ĐỊA CHÍ BÀ RIA - VUNG TAU

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 20 - 23)

Đến cuối thế kỷ XVIH, sau một thế kỷ người Việt đến định cư và khai phá, khu vực Giản Phố (ngày nay là miễn Đông Nam Bộ)

“đất đai đã rộng được nghìn đặm, dân hơn 4 vạn hộ” (tương đương với 200.000 người). Đó là điều kiện chín muổi để năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu quyết định “cử Thống suất Nguyễn Hữu Kính vào kinh lược, chia đất Giản Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước

Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn.. thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm số đỉnh điển”,

Bước sang thế kỷ XVIH, làn sóng di dân phát triển nhanh hơn, mạnh hơn do mấy yếu tố:

- Nhà nước phong kiến chính thức khuyến khích và có chính

sách hỗ trợ việc đi dân, kêu gọi “những người có vật lực”, tức là

tầng lớp giàu có, tham gia vào công cuộc khai mở đất đai.

- Nếu ở thế kỷ trước, lưu đân chỉ biết trông cậy vào sự chở che,

giúp đỡ của quân chúa Nguyễn đồn trú tại chỗ, thì giờ. đây họ được bảo vệ bằng một chính quyền hợp pháp từ cơ sở đến cấp đinh, trấn.

- Sau một trăm năm xuất hiện, những lớp lưu dân Việt không những đã làm thay đổi bộ mặt hoang vu, bí hiểm của một vùng đất, mà còn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm đổi dào từ đồng ruộng, sông, biển, rừng núi, tạo tiên đề cho kinh tế hàng hóa xuất hiện.

Lê Quý Đôn dẫn lại câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau”

để ca ngợi hai đặc sản ở nơi đất mới. (Ở thế kỷ XVII - XUX, cau không chỉ dùng để ăn trâu, mà là mặt hàng xuất khẩu có giá trị

QSQTN, Đại Nam thực lục tiên biên, Sảd, tr. 153.

21

KHOI NGUYEN DAT BA RIA - VUNG TAU

trong công nghệ nhuộm và thuộc da). Ông viết: “giá thóc rẻ không

nơi nào bằng. Một quan tiền đong được 300 bát quan đồng. Gạo nếp, gạo tẻ đều trắng dẻo, tôm cá rất to, béo ăn không hết. Dân

địa phương thường nấu qua, rồi phơi khô đem bán”,

Cùng với những đoàn di đân người Việt, vào cuối thế kỷ XVIH còn có đông đảo người Hoa từ phía Hoa Nam chạy sang Việt Nam xin cu tra. Lan đầu tiên sử nhà Nguyễn nói về tập đoàn đi đân người Hoa đến Đàng Trong có quy mô lớn nhất trong lịch sử đi dân của Trung Hoa: Năm Kỷ Mùi (1679), tướng cũ của nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đem hơn 3.000 quân đi trên 50 chiến thuyền đến đậu dọc từ cửa biển Tư Dung đến cửa biến Đà Nẵng, tự trân là bể tôi nhà Minh, không chịu thuần phục nhà Thanh, đến xin tị nạn. Họ bảo vì “thế cùng lực kiệt, nên chạy sang Việt Nam xin làm tôi tớ”, Chúa Hiển và triểu thần, sau khi bàn bạc và cân nhắc, đã chấp nhận lời thỉnh cầu, đưa họ vào cư trú ở đất Giản Phố (lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền của Chân Lạp).

Giải pháp tình thế này dién ra tương đối thuận lợi, suôn sẻ. Đoàn quân của Dương Ngạn Địch được đưa đến khai phá đất đai vùng Mỹ Tho. Đoàn quân của Trần Thượng Xuyên được đưa đến định cư ở vùng Bàn Lăng (Biên Hòa). Xin lưu ý một điều, 3.000 nhân lực đến định cư cùng một lúc vào nửa cuối thế kỷ XVII trên vùng đất mới có một giá trị và ý nghĩa rất quan trọng, nhất là họ không phải

đến với hai bàn tay trắng, mà còn mang theo vàng bạc, châu báu,

nhiều người trong số này là nhà buôn, quan lại, tướng lĩnh, trí thức, thợ thủ công, nhà doanh nghiệp. Chính bằng thực lực này, và bằng tư duy kinh tế hàng hóa, nhóm di thần Trần Thượng Xuyên đã biến Cù lao Phố thành một thương cảng, một trung tâm kinh tế lớn nhất ở phía Nam vào đầu thế kỷ XVII, thu hút thuyền buôn

Trung Hoa, Nhật Bản và các nước phương Tây đến buôn bán nhộn

nhịp. Nhiều ngành nghề thủ công mới do người Hoa mang sang

—————————

114 Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1977, tr. 124.

2

ĐỊA CHÍ BÀ RIA - VUNG TAU

cũng được du nhập vào đây. Một hệ thống chân rết cơ sở kinh doanh của người Hoa lan tỏa về phía Mô Xoài, Bà Rịa, đã tạo nên những trung tâm mua bán, chế biến hải sản, muối góp phần kích thích kinh tế ở nơi đây phát triển mạnh như Phước Lé, Long Dién, Chợ Bến, Phước Hải, Vũng Tàu.. Không chỉ về mặt kinh tế, văn hóa Hoa cũng đã có những ảnh hưởng đáng kể đến phong tục, tín ngưỡng của cư đân trong vùng.

Là một địa bàn xung yếu án ngữ nơi cửa ngõ đi vào Sài Gòn, Bà Rịa, Vũng Tàu ngay từ thời chiến tranh giữa họ Nguyễn và Tay Son (1776 - 1801) đã trổ thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa hai bên.

Nhiều trận thủy chiến lớn đã xảy ra ở cửa Cân Giờ, cửa Lấp.

Nguyễn Ánh cũng đã cho thiết lập một hệ thống phong hỏa đài (nơi đốt lửa để báo tín nguy cấp) dọc theo ven biển: Vũng Tàu, Tác hái (cửa Lấp), Thùy Vân, Xích Ram, Ma Lí”. Ngày nay, vẫn còn 1ưu lại trên đất Bà Rịa - Vũng Tàu những địa danh mang vết tích của một giai đoạn nội chiến như “Giếng Ngự”, “Xóm Lay”, “Ruéng

Đền”, “Núi Kho” v.v..

Năm 1779, sau khi chiếm lại được Bài Gòn từ tay quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh vạch lại địa giới, “khiến cho ba định Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hỗ liên lạc nhau”. Dinh Trấn Biên lãnh một huyện Phước Long gôm 4 tổng: Tân Chính, Bình An, Long Thành, Phước An”. Tổng Phước An chính là tiên thân của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay. Mặt khác, Nguyễn Ánh thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, kết hợp quân sự với với sản xuất lương thực, cử nhiều quan chức tài giỏi, kể cả những người được bổ chức Hàn lâm Chế cáo như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Ngô Tùng Châu, Hoàng Minh Khánh.. cũng được điều sang làm quan điển tuấn, đi vận động, kiểm tra sản xuất nông nghiệp ở các dinh. Nhiều đôn điền trông lúa được mở ra ở nhiều nơi. Ở dinh Trấn Biên có đồn điển

_————————

0) OSQTN, Đại Nam thực lực chính biên, tập 3, Nxb. Khoa học, H., 1963, tr. 251.

2) QSQTN, Dai Nam thực luc, tap 2, Sdd, tr. 33.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 20 - 23)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(552 trang)