các xã Bàu Lâm, Xuyên Mộc, Bưng Rè, Bông Trang, thích hợp với loại cây công nghiệp và cây ăn trái; loại đất đen và đất phù sa mới phân bố dọc theo các thung lũng rộng thích hợp với việc trồng lúa, bắp, mía và các loại đậu, cây màu khác.
Về nông nghiệp, năm 2001, huyện Xuyên Mộc có điện tích trồng cây công nghiệp và cây ăn quả đứng hàng thứ hai trong toàn tinh, chỉ sau huyện Châu Đức.
Xuyên Mộc có diện tích rừng khá lớn, chiếm 1⁄3 điện tích của huyện (22.000ha); thuộc loại rừng bằng, ở phía đâu nguồn sông Ray và ven biển. Đặc biệt “Khu rừng bảo tổn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu”, dài 1õkm dọc bờ biển thuộc 4 xã Bông Trang, Bưng Riéng, Binh Chau, Phước Bứữu, điện tích trên 7.000ha. Đây là loại rừng kín, ẩm, có giá trị đặc trưng về nghiên cứu sinh thái rừng thuộc môi trường ven biển ở phía Nam. Đặc điểm của khu rừng này là có hệ sinh thái độc đáo nhất Việt Nam, đó là rừng cây thân gỗ ăn ra sát tận bờ biển mà không có hệ thực vật trung gian của rừng
ngập mặn.
Ngoài tác dụng bảo vệ bờ biển, điều hòa khí hậu, môi trường và có giá trị nghiên cứu khoa học, rừng Xuyên Mộc là nơi có thể tổ chức thành những điểm du lịch, an dưỡng nhờ có suối nước nóng Bình Châu, kết hợp với tắm biển.
Bờ biển Xuyên Mộc dài 30km, nối tiếp với bờ biển huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận) ở phía bắc và bờ biển huyện Long Đất ở phía nam, là nơi có thể xây dựng bến cảng, cơ sở nuôi trồng hải sản.
Xuyên Mộc có hai con sông và nhiều suối. Sông Ray bắt nguồn từ núi Chứa Chan (huyện: Xuân Lộc, tỉnh Đông Nai), đoạn chảy qua huyện dài 47km, là nguồn nước đáng kể cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Sông thứ hai là sông Hỏa, dài 14km, chảy trong nội địa của huyện, có khả năng phục vụ việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên đo nạn phá rừng bừa bãi đã làm cho dòng chảy ngày một khô cạn. Vùng đất Bình Châu, Bàu Lâm
ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU còn có hàng chục bàu lớn nhỏ, mang tên gọi đậm chất dân gian như Bàu Xót, Bàu Ngứa, Bàu Non...
Về khoáng sản, xã Bình Châu có nguồn cát biển đổi dào, tỷ lệ silicát tương đối cao, có thể khai thác cho công nghiệp thủy tỉnh đân dụng. Nhưng đáng chú ý bơn cả là suối nước nóng Bình Châu (đân gian quen gọi là đầm Nước Sôi), nằm ngay dưới bóng rừng già.
Nước từ đưới sâu tuôn trào lên khỏi mặt đất, có nhiệt độ từ 7đồ đến 80°C. Qua phân tích, kiểm nghiệm hóa học và vệ sinh, nước nóng ở suối này có giá trị về mặt y học, chữa được một số bệnh mãn tính.
Có thể đầu tư, cải tạo, xây dựng thành nơi an đưỡng, chữa bệnh và du lịch, nhưng đòi hỏi quy mô đầu tư lớn mới có sức hấp dẫn khách.
8o với các huyện phía nam của tỉnh, vùng Xuyên Mộc được khai
phá muộn hơn nhiều. Phần lớn những làng xã hình thành vào dau thế kỷ XX, nhất là sau kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Đông Dương, với việc chiếm đất lập các sở trồng cao su và cà phê trên vùng đất đồ bazan. Ngay những xã như Bình Châu, Bông Trang nằm trên vị trí thuận tiện về giao thông, cũng mới bình thành vào những năm cuối của thế kỷ XIX. Cư đân bản địa sống lâu đời ở đây là người Châu Ro cũng chỉ khoảng trên dưới 1,000 người. Cho đến CMT8-1945, nơi đây vẫn còn là vùng đất
rộng, người thưa.
Ngược dòng lịch sử, Xuyên Mộc nguyên xưa là tên của một làng trong 19 làng của tổng Phước Hưng Hạ, được ghỉ lần đầu tiên trong bản để Boillouse lập năm 1881, và sau đó đến đầu thế ký XX, một số làng mới lập được ghi trong danh mục các làng xã của sách Chuyên khảo tỉnh Bà Rịa uà thành phố Cap Saint Jacques (1902).
Cần nói thêm rằng, theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820), trong danh sách 43 thôn xã của hai tổng Phước Hưng và An Phú của huyện Phước An (tương ứng với phần trong dat lién của tính Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay) không có tên Xuyên Mộc. Trong Địa bạ tỉnh Biên Hòa (kết quả tổng điều tra
ruộng đất lớn nhất ở Nam Kỳ năm 1836) thì huyện Phước An lúc
135
ĐỊA LÝ HANH CHÍNH
bấy giờ có 4 tổng, 42 làng, thôn, cũng chưa có tên Xuyên Mộc.
Về nguồn gốc của địa danh Xuyên Mộc, có nhiều ý kiến giải thích khác nhau. Có ý kiến cho rằng “Từ đầu thế kỷ XX, khi người Việt Đàng Ngoài vào tìm đất khẩn hoang lập nghiệp, đến vùng rừng hoang này, họ thấy rải rác nhiều xương người chốt. Từ đó, họ gọi vùng đất này này là “xương mục”, lâu ngày đọc trại ra là “Xuyên Mộc”?!,
Một thuyết khác cho rằng “từ thế kỷ XVII, XVIH, người Việt vào khai phá Đàng Trong đến vùng đất ngày nay là Xuyên Mộc, vì thú dữ và thời tiết khắc nghiệt, khó sinh sống, họ băng qua những cánh rừng già dày đặc về hướng Đất Đỏ, Long Điền. Phải chăng vì thế mà người Việt gọi tên vùng đất đã đi qua là Xuyên Mộc”. Tác giả còn giải thích thêm: “Xuyên: băng qua; Mộc: cây””?',
Thuyết thứ ba ghi rằng: “Vào năm 1864, một người miền Trung tên là Nguyễn Văn Thanh vào buôn bán ở Long Điển, Chợ Bến đã đến khai phá vùng đất này, lập thành thôn, rồi đặt tên là thôn Xương Mộc - tên một loài cây mọc tại đây, chất gỗ mịn, trắng, có điểm vân màu đen. Về sau, tên Xương Mộc nói trại thành Xuyên Mộc”ô),
Thử phân tích các ý kiến trên.
- Thuyết thứ nhất giải thích địa danh Xuyên Mộc do đọc trại từ
“xương mục” là cách suy diễn không căn cứ, không có cơ sở chứng minh. Vì sao có nhiều “xương người mục nằm rải rác” trong rừng, khi nơi đây chưa hề xảy ra một chiến trận lớn nào? Nếu là người bị lạc rừng mà chết đói, hay bị cọp vỗ thì họa hoin mới có đôi đoạn xương xót lại. Do đó, lập luận này mang tính suy diễn chủ quan, không có trong thực tế.
- Thuyết thứ hai giải thích từ Xuyên Mộc theo cách định nghĩa
“Xuyên: băng qua; Mộc: cây”, để rồi lại lập luận rằng những lưu + Xuyên Mộc kháng chiến, Nxb. Đồng Nai, 1998, tr. 7.
` Xuyên Mộc kháng chiến, Sảd, tr. 8.
“ Monographie de la province de Ba Ria et de la ville du Cap Saint Jacques, Sdd, tr. 39.
DIA CHI BA RIA - VUNG TAU
đân Việt từ Bình Thuận “phải băng qua những cánh rừng già dày đặc về hướng Đất Đỏ, Long Điển” là không đúng. Địa danh Xuyên Mộc hiện còn được ghỉ bằng chữ Hán ở đình Xuyên Mộc thì Xuyên ở đây có nghĩa là sông, và Mộc có nghĩa là cây. Nếu Xuyên (chữ Hán) với nghĩa là xuyên qua thì phải là chữ Xuyên khác. Vả chăng, nếu là “xuyên rừng”, thì phải dùng chữ “xuyên lâm” chứ không ai nói “xuyên mộc”.
- Ý kiến thứ ba giải thích địa danh Xuyên Mộc là đo tên của một loại cây tại chỗ có tên xương mộc về sau nói trại thành xuyên mộc do các tác giả người Pháp viế cách đây một trăm năm như đã nêu ở trên là hợp lý. Việc lấy tên loài thực vật mọc tại địa phương
là chuyện phổ biến như Giỏng Trôm, Gò Vấp, Củ Chi.. Ngay ở tại
huyện Xuyên Mộc cũng có nhiêu địa danh theo dạng tương tự. Ví như xã Bông Trang (nơi có nhiều cây bông trang mọc). Hé Tram, Bưng Riêng, đốc Cây Cám v.v.. Vậy có loài thực vật tên là Xương mộc không? Khảo sách Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chí ở trang 1358, ta thấy ghỉ như sau: Xương mộc: cây gỗ cao 20 - 30m, vỏ nhánh, thân màu nâu, lá kép mũi nhọn, dai 12 - 16cm.
Cụm hoa chùy dài gần bằng lá. Qua thuôn, đạng thoi.. cây mọc ở rừng thường xanh ở Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, ở Cao nguyên và miễn Nam Việt Nam”', Cách miêu tả loài cây này trong Từ điển gần giống với cách miêu tả của sách Chuyên khdo tinh Ba Ria va thanh phé Cap Saint Jacques nhu da dẫn. Từ đó có thể đi đến kết luận, địa đanh Xuyên Mộc vốn ban đầu là tên cây xương mộc, về sau nói trại ra Xuyên Mộc.
Cho đến cuối thế kỷ XIX, Xuyên Mộc còn là vùng rừng rậm, hoang vu, là địa bàn cư trú của dân tộc Châu Ro. Số cư dân Việt là lớp cư dân đến sau, cư trú ở vùng ven biển, làm nghề đánh cá, hoặc kết hợp nghệ biển với nghề khai thác lâm thé sản là chính. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), trong kế hoạch khai
————————————
1 Võ Văn Chí, Từ điển cây thuốc Viet Nam, Nxb. Y học, 1999, tr. 1358.
137
DIA LY HÀNH CHÍNH
thác thuộc địa ở Đông Dương, một số tư bản Pháp bắt đầu chiếm đất, mộ phu đến mở một số đến điển trồng cây công nghiệp như sở cao su Le, Attamarat, sở cà phê Bàu Lâm v.v.. Một số điển chủ Việt cũng đến mở đồn điền như sở Nam Bàu, sở Bà Tô.
Từ sau CMT8-1945 và suốt trong kháng chiến chống Pháp,
Xuyên Mộc là một xã của huyện Long Đất. Các xã Xuyên Mộc,
Phước Bửu, Bình Châu là đất địa đâu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
và cũng là của miễn Đông Nam Bộ nối liền với cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, nên có vai trò đầu cầu rất quan trọng. Ngay
từ đầu thế ký XIX, con đường thiên lý đi từ Phú Xuân vào thành Gia Định cũng đã qua Xuyên Mộc, bắt đầu từ trạm Thuận Biên", Trong suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, con đường hành lang chiến lược Bắc - Nam đều qua đây. Không chỉ ở đường bộ, mà cả ở mặt biến, bãi Hồ Cốc, Hồ Tràm, cửa sông Ray cũng là nơi xuất phát những chuyến vượt biển ra miễn Bắc, và là nơi tiếp nhận hàng chỉ viện của Trung ương cho chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Điểm nổi bật trong thời kháng chiến chống Pháp của Xuyên
Mộc là sự hình thành căn cứ địa Xuyên - Phước - Cơ. Đây là căn cứ địa lớn nhất và cũng toàn diện nhất của tỉnh được thiết lập trên một địa bàn rộng lớn gồm 3 xã Xuyên Mộc, Phước Bửu và Cơ Trạch. Xuyên Phước Cơ là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo của tỉnh Bà Rịa gồm Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh, Mặt trận Việt Minh cùng các đoàn thể, Tỉnh đội, nơi huấn luyện quân sự, đào tạo cán bộ, có cơ sở sản xuất như nông trường, xưởng thủ công, kho tàng v.v.. Từ căn cứ địa Xuyên Phước Cơ có đường giao liên về chiến khu Ð, có trạm trung gian đưa đón cán bộ, vận chuyển hàng hóa, tài liệu từ Trung ương vào Nam Bộ và ngược lại.
Tuy về mặt vật chất còn có những khó khăn, hạn chế nhất định, nhưng về mặt đời sống văn hóa, đời sống tỉnh thần, căn cứ
'" QSQTN, Dai Nam nhét théng chi, tap 5, Sdd, tr. 68.
138
ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VONG TAU địa Xuyên Phước Cơ là một xã hội thu nhỏ tổ chức theo “đời sống mới” nằm giữa vùng địch chiếm.
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cường độ của chiến tranh ác liệt hơn nhiều. Xuyên Mộc là trọng điểm đánh phá của địch bằng bom, pháo, bằng thuốc khai quang, bằng gián điệp, biệt kích, chà đi xát lại. Có thể nói không một tấc đất nào ở Xuyên Mộc mà không hằn sâu vết tích của bom đạn địch. Nhưng Xuyên Mộc vẫn nối tiếp truyền thống kiên cường, bất khuất của thời 9 năm chống Pháp, đảm nhận vai trò của một huyện căn cứ của tỉnh Bà Rịa - Long Khánh.
Người dân Xuyên Mộc, trong đó có cả bà con dân tộc Chau Ro, từng chịu cảnh đói cơm, lạt muối, ăn rau và củ rừng nhiều tháng, kiên quyết bám giữ quê hương chống lại chính sách đền dân tàn bạo của địch. Người Châu Ro thường bảo nhau: “Không ăn cơm hai nổi, không ở hai lòng”. Đó là một trong những nét đẹp truyền thống đáng được nâng nìu, trân trọng.
Từ khi trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện (1954), Xuyên Mộc đã trải qua nhiều lần tách ra, nhập vào do nhu cầu
phát triển của cuộc kháng chiến.
Sau hiệp định Genève (20-7-1954), theo chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ, tỉnh Bà Chợ giải thể, thành lập lại hai đơn vị như cũ:
tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Bà Rịa. Tỉnh Bà Rịa gồm: huyén Đất Đỏ, huyện Long Điển, huyện Xuyên Mộc và thị xã Cấp (Vũng Tàu).
Huyện Xuyên Mộc lúc mới thành lập gồm 6 xã: Phước Bửu, Bưng Riêng, Bàu Lâm, Ba Mẫu và Xuyên Mộc.
Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện Xuyên Mộc đã trải qua nhiều lần tách, nhập như sau:
Giữa năm 1966, quân Ức tập trung đánh phá ác liệt địa bàn Long Đất. Tỉnh ủy Bà Rịa quyết định giải thể huyện Xuyên Mộc nhập với Long Đất, đồng thời rút cán bộ tăng cường cho Long
BIA LY HANH CHÍNH
Đất”, và thành lập một ban cán sự phụ trách Xuyên Mộc.
Để chuẩn bị cho Tống công kích Mậu Thân (1968), Tỉnh ủy quyết định lập lại huyện Xuyên Mộc.
Tháng 5-1971, Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền quyết định tổ chức lại chiến trường, thành lập phân khu Bà Rịa. Huyện Xuyên Mộc và huyện Long Đất sáp nhập thành một đơn vi.
Tháng 8-1972, Trung ương Cục ra quyết định giải thể phân khu,
lập hại tỉnh Bà Rịa - Long Khánh gồm các huyện Định Quán, Long Khánh, Cao Su, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc; thị xã Xuân Lộc,
thị xã Cấp và thị xã Bà Rịa”.
Tháng 2-1976, Chính phú CMUTCHMNVN ra nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miễn Nam, huyện Xuyên Mộc thuộc tỉnh Đồng Nai.
Ngày 12-8-1991, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIH, kỳ họp thứ 9, huyện Xuyên Mộc trực thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
°Ủ Xuyên Mộc kháng chiến, Sảa, tr. 140.
'® Xuyên Mộc kháng chiến, Sảa, tr. 168. Theo Lịch sử Đăng bộ tỉnh Hà Ria - Ving Tàu, tập II (1954 - 1975) thì phân khu Bà Rịa gồm 9 huyện Xuân Lộc, Cao Su, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc, Long Thành, Nhơn Trạch, Duyên Hải, Thủ Đức và 3 thị xã: Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu. (tr. 325).
tt Lịch sử Đảng bộ tính Ba Rịa - Vang Tau, Sad, tr. 358.
ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU