HIỆN TRẠNG THỰC VẬT TINH BÀ RIA - VONG TAU

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 69 - 75)

Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1998”, đất lâm nghiệp của tỉnh là 53.055,35ha, chiếm 21,45%

diện tích đất đai tự nhiên của tỉnh, trong đó đất có rừng che phú là 31.802,58ha.

Thống kê diện tích rừng uà đất rừng

ở Bà Rịa - Ving Tau

Stt Loại rừng và đất rừng Diện tích (Đơn vị: ha) 1 Diện tích đất có rừng 31.802,58 |

(a) Rừng tự nhiên ' 18.655,43

(b) Rimg tréng i 13.137,15

Il Diện tích đất trồng chưa có rừng 11.358,98 11 Diện tích các loại đất khác 9.839.79

IV Tổng diện tích 53.055,35

Những cư dan ban đầu đến định cư thường chọn những nơi đất cao ráo trên các giồng cát ven biển, nơi cửa sông, dọc theo các đê sông rạch tự nhiên, thuận tiện cho việc đi lại, sinh hoạt, tránh lũ lụt, vừa kết hợp được nghề nông với nghề đánh bat thay hai san, vừa vào rừng hái lượm, săn bắt chim, thú.

Số người đến định cư ngày càng đông, đông thời với việc sinh dé

làm tăng dân số, thì diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp lại. Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhất là trong kế hoạch '1 Tài liệu lưu ở Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

70

ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU khai thác Đông Dương lần thứ 2, sau chiến tranh thế giới (1914 -

1918), hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh trên đất đỏ bazan của phía Bắc tỉnh đã bị bọn tư bản thực đân tổ chức chặt phá, lấy đất mở đền

điển trồng cao su và cà phê. Việc khai thác gỗ để phục vụ cho việc xây dựng nhà cửa ở đô thị và cả nông thôn, để đóng thuyển cũng góp phần làm cho rừng cạn kiệt một cách nhanh chóng.

Ngay cả những khu rừng ngập mặn cũng không thoát khỏi sự đốn phá để khai thác than củi, nuôi trông thủy sản, làm ruộng muối. Đó là chưa kể đến sự tàn phá mang tính chất hủy diệt của

bom đạn, thuốc khai quang trong cuộc chiến tranh kéo dài ròng rã 30 năm.

Tất cả những hoạt động có ý thức và vô ý thức của con người qua hàng trăm năm đã làm thay đổi rất lớn và sâu đậm thảm thực vật nguyên thủy. Thay vào đó là những cảnh quan nhân tạo, mà đây đó những vết tích của các khu rừng trù phú ngày xưa vẫn chưa bị xóa hẳn.

Ngày nay, khảo sát thảm thực vật tự nhiên còn sót lại trong tỉnh, ta thấy hiện trạng rừng của Bà Rịa - Vũng Tàu như sau:

1, Rừng tự nhiên.

Rừng tự nhiên là thẩm thực vật chủ đạo trong cấu trúc thảm thực vật nói chung, có tác dụng lớn lao trong việc đuy trì hệ sinh thái của địa phương. Rừng tự nhiên của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 18.655,43ha, chiếm 9,25% điện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, chủ yếu vẫn là rừng thứ sinh, tập trung phía bắc và đông bắc tỉnh, thuộc huyện Xuyên Mộc. Diện tích rừng tự nhiên ở đây là 7.6B53,05ha, trong đó 7.253,59ha được quy hoạch thành Khu bảo tổn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Một diện tích rừng tự nhiên thứ hai ở huyện Côn Đảo rộng 6.377ha, trong đó 5.841ha được quy hoạch thành Vườn quốc gia Côn Đảo.

Về thành phần loài ở trong đất liên của tỉnh, những cuộc điều

71

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

tra khảo sát trong những năm qua đã ghi nhận được 6õ loài thực vật bậc cao có mạch từ thực vật khuyết (Pteridophyta) đến thực vật một lá mầm (Liliophyta). Chúng nằm trong 416 chi thuộc 118 họ thực vật. Trong đó, số lượng loài của các nhóm chính có tỷ trọng trong cấu trúc khu hệ như sau:

Stt Nganh Ho Chi Loai

1__ | Thông dat (Lycopodiophyta) 3 2 4 2 Tháp bút (Equisetophyta) 1 1 1 3 Dương xỉ (Polipodiophyta) 16 27 34

4 Khéa tu (Cycadophyta) 1 1 1

5_ | Dây gắm (Gnetophyta) 1 1 1 6__| Hat kin (Magnoliophyta) 97 384 611

Cong 118 415 655 _]

Hệ thực vật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khá phong phú và thành phân loài và số lượng cá thể, mang tính đặc trưng của thực vật Đông Nam Bộ, đồng thời còn mang một số đặc tính riêng của địa phương.

Có các loài đặc hữu địa phương như các quần hợp cây họ đầu,

hoặc các quần hợp cây tràm trên đất cát ven biển. Có nhiều loài

mới được phát hiện, trữ lượng đổi dào, mang tính đa dạng sinh học cao (hơn 80 loài cây thuốc, nhiều loài cây cho gỗ, nhựa, đầu, thuốc nhuộm). Về thành phần thực vật, ngoài các loài cây lấy gỗ lớn (vốn là ưa thế của miền Đông Nam Bộ), ở Bà Rịa - Vũng Tàu còn có các loài cây họ dầu sao (Dipterocarpacae), đâu cát hay dầu mít (Dipterocapus costatus gaern) khá phổ biến, hiện chỉ còn khoảng 200ha tái sinh được bảo vệ, nuôi dưỡng ở Long Đất. 6 đây còn có hiện tượng đặc biệt là sự xen kẽ giữa rừng dầu với rừng trầm (Malaluca cajeputi powel).

Thảm thực vật Bà Rịa - Vũng Tàu, như trên đã nói, thuộc kiểu rừng kín, thường xanh và nửa rụng lá, mưa ẩm nhiệt đới, với các

DIA CHI BÀ RỊA - VUNG TAU

ho tiéu biểu là họ dầu (Dipterocarpaceac), ho dau (Fabaceae) va bo tử vi (Lythraceae),.. Ngày nay, trên đất Bà Rịa - Vũng Tàu không còn kiểu rừng nguyên sinh hay kiểu rừng già có cấu trúc điển hình như trước đây hơn một trắm năm. Thảm thực vật rừng hiện tại là lớp thứ sinh với các quân thể khác nhau, phân bố xen kế nhau. Sau

đây là các quần hệ thực vật đang tổn tại:

2. Rừng ngập mặn.

Theo thống kê, rừng ngập mặn trong tính có khoảng 11.000ha nằm ở các vùng đất thấp ven biển và ở các cửa sông: Vũng Tàu,

Côn Đảo, Lộc An, Long Sơn các xã Mỹ Xuân, Phước Hòa, Hội Đài,

thị trấn Phú Mỹ.

Quản hệ thực vật ở đây gồm có các loài mắn quần (Avicennia lanata), mắm trắng (Avicennia alba), đước (Rhizophora apiculata) và đưng (Rhizophora mucronata) trén đất phèn tiêm tàng ngập

mặn thường xuyên do dòng triêu biển và do địa hình thấp.

- Nhóm thực uật sống trong nước mặn:

Rong bién (Seaweeds) là nhóm thực vật bậc thấp có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái biển. Khu hệ rong biển ở Bà Rịa - Vũng Tàu mọc ở nhiêu độ sâu khác nhau trên nên đáy cứng và cả trên nên cát.

Cỏ biến (Seagrass) là nhóm thực vật bậc cao trong nước biển, thuộc ngành thực vật có hoa (Anthophyta), lớp đơn tử điệp. Cổ biển khác với những loài cổ sống ở trên cạn 6 chỗ chúng ngập chìm trong nước đến độ sâu 7m, có loài đến 100m, tạo thành thảm rộng ở dưới đáy biển, Ở Côn Đảo có 7 loài cổ biển, chiếm tỷ lệ 53,8% tổng số loài củ biển đã được biết ở Việt Nam.

Thực vật phù du là một hợp phan trong cấu trúc của khu hệ sinh vật biển. Đến nay, qua nhiêu cuộc điều tra khảo sát, đã ghi nhận được 157 loài thực vật phù du, trong đó có loài ở ven bờ, ở cửa sông và ở ngoài khơi.

BIA LY TỰ NHIÊN

3. Rung tréng.

Tổng diện tích rừng trồng các loại trong tỉnh là 13.137ha, tập trung lớn nhất là ở huyện Xuyên Mộc (6.248ha), đứng thứ hai là huyện Tân Thành (3.190ha), đứng thứ ba là huyện Long Đất (1881ha).. Có 5 loại cây được trồng thành rừng thuần loại là: tràm bông vàng (Acacia auriculacformis), thong Caribé (Pinus carbeae), phi lao (Casuarina équisetifolia), bach dan trang (Eucalyptustereticormis) va khuynh diép dé (Eucalyptus camaldulensis). Loại bạch dan trắng và khuynh diệp đỏ chiếm diện tích thấp, bởi tâm lý của người dân sợ cây hút kiệt nước, làm thoái hóa đất. Cho nên, ta chỉ thấy hai loại cây này trồng rãi rác ở từng hộ dân với điện tích không đáng kể. Loại thông Caribê được trồng trên diện tích quá nhỏ, không tạo thành một sinh cảnh rừng thật sự. Loại tràm bông vàng va phi lao được trồng thành rừng với điện tích lớn hơn cả. Cây phi lao

trồng ở những đổi cát ven biển đã phát huy tác dụng chắn sự di chuyển, xói lở của cát. Mắm và đước cũng được trồng ở các khu vực đất ngập mặn của tỉnh.

Thống kê phân bố điện tích rừng trong tỉnh

Stt Khu vue Dién tich (ha)

j 1 | Núi Lán 156,51 |

2_| Núi Nhỏ 66,74

3 ¡ Long Sơn 476,85

4 _| Các khu vực khác trong TP. Vũng Tàu 1021,10

5 | Thi xa Ba Rịa 187

| 6 | Huyén Long Dat 1.881,89

7| Huyện Tân Thành 3.190,50

8 _| Huyện Châu Đức 444,60

9 | Huyén Xuyên Mộc 6.248,06

10_| Huyện Côn Dao 388

L Téng cong 13.137,15

DIA CHi BA RIA - VUNG TAU 4. Vốn rừng đất rừng của Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh có vốn rừng không lớn. Rừng tự nhiên của tỉnh là một bộ phận của thảm thực vật Đông Nam Bộ. Vì vậy, về mặt cấu trúc cũng như các đặc tính sinh thái của thảm thực vật rất đặc trưng của kiểu rừng xanh hay nữa rụng lá, ẩm nhiệt đới trên các dạng đất khác nhau. Thảm thực vật ở đây mang tính tiếp nối của kiểu rừng trên cạn với kiểu rừng ngập mặn ven biển.

Toàn bộ điện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện có chỉ chiếm

18% diện tích của tỉnh, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10%. Con số đó cho thấy tỷ lệ cây xanh trên diện tích lãnh thổ khá thấp.

SH | Dat rime va rim Diệntíh | So voi đất So với đất B va rững (ha) lâm nghiệp (%) | có rừng (%)

1 Đất tam nghiệp 67.860,88

2 Rừng từ nhi 30.765,24 45,04 TỦ nhện 21.982,00 31,98

- Rừng trắng „ 70,99

Diện tích đất 3.783,00 13,06 29,01 3 không có rừng ch ng 29.437,64 54,96 ,

Theo quy hoạch, đất lâm nghiệp sẽ chiếm 33% diện tích tự nhiên của tỉnh, nhưng trong thực tế thì gần một nữa là đất chưa có rừng (xem bảng thống kê trên), hoặc trên thực tế, đất đó không có khả năng sử dụng để trồng rừng trong tương lai.

Không nơi nào trên cả nước chúng ta lại có thảm thực vật với loại cây họ đầu (Dipterocarpaceae) sinh trưởng và phát triển tốt trên đất bằng ven biển (ở Bình Châu, Phước Bửu, Long Đất) và cây họ tràm (Melaleuca cajeputi) trên đất cát khô hạn như ở Bà Rịa - Vũng Tàu, tiếc rằng ta chưa có biện pháp bảo vệ tài sắn độc

75

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 69 - 75)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(552 trang)