồi cũng chính anh nhanh chóng nhận ra đó cũng chỉ là những suy nghĩ nguỵ biện cho hành động xấu xa, ích kỉ của mình. Vợ Hưng là người con gái tốt, cả cuộc đời cô từ lúc sống với cha mẹ cho đến lúc về với Hưng chưa bao giờ biết đến bản thân mình. Không phải bỗng dưng hình ảnh người vợ trở nên rõ ràng đến thế trong tâm tư và suy nghĩ của Hưng. Hình ảnh người vợ nhắc tới những đứa con, nhắc anh cái trách nhiệm làm chồng, làm cha, đánh thức Hưng trở về với cái giá trị làm người: không thể sống chỉ biết đến mình, không thể làm một cái gì đó chỉ để thoã mãn nhu cầu của bản thân mình, trong khi những người bên cạnh cũng đang lâm vào tình cảnh như mình. Ngoài tư cách của một người làm chồng, làm cha, Hưng còn mang tư cách của một người làm thầy trong xã hội. Chính cái đói, cái thèm khát đã làm cho Hưng tối tăm mặt mũi mà quên đi tất cả những bài học để dạy học trò, trong đó chắc hẳn sẽ có câu “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”…Có thể trong một phút giây Hưng đã quên thật, quên hết để chạy theo dục vọng, thõa mãn cái đói, cái khát đang cồn cào, gào xé trong dạ dày anh nhưng khi đã chạm đến được đỉnh điểm của sự thỏa mãn lại không mang lại cho Hưng cảm giác thỏa thê, vui sướng mà ngược lại đẩy Hưng vào tình cảnh bị day dứt, ăn năn bởi chính lương tâm và trách nhiệm của anh đối với gia đình. Hưng sao có thể một mình hưởng thụ miếng ăn ngon trong khi vợ anh đã cầm bán đến thứ cuối cùng, vét đến xu cuối cùng cho anh ra tỉnh tìm việc, còn bản thân cô thì chưa biết sẽ ăn gì trong những ngày tới. Những lời độc thoại nội tâm cứ day đi, trở lại trong tâm trí Hưng như những lời sám hối của con chiên ý thức được tội lỗi của mình. Miếng bánh từ một miếng ăn ngon đã trở thành miếng thuỷ tinh tẩm mật cá chỉ bởi Hưng đã vi phạm vào một cái gì sâu sa thuộc đạo lý làm người. May mắn sao Nguyên Hồng không để cho nhân vật của mình chìm sâu vào bóng tối của dục vọng. Khi Hưng biết ăn năn, hối hận về hành động ích kỉ của mình cũng là lúc nhân vật tìm lại được chỗ đứng xã hội, tìm lại được ánh sáng lương tri bé nhỏ của mình, trở về với trách nhiệm còn nặng nề trên đôi vai của mình. Câu chuyện kết thúc và người đọc hoàn toàn có thể tin tưởng rằng Hưng sẽ không bao giờ lặp lại cái hành động đã làm anh đánh mất đi cái nhân cách làm người của mình.
Cũng là hình ảnh đại diện cho những người có tri thức trong xã hội nhưng khác với Hưng, một giáo viên nghèo, thất nghiệp, vì miếng ăn mà đánh mất cả nhân cách của mình, thì Lưu trong Lúc chiều xuống lại rơi vào tình trạng tha hoá khác. Lưu có tri thức nhưng không biết dùng kiến trức của mình để làm việc nuôi sống bản thân mình mà chỉ đắm chìm trong những thú vui, ăn chơi, hưởng lạc. Lưu không ý thức được đồng tiền do bàn tay mình làm ra, dù có ít ỏi vẫn sạch sẽ, hãnh diện hơn rất nhiều đồng tiền phải ngửa tay ra nhận từ người khác, dù đó có thể chỉ là mẹ, là chị y. Từ chỗ không ý thức được điều đó, Lưu chỉ sống ỷ y vào gia đình. Đến khi lấy vợ, Lưu lại không biết làm gì để nuôi sống cái gia đình nhỏ chưa con cái gì ấy, chỉ có hai vợ chồng thôi mà cũng đã khiến Lưu đi đến chỗ phải bán sách kiếm tiền ăn qua bữa. Căn cơ cũng bởi Lưu xấu hổ trước cảnh nhà mình so với cảnh nhà anh chị em mình mà không đi tìm việc hay cho vợ đi làm để kiếm tiền. Lưu không xấu, chỉ có điều anh sống không có mục đích, không quen làm lụng vất vả, không quen chật vật vì miếng cơm manh áo. Nay, hiện thực áo cơm ghì sát, kéo Lưu tuột ra khỏi những ảo tưởng của anh về một ngày mai hạnh phúc và giàu có tự nó sẽ đến. Hiện thực tăm tối đấm thẳng vào mặt Lưu khiến anh choáng váng và cái cảm giác phải quỵ luỵ người khác khiến Lưu xấu hổ “Lưu càng thấy trong người như bị cào xé. Mặt Lưu bừng bừng” [48,307]. Hiện thực giáng cho Lưu những đòn đích đáng “Lưu thấy tâm trí lại nặng trĩu xuống và tối như mực, Lưu không còn muốn cất một bước. Đầu gối Lưu đã nhủn ra, và toàn thân Lưu đã rã rời”.
[63,309]. Trái lại với tính cách của Lưu là vợ Lưu, người phụ nữ có xuất thân bình thường trong một gia đình nghèo, phải chịu sự khinh rẻ của gia đình nhà chồng. Lấy Lưu cô không phải đi làm kiếm tiền nữa nhưng điều đó đối với cô lại không phải là một may mắn, nó giống như một cái tội “Thảnh thơi, sạch sẽ đâu không thấy mà thấy ngay sự day dứt, nặng nề, mụ mẫm cả người” [63,315]. Lưu không muốn đi làm, cũng không cho vợ mình tìm việc hay buôn bán gì. Trong hoàn cảnh cái đói đang chực chờ, đe dọa sự sống của cả hai vợ chồng, Lưu vẫn không muốn đánh mất lòng tự trọng của mình, Lưu ôm chồng sách ra tận ngoại ô để bán và đây là lần đầu tiên Lưu hiểu cảm giác của một người phải cầu cạnh, van xin người khác. Bị chê ỏng eo lại còn bị ép giá Lưu vẫn còn chịu được, cho đến khi bị hạch hỏi giấy tờ tuỳ thân mới chịu mua thì Lưu cũng chịu hết nổi sự sỉ nhục này “Lưu rợn cả người vì ghê tởm, Lưu chề môi cười thẳng vào mặt người con gái..” [63, 309]. Rõ ràng Lưu cũng là người có ước mơ về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc nhưng cái ước mơ của Lưu lại không được
xây đắp trên nền tảng vững chắc, vì thế mà nó chẳng bao giờ có thể thành hiện thực. Qua nhân vật Lưu, người đọc có thể nhận ra một thái độ phê phán ngầm của nhà văn về lối suy nghĩ ảo tưởng của một số thanh niên bấy giờ, mà chung quy họ cũng chỉ là nạn nhân chịu ảnh hưởng của lối “văn hoá rởm” mị dân của bọn thực dân xâm lược. Lối sống ấy đã lôi kéo không ít những người trí thức, đặc biệt là lớp trẻ đi vào con đường ăn chơi, hưởng lạc, xa rời thực tiễn cuộc sống. Nếu như nhân vật Lưu chọn cho mình một lối đi theo sự chỉ bảo của gia đình là “chọn chỗ khá giả gây dựng” để “đời Lưu cũng được sung sướng, được chỗ nương nhờ mãi mãi” thì có lẽ truyện ngắn này của Nguyên Hồng sẽ trở nên nhạt nhẽo bỡi nó chẳng có gì để nói, cái quan trọng là Lưu đã cãi lời gia đình để lấy vợ Lưu bây giờ. Điều đó chứng tỏ Lưu chưa hoàn toàn chìm ngập trong những toan tính về bạc tiền. Lưu vẫn còn biết yêu và chấp nhận hy sinh cái viễn cảnh giàu có để đổi lấy tình yêu. Cãi lời gia đình, vì thế mà khi rơi vào cảnh xúi xó, Lưu không muốn cho ai thấy được thực cảnh gia đình mình, Lưu biết xấu hổ, biết tự trọng không muốn phải năn nỉ, van xin những người quen biết. Trong con người cái tốt, cái chưa tốt còn lẫn lộn. Hoàn cảnh của nhân vật khiến người đọc vừa thương vừa giận. Lưu vừa là nạn nhân của cái xã hội thực dân thối nát nhồi nhét vào đầu óc con người những mơ tưởng viễn vông, những lối ăn chơi, hưởng thụ nhưng đồng thời Lưu cũng là thủ phạm gây nên cảnh khốn cùng cho cái gia đình nhỏ bé của anh. Dẫu vậy, trong cái chán nản, mệt mỏi của Lưu, người đọc độ lượng có thể tin rằng Lưu sẽ thay đổi cách sống, cách nghĩ của mình, nhất là với thái độ cương quyết của vợ anh. Trong hoàn cảnh sắp rơi vào bi thảm ấy, người con gái đã thể hiện được bản lĩnh của mình, y có đôi bàn tay, y quyết tâm phải tìm việc làm, phải nuôi sống được bản thân để không phải chịu cái tình thương hại của chồng mình. Hành động cương quyết của người vợ ở cuối câu chuyện khiến người đọc càng thương mến y nhiều hơn “Thôi thế là hết!...Thế là hết! Hừ! Mà thôi! Tiếc làm gì! Tiếc làm gì những cái mã này!...Còn ăn ở với nhau, muốn sống với nhau no đời mãn kiếp, thì giữ làm gì những cái mã này”. Nguyên Hồng bằng cách nào đó, với hình ảnh người vợ, đã gieo vào lòng người đọc niềm tin chắc chắn rằng sau những sự việc đã xảy ra, Lưu sẽ tìm được lý tưởng, tìm được cuộc sống của anh theo đúng những gì anh có, sẽ xây đắp gia đình bằng bàn tay lao động của chính mình.
Nếu như qua nhân vật Lưu (Lúc chiều xuống), Nguyên Hồng gieo một niềm tin cho người đọc về sự thay đổi, hướng thiện của nhân vật thì trong truyện ngắn “Hai dòng sữa”, sự
nhận thức, quay trở về con đường sáng của nhân vật Huyên đã trở thành lời khẳng định chắc chắn với người đọc rằng con người hoàn toàn có thể thay đổi dù đã từng lầm lạc hay lỡ lầm, và chỉ cần họ nhận thức được vấn đề của mình thì sự thay đổi sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn.
Huyên mồ côi mẹ, sống với người cô già xấu xí, chịu sự đe nẹt và khuyên bảo của cô.
Mười bốn tuổi, Huyên đỗ bằng Sơ học Pháp, rồi theo một người họ ngoại ra tỉnh vừa học thêm vừa phụ giúp người ta. Nhưng Huyên cũng chỉ học thêm có ba năm rồi từ đó cuốn vào những cuộc ăn chơi “Thôi học và “ra đời” Huyên chẳng phải làm lụng khó nhọc mà cũng đủ ăn đủ mặc và có lúc còn sung sướng hơn kẻ giàu sang” [63,337]. Bằng cái tài năng đàn hát của mình, Huyên có thêm nhiều bạn, nhiều chỗ vui chơi và nhiều tiền để tiêu xài phung phí. Nhưng cái gì đến rồi cũng đến “Cuộc làm ăn mỗi ngày một gay go, người ta phải trầy trật mới kiếm được đồng tiền, sự dễ dãi cùng lòng tin cậy hẹp dần lại, Huyên đã phải nhiều lúc bàng hoàng rồi cau trán lại, rùng rợn nhìn những cảnh khổ lăm le lôi cuốn Huyên”
[63,337]. Không gia đình, không sự nghiệp, tài đàn hát rồi cũng không được ưu chuộng nữa, Huyên trở thành một người sống không mục đích “Sự sống của Huyên hoàn toàn không có chút căn bản. Xác thịt Huyên không vất vưởng, nhiều bữa ăn đến bội thực, nhiều bữa lại chẳng có gì, về tinh thần cũng thế, Huyên luôn luôn vui đến mê tơi rồi lại buồn lả đi như sắp chết. Nào một năm? Hai năm? Đã hơn năm năm! Năm nay Huyên đã hăm sáu tuổi”
[63,333], không biết gọi Huyên là gì cho đúng nghĩa. Huyên là nạn nhân rõ ràng nhất của cái chế độ thực dân, để dễ chế ngự họ, chúng đầu độc thanh niên bằng những trò ăn chơi sa đọa, đàng điếm, biến họ thành những linh hồn yếu ớt và vô dụng “Sự buồn nản và bại liệt chỉ ở trong Huyên hay những ai như Huyên sống không phải làm gì, chứ những tâm hồn chất phác và chịu khó đâu bị như thế”. May mắn sao Huyên sớm nhận thực được sự lãng phí tuổi trẻ của mình. Sự gần gũi bên những người cần lao, nghèo khổ nhưng vui vẻ, đầm ấm và tràn đầy tình yêu thương đă làm sống lại trong Huyên những kí ức về người mẹ đã mất, về người cô già đã nuôi Huyên khôn lớn, về những năm tháng ấu thơ bên những người bạn nghèo.
Nếu Huyên không tách khỏi cuộc sống của họ thì có lẽ cuộc đời Huyên bây giờ đã khác.
Tuổi trẻ ham vui, bồng bột, Huyên biết mình đã chọn nhầm đường và bây giờ anh đang phải trả giá cho cái quyết định nông nổi ấy. Nhưng Huyên không buồn lâu khi nhận thức ra sai lầm của mình “Huyên còn trẻ, còn nảy nở, còn bao nhiêu hăm hở, Huyên chẳng việc gì phải