Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc có thể được xem là nơi lưu giữ những truyền thống của văn hóa Kinh Bắc- Bắc Ninh. Trong hai tập truyện ngắn, nhà văn đã khắc họa nhiều khía cạnh của vẻ đẹp văn hóa truyền thống, văn hóa lễ hội ở địa phương. Đất Kinh Bắc là nơi có dày đặc các di tích: chùa, tháp, đền, đài, lăng tẩm được xây dựng từ thời xa xưa (thời các triều đại phong kiến) đến nay đã trở thành những danh thắng lịch sử có giá trị. Đất Kinh Bắc cũng là nơi có nhiều lễ hội dân gian, nhiều làng nghề thủ công, làng nghệ thuật dân gian truyền thống như: làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá… và là quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ đã được Tổ chức Khoa
học và Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Vì thế, để cảm nhận một nét đẹp của văn hóa Kinh Bắc: văn hóa lễ hội- hội làng, chúng ta có thể tìm đọc các truyện ngắn: Hội làng, Sương đêm cuối ngõ. Thật ấn tượng, cả hai truyện ngắn đều nói về đêm hội ở làng Ngọc, thế nhưng nét đẹp văn hóa được nhà văn khắc họa trong mỗi tác phẩm có sức cuốn hút, lan tỏa riêng. Ở “Hội làng”, hằng năm cứ đến “Mùng mười tháng hai âm lịch. Làng Ngọc, quê Hằng, vào đám, mở hội”… “Làng Ngọc, quê Hằng, thờ Bà Cái và vật thiêng sinh thực khí của bà, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh, con đàn cháu đống… Làng có lệ, đêm hội làng làm lễ trút xiêm y cho bà, mở khán lấy sinh thực khí, hai trai chưa vợ cầm chắc trong tay, theo nhịp hô của cụ từ: Tình xòe tình phập, tình xòe tình phập. Mỗi lần phập lại đưa sinh thực khí vào nường bà. Cứ thế ba lần, sau đó, tắt đèn đuốc “tháo khoán”. Nam nữ, trai gái tha hồ mò mẫm tình tự đến sáng thì thôi”. Đây là một nét đẹp trong văn hóa lễ hội. Chính đêm hội làng năm ấy, hai trái tim trẻ nồng nàn Hằng- Tuấn đã thuộc về nhau. Thế nhưng, đường tình duyên trắc trở, mỗi người phải mỗi hướng đi. Gặp lại nhau sau mấy chục năm xa cách, “chả biết họ trao nhau những gì sau bao mùa hội làng không gặp”. Chỉ thấy hai người vào sáng hôm sau, một thì “mắt đỏ hoe sưng mọng”, một thì “lái xe về Hà Nội, qua cổng làng. Dừng lại, gục đầu vào vô lăng hồi lâu”… “Rồi làng bảo: Sang năm lại về chơi hội nhé, vui lắm”. Rõ ràng, trong truyện, nhà văn không chỉ nói về vẻ đẹp của văn hóa lễ hội mà còn thổi thêm vào tác phẩm vẻ đẹp của tư tưởng nhân văn. Còn trong Sương đêm cuối ngõ, hội làng cũng là dịp để những trái tim trẻ trao cho nhau cái chất “huê tình” nhưng hội làng lại không giữ được cái chất huê tình nồng nàn ấy. Quyết, Phương đều để vợ đi làm ăn xa cũng chỉ vì cuộc sống mưu sinh, không hẹn được ngày sum họp; người thì chết, còn người thì đờ đẫn linh hồn do mòn mõi trong những tháng ngày chờ đợi. Cho nên, đọc truyện ngắn này, người đọc có cảm giác mất mát, hẫng hụt, nuối tiếc vì cái đẹp bị đánh mất.
Như vậy, hội làng vừa là thời khắc để lưu giữ những nét đẹp văn hóa lễ hội, vừa là dịp để nam nữ, trai gái gặp giỡ, tán tỉnh, hẹn hò… khi công việc đồng
áng đã xong. Là một người con làng Ngọc, khi viết về quê hương, nhà văn Trần Thanh Cảnh tỏ ra rất am hiểu mảnh đất nơi chôn rau cắt rốn của mình. Hình ảnh lễ hội, văn hóa truyền thống, con người nơi đây được nhà văn tái hiện thật sống động trên những hàng chữ viết.
Truyền thống văn hóa Kinh Bắc còn được thể hiện qua nét đẹp sinh hoạt văn hóa trong những di tích danh thắng: đình, chùa, miếu, đền… Để góp phần hiểu rõ hơn về phương diện văn hóa này, chúng tôi lược thuật đôi nét về cấu trúc văn hóa làng ở Kinh Bắc. Làng Kinh Bắc có tính biệt lập, được bao bọc bởi lũy tre làng. Lũy tre làng vừa được xem là một nét đẹp về văn hóa vừa là một thành trì kiên cố bảo vệ dân làng. Việc trao đổi với thế giới bên ngoài của người dân trong làng đều thông qua cổng làng. Gần cổng làng thường có một cây đa, khói hương nghi ngút, đó là nơi hội tụ của thánh thần. Bên trong làng có đình làng, đình làng được xem là biểu tượng của làng về mọi phương diện. Đình làng khi khởi dựng nhằm đến nhiều mục đích từ thờ tự, tế lễ… đến vui chơi, sinh hoạt văn hóa, học tập, xử kiện, nộp sưu thuế… và cũng là nơi nghỉ ngơi cho khách lỡ bộ đường. Vì thế, giữ gìn giá trị văn hóa đình làng cũng là để kế thừa, phát huy dòng chảy văn hóa dân tộc.
Đọc hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc, không phải ngẫu nhiên nhà văn Trần Thanh Cảnh nhiều lần đề cập đến phương diện văn hóa này. Chúng tôi nhận ra có ít nhất tám truyện ngắn đã đề cập đến, ví như: Cỏ trời, Gái đảm, Hương đêm, Giỗ lậu, Giã bạn, Đập lúa đêm trăng, Giáo sư Kê, Chuyện bên kè đá… Giải thích cho tầng số xuất hiện nhiều về nét đẹp của văn hóa làng, ắt có nhiều, song, theo chúng tôi còn có một nguyên nhân từ phía nhà văn: muốn níu giữ nét đẹp văn hóa đang trên đà bị mai một. Điều này, đã có lần, một nhà tư tưởng phương Tây nhận xét: “Một dân tộc không có quá khứ là một dân tộc bất hạnh”. Là người con làng Ngọc, Trần Thanh Cảnh đã lưu giữ và truyền bá những nét đẹp văn hóa quê hương. Điều này hợp với lẽ tự nhiên.
Không chỉ có thế, nhắc đến văn hóa Kinh Bắc còn nhắc đến loại hình nghệ thuật đặc sắc: Dân ca Quan họ. Từ lâu, dân ca quan họ đã được đánh giá là một
loại hình nghệ thuật đạt đến trình độ cao về nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật lời ca và nghệ thuật âm nhạc. Người “chơi quan họ” tuy là lối chơi dân dã, nhưng đòi hỏi cũng lắm công phu. Đó là lối chơi có quy củ, nề nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… Nét đẹp văn hóa truyền thống này được nhà văn Trần Thanh Cảnh tái hiện lại trong truyện ngắn Giã bạn. Nhà văn viết: “Vùng Kinh Bắc có tục hát quan họ giao duyên. Những dịp cưới xin, hội làng người ta tổ chức hát thâu đêm suốt sáng. Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn. Liền chị nón ba tầm quai thao, áo năm thân say mê ứng đối hát xướng. Hát từ cửa đình, rồi dập dìu đến đầu làng, bến sông. Anh hai hát với chị hai, anh ba hát với chị ba. Hát một đêm, hát một mùa hội xuân, hát một năm, rồi hát cả một đời. Vẫn cứ sau mê, tình tứ những nhớ thương da diết, lả lơi. Bởi bao tình để cả vào câu hát. Chỉ là câu hát thôi. Chỉ là ánh mắt tình tứ trao nhau. Chỉ là cái nắm tay, cái vạt áo, cái quai thao. Sớm mai, anh hai lại về nhà lo việc đồng áng đỡ đần vợ con. Chị hai lại ngược xuôi chợ Giàu, chợ Núi, chợ Chờ đảm đang buôn bán nuôi chồng con. Để đêm hội, anh hai chồng lại đi hát với chị hai làng bên. Chị ba vợ lại đánh mắt dao cau với anh ba bạn mình mà buông câu hát:
Lóng lánh là lóng lánh ơi
Mắt người lóng lánh như sao trên giời…
Anh ba cất giọng đối:
Lúng liếng là lúng liếng ơi
Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền…
Người quan họ đã kết bạn hát với nhau là suốt đời và không bao giờ lấy nhau. Chồng có bạn hát riêng, vợ cũng có bạn hát riêng. Chỉ hát mà thôi”. Như vậy, người tham gia hát quan họ là để kết tình, kết nghĩa, gặp nhau là để chơi, để tình cảm thêm gắn bó. Đó là nét đẹp của văn hóa Quan họ. Đến truyện ngắn Gái đảm, nhà văn như thể khẳng định: hát quan họ là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Kinh Bắc, đặc biệt là nam nữ thanh niên. “Mỗi dịp xuân về, các làng đua nhau mở hội, làng nào cũng chỉ mong được đón gái làng Ngọc về
hát giao duyên. Trai cả vùng chỉ mong được làm rể làng Ngọc, lẳng cũng mặc kệ.
Cũng lạ. Yến hát quan họ hay lắm, mỗi khi giải lao, mọi người cùng làm hay bảo Yến hát cho vui. Giọng cô cất lên: “Đêm ư hôm qua mình em nhớ bạn lình tinh a lính tình tinh, này a có a em buồn”…Vịnh thấy tim mình như thắt lại. Người gì mà ướt át đến thế thì thôi, mới đêm qua còn quấn nhau đến rạng sáng ngoài bãi sông, lúc chia tay, đêm nào cũng vậy, nàng cứ rực lên “chiều em tí nữa”, “em chỉ muốn có anh cả đêm”… Thế mà, mới nửa buổi sáng, chưa kịp ra cho nàng nhìn, đã “em buồn vì ai, em nhớ về nỗi anh hai…”, giọng trong vắt, lả lướt”. Do đó, khi xa quê, bắt gặp một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa như ở quê nhà, nỗi lòng quê hương lại dội lên tha thiết là một điều tất yếu. “Một buổi chiều chủ nhật được nghỉ, Minh lang thang vào sâu trong núi theo lời chỉ dẫn khá mơ hồ của mấy ông già người Tày, Nùng nói tiếng Kinh chưa sõi. Ở vùng này, chủ yếu là người Tày, Nùng ở. Mặc dù đã ở mấy năm trên đây, nhưng Minh vẫn không phân biệt nổi đâu là Tày đâu là Nùng. Nhiều khi ra chợ phiên, nhìn các cô gái áo chàm má đỏ môi hồng, đứng hát lượn với các chàng trai cũng áo chàm nhưng đầu đội mũ cối, chóp mũ bịt giấy thiếc, chân đi dép nhựa Tiền Phong trắng, Minh lại thấy nhớ nhà, nhớ quê da diết. Quê Minh có tục hát quan họ giao duyên mỗi dịp xuân về, gần giống hát lượn trên này. Nhưng mà ở quê Minh, đã kết bạn, đã đi hát với nhau thì không được lấy nhau, chỉ có thể là bạn hát giao duyên với nhau suốt đời”. Đó vừa là những cảm nhận về nét đẹp trong văn hóa Quan họ vừa có sự so sánh, đối chiếu với nét đẹp trong các loại hình văn hóa khác. Từ đây, chúng ta có thể khẳng định: dân ca quan họ không chỉ là vốn văn hóa riêng của người dân Kinh Bắc, mà còn là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh, là truyền thống văn hóa như đã thấm sâu vào tận đáy lòng mỗi con người quê hương.
Ngày này, vẻ đẹp truyền thống văn hóa, lễ hội vùng đất Kinh Bắc có phần mai một, lãng quên. Những hình ảnh biểu tượng của văn hóa làng quê một thời với cây đa, bến nước, mái đình, giếng làng cổ kính… chỉ còn lại trong kí ức. Xã hội vận động, biến chuyển không ngừng nên vùng quê thanh bình của ngày nào giờ trở nên đổi khác, trong đó có những mất mát, mà mất mát to lớn nhất là mất
mát về văn hóa. Cho nên đề cập đến khía cạnh này của đề tài, trái tim Trần Thanh Cảnh càng thêm thổn thức. Trong truyện ngắn Hoa núi, nhà văn như muốn cảnh báo mọi người: cần phải thận trọng hơn nữa trước khi có những hành động- tác động đến những gì thuộc về văn hóa. Nhà văn viết: “Ngày xưa, ở cái làng Ngọc này, ít có gia đình nào bề thế như gia đình ông chánh Xiêm. Bố ông chánh Xiêm là cụ cử Chi khi làm tuần phủ Thuận An, đã từng bỏ tiền túi ra lát gạch đường, lại cho xây cái cổng làng Ngọc, to đẹp nhất vùng Kinh Bắc. Có điều là, chỗ cụ cử Chi định cho xây cổng thì lại vướng cây đa cổ thụ, nghe nói rất thiêng. Cụ tuần phủ cho lính về chặt béng. Có vị cao niên trong làng ra can, nói:
“Người xưa truyền lại là cây đa đầu làng và cây gạo ngoài bến sông là nơi ở của các vị thổ thần của làng. Đã có lời nguyền cấm xâm phạm. Ai trái lời sẽ bị diệt vong. Không nên đụng đến”. Cụ cử Chi bảo: “Dị đoan! Ta làm việc công đức, nếu có thần linh, ắt phải phù trợ! Xây xong cổng mới, ta sẽ cho trồng cây đa khác”. Rồi hô quân làm tới”. Rõ ràng, đoạn văn đã cho thấy nét đẹp truyền thống của văn hóa làng đang bị xâm hại. Liệu cho trồng lại một cây đa khác có lưu giữ được nét đẹp cổ kính của văn hóa thuở xưa! Trong một truyện ngắn khác, truyện ngắn Giáo sư Kê, nhà văn lại lột tả mặt trái của truyền thống văn hóa- tục thờ thành hoàng và gởi trọn tâm tư qua từng hàng chữ viết: “Có một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian lớn, sau nhiều năm khảo cứu về làng xã, đã thốt lên “Làng Việt còn thì Nước Việt còn!”. Thật chí lí và uyên thâm! Cũng nhà văn hóa lớn đó còn nói “Mỗi làng của nước Việt đều có bản sắc văn hóa đậm đà, riêng biệt”. Rất có tính khái quát! Chỉ tính riêng cái tục thờ thành hoàng của các làng, thấy đầy “bản sắc, đậm đà, riêng biệt” rồi. Loanh quanh vùng Kinh Bắc, dân các làng cũng đã tôn vinh nhiều vị thành hoàng độc đáo, nói theo ngôn ngữ bây giờ là rất “pờ rồ”!
Làng Ngọc thì thờ bà Cái và bộ “sinh thực khí” trứ danh của bà. Làng Thượng thì thờ một ông sinh thời làm nghề “thu phục nhân tâm” (nói nhỏ, tức là đi gắp…phân!). Bên làng Bùi thì thờ ông Lý Phật Tử, một tay bị cụ Ngô Sĩ Liên ghi lại trong sử là: Hèn nhát, giặc nhà Lương đến, chưa đánh trận nào, nghe nó dọa đã đầu hàng… Khi sang đến làng Ao Xá, vào trong cung điện ngắm “Ngài Kê”,
đẹp đẽ, uy nghiêm, sơn son thiếp vàng đỏ chót. Tự nhiên, Giáo sư Kê cảm thấy có một điều gì rất lạ trong người… Giáo sư Kê cứ hay nghĩ vẩn vơ về “Ngài Kê”
oai hùng ấy… Càng ngắm đàn gà làng Ao Xá, Giáo sư Kê càng thấy hay. Với chuyên môn sâu của mình, ngài giáo sư nhận thấy gà Ao Xá có rất nhiều ưu điểm vượt trội. Đặc biệt là khả năng “đạp mái” của bọn gà trống Ao Xá thì vô song”.
Rõ ràng, đây không thể xem là nét đẹp văn hóa, mà là loạn văn hóa, phản văn hóa. Còn nói về đình làng, nơi đây không mang một “trọng trách” quan trọng như thuở trước, nó chỉ thuần túy là nơi để thờ cúng hay giao lưu, gặp gỡ trong những ngày hội. Những làn điệu quan họ một thời là niềm tự hào, là sự kiêu hãnh thì nay giới trẻ ít có sự quan tâm. Tình yêu đối với những làn điệu dân ca văn hóa dân tộc bị thay thế bởi những dòng nhạc hiện đại. Số lượng người trẻ tuổi biết, nghe và hát được quan họ ngày một giảm đi nhanh chóng, cộng thêm lớp nghệ nhân của quan họ cổ càng ngày càng ít dần theo thời gian… Tất cả là những tổn thất, những mất mát về văn hóa, lễ hội đang diễn trong thời đại ngày nay.