Viết về nông thôn, làng quê trong cơn biến động xã hội, nhà văn Trần Thanh Cảnh phơi bày khá sắc nét bộ mặt quê hương Kinh Bắc hôm nay. Thuở trước, Kinh Bắc- Bắc Ninh là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước, nơi hình thành nền văn minh Đại Việt. Nói đến Kinh Bắc là nói đến một vùng đất đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong kí ức mỗi người dân Việt nói chung và người Kinh Bắc nói riêng. Kinh Bắc từ xưa đã mang trong mình chất thơ của một xứ sở cổ kính bậc nhất đất nước, một vùng quê với những con người không chỉ mang trong mình truyền thống yêu nước đánh giặc mà còn hiển hiện những đặc tính tốt đẹp khác đã thành truyền thống như: cần cù, chịu khó, hay lam hay làm… một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng… Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, đô thị hóa diễn ra nhanh, mạnh, một mặt góp phần đem lại sự phồn thịnh cho vùng đất vốn rất thanh bình, yên ấm đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống cho người dân; mặt khác cũng đem đến không ít những hệ lụy cần được nhìn nhận, mổ xẻ trước khi tiếp tục bước tiếp trên con đường phát triển.
Nông thôn, làng quê đã thay đổi, con người cũng phải thay đổi. Rặng tre làng phải nhường chỗ cho những công trình kiến trúc, tình làng nghĩa xóm mờ nhạt dần, văn hóa tinh thần xuống cấp… khiến những người hoài niệm càng thêm xót xa, đau đớn không yên. Đề cập đến vấn đề này, ngòi bút Trần Thanh Cảnh tựa như rỉ máu trên từng hàng chữ viết.
Trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, mỗi truyện ngắn là mỗi phần của làng quê Kinh Bắc đã bị biến dạng, méo mó so với những gì vốn có của thuở trước. Thời buổi kinh tế thị trường, một bộ phận người dân nghèo Kinh Bắc “ra sức làm ăn” và chẳng mấy chốc đã trở nên giàu có. Họ đúng là những người “tài”
trong việc làm ăn do gặp được thời. Doanh nhân Hòa Yến, trong truyện ngắn Gái đảm, sinh ra trong một gia đình đông anh em. Yến chỉ học đến hết cấp hai rồi đi làm thuê. Cuộc đời lận đận từ khi đi làm thuê cho đến khi cập với lão chồng đại gia, những tưởng cuộc chạm trán giữa hai người chồng làm cho Yến mất đi tất cả, vậy mà, hóa ra Yến lại trở thành giám đốc của một doanh nghiệp Hòa Yến.
Thời thế đã đến, “Làng Ngọc và các làng xung quanh, bị thu hồi hết đất ruộng để làm dự án nên trai gái thất nghiệp nhiều, Yến tha hồ tuyển công nhân. Gặp dịp các nước Âu Mỹ nhập hàng nhiều, công ty ăn nên làm ra, rất khí thế”. Dịp may hiếm có này, Yến tận dụng và có thêm “những khát vọng được mang sức mình xây dựng quê hương, được làm “trách nhiệm xã hội” của một doanh nhân”. Còn sếp Tiến, trong truyện ngắn Sếp tổng, có hẳn một quy tắc làm ăn gian dối để có được thật nhiều tiền nhờ vào cái ghế tổng giám đốc. Sếp Tiến kinh doanh cả “dịp giỗ cha” và dĩ nhiên thu được một món lợi thật đáng nể. Sau đây là một đoạn văn trong truyện để minh chứng cho điều ấy: “Gần mười hai giờ trưa, đoàn khách VIP do chánh văn phòng bộ dẫn đầu mới về đến nơi. Trong đoàn có cả chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty Hà Lạng và vụ trưởng hai vụ chủ chốt của bộ: vụ Kế hoạch và vụ Tài chánh. Chánh văn phòng trước khi thắp hương, ghé vào tai Tiến thân tình: “Các anh lãnh đạo bộ bận cả, ủy quyền em về thắp hương ông”.
Quả thật, nhờ tài kinh doanh này, sếp Tiến đã sở hữu một gia sản khổng lồ. Còn trong truyện ngắn Ngôi biệt thự bỏ hoang, thật buồn cười hơn, kể về một gia đình gia giáo trong ngành giáo dục, nhờ “tài” đục khoét làm hỏng nền giáo dục mà trở nên giàu có. Vấn đề chỉ được sáng tỏ qua lời tuyên bố thẳng thừng của hai đứa con gái, con của Vi- giám đốc sở giáo dục: “trong nhà con xin nói thật, chúng con thừa biết cách kiếm tiền của bố mẹ. Chúng con không muốn đi theo con đường ấy nữa”… Rõ ràng, mỗi câu chuyện ở đề tài này là mỗi khía cạnh của cuộc sống nông thôn, làng quê, tất cả đều có điểm giống nhau: họ giàu lên trông thấy nhờ “tài” chạy- chộp cơ hội béo bở bằng tất cả thủ đoạn.
Trước những biến động của lịch sử, đa phần số phận người dân Kinh Bắc càng trở nên nhỏ bé. Gia đình ông chánh Xiêm là gia đình giàu có nhất làng Ngọc. Ông có năm người con trai: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Cải cách ruộng đất diễn ra, ông bị đấu tố, bị bắn chết rồi đạp xác xuống sông Đuống. Bà Xiêm vì quá đau lòng nên cũng tự tử theo chồng. Gia đình tan tác, rồi cũng chết hết không còn một ai (Truyện ngắn Hoa núi). Hay trong truyện Kỳ nhân làng Ngọc, kỳ nhân Bình là một người con trai đất Kinh Bắc. Lịch sử của dân tộc đã làm biến đổi bao số phận của con người nơi đây và kỳ nhân Bình cũng nằm trong vòng xoáy ấy. Bình là con trai ông Ba Be ở làng Ngọc, nhưng từ nhỏ đã ở nhà bác ngoài Hà Nội trên phố Khâm Thiên làm nghề sửa xe đạp. Tại đây, anh được “bà chị phố Khâm Thiên” đưa “vào đời”. Trong một lần về thăm quê, Bình hiếp Liên Hương, người hàng xóm bên cạnh, và bị đưa lên công trường xây dựng đường sắt miền núi cải tạo. Ở đấy, Bình gặp và lấy cô Thinh, cuộc sống bấy giờ của anh trôi qua trong lặng lẽ, tẻ nhạt. Chiến tranh chống Mĩ phá hoại nổ ra, Bình bỏ vợ, nhập ngũ và chiến đấu anh dũng. Anh được thưởng huân chương, nhưng khi xét lí lịch để thăng chức thì không được trong sạch. Uất ức, anh bỏ về làng Ngọc cưới vợ và có được năm người con gái. Không hiểu sao, cuối đời, ông lại chuyển đến ở với Thiên Hương, người mà ông hiếp thời trẻ. Hai vợ chồng ra ngoài bờ sông tắm và từ đó không ai trong làng thấy họ trở về… Quả thật, mỗi nhân vật trong từng sáng tác của nhà văn sẽ mang mỗi số phận và hoàn cảnh rất khác
nhau, song đều nhỏ bé, lạc lõng trước thời cuộc. Nông thôn, làng quê càng biến động, những con người quê hương càng trở nên nhỏ bé.
Đến tập truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, nhà văn tiếp tục khắc họa bộ mặt của nông thôn, làng quê trong tiến trình hội nhập sâu với thế giới. Làng quê vốn đang thanh bình bỗng nhiên thay đổi đột ngột khiến người dân từ những con người chân chất sa vào thói xấu, không tự chủ được bản thân mình. Nhà văn bóc tách những lỗ hổng nhân cách của người dân. Ai dám tưởng tượng kẻ mà cả đời chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời lại có khi bê tha, hủ lậu và khốn nạn (truyện ngắn Trăng máu). Ai tưởng tượng nổi một Giáo sư Tiến sĩ hẳn hoi mà ngày ngày đều góp phần lừa mị người dân trên các báo trong nước (truyện ngắn Giáo sư Kê). Ai không khỏi chạnh lòng quặn thắc trước bi kịch của một gia đình nông dân không thể có con trai. Lời ra tiếng vào đã bức tử, dồn kẻ tội nghiệp tới bước đường cùng (truyện ngắn Chuyện bên kè đá)… Mỗi người mỗi cảnh, từ kẻ tứ cố vô thân không danh phận cho đến những ông tiến sĩ đầu bạc, quyền cao vọng trọng, đều chịu ảnh hưởng to lớn bởi thời cuộc, nhất là thời kì sau đổi mới.
Viết về đề tài này, dường như nhà văn muốn cảnh báo với mọi người rằng:
phải suy nghĩ thật kĩ trước những hành động mà mình sắp làm. Làng quê thay đổi, có thể bị suy đồi, nhưng tình người bao đời nay vẫn không thể thay đổi.