Sử liệu nhà Nguyễn cho biết, khi Nguyễn Hữu Kính được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào “kinh lược đất Chân Lạp” vào năm Mậu Dân (1698), thì đã có nhiều lưu dân Việt đến khai phá và định cư.
Khu vực đến định cư và khai phá lúc bấy giờ nằm ở bắc sông Tiền trở lên, chủ yếu là lưu vực sông Đồng Nai, vùng ven biển, vùng các cửa sông như cửa Cần Giờ, cửa Soài Rạp, cửa Đại. Vùng đất mà ngày nay có tên là Bà Rịa, do vị trí địa lý thuận tiện, là một trong
số vùng có số lưu dân đến định cư và khai phá sớm.
Một câu héi đặt ra là những cư đân người Việt có mặt ở đây từ lúc nào? Đó là những vấn để còn đang tiếp tục bàn thảo. Các nhà nghiên cứu, các nhà chép sử cũng đã cố công tìm hiểu, miêu tả và lý giải ở một chừng mực nhất định, bởi vì những thư tịch cổ còn lưu giữ lại cho đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt một cách rất chung, thiếu phân cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu trong nước hiện có cộng với những sách của các tác giả nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm những lưu đân Việt đến định cư sớm nhất ở đây. Ý kiến của các nhà nghiên cứu gần như thống nhất rằng, người Việt đến định
155
DAN CU
cư vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé vào khoảng đâu thé ky XVII.
Cũng có một vài ý kiến đưa ra chứng cứ người Việt có mặt ở đây sớm hơn, vào khoảng thế kỷ XVI. Điều này, nếu có xảy ra thì cũng không phải là hiện tượng phổ biến.
Vùng Đồng Nai, Mô Xoài là đất phù sa cổ, nằm ở vị trí tiếp giáp với Nam Tây Nguyên và nước Champa ở phía bắc, mặt phía đông là biển, do đó đã trở thành nơi đặt chân sớm nhất của lưu dân Việt từ miễn ngoài vào khai phá và định cư. Khi họ đến đây, đất đai phần lớn còn rừng bao phủ.
Thực ra, dưới những dải rừng bạt ngàn ấy, trước khi người Việt đến, đã có một số cư dân bản địa sinh sống. Đó là một số người
Khmer trong các phum, sóc và người Châu Ro, Stiêng ở các buôn
nằm rải rác ở các triển sông, suối.
Bên cạnh dòng di cư của người Việt từ miền ngoài liên tục chuyển vào đều đặn trong thế kỷ XVII, một sự kiện đi dân đột xuất.
xẩy ra vào năm 1679. Đó là cuộc nhập cư của 3.000 người Hoa, nguyên là di thần của nhà Minh (Trung Quốc) bỏ nước sang Việt Nam xin cư trú. Họ được chúa Nguyễn là Hiển vương chấp nhận cho họ tị nạn nhưng đưa vào vùng Đông Phố, nơi đất đai màu mỡ, lợi dụng sức của họ để khai phá, mở mang.
Binh thuyền do Dương Ngạn Địch cầm đầu vào cửa Lôi Lạp, cửa Đại đến đồn trú tại phía nam bờ sông Tiển, nay là đất Mỹ Tho.
Binh thuyén do Tran Thượng Xuyên cảm đầu, vào cửa Cần Giờ, đến định cư ở vùng Bàn Lãng, xứ Đồng Nai (Biên Hòa). Ở hai nơi này, họ đã phá rừng, vỡ đất, cất nhà, lập chợ. Với một lực lượng di cư tập trung tương đối đông (3.000 người thời ấy là một con số đáng kể), có tổ chức, có tiểm lực kinh tế mạnh, nên chỉ sau vài thập niên họ đã biến hai nơi nói trên thành hai trung tâm kinh tế sâm uất của đất Đông Phố lúc bấy giờ.
Theo giáo sư Trần Kinh Hòa - một nhà Việt Nam học người Trung Quốc - thì đây là “tập đoàn di dan đông nhất của Trung Quốc vào Việt Nam thời cận đại và sự kiện này đối với cận đại sử Việt
ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU Nam và Hoa kiểu sử đều có ý nghĩa quan trọng”, Cũng theo Trần Kinh Hòa, thì “Dương Ngạn Địch tức tướng cướp biển Dương Nhị khét tướng hồi Thanh sơ; y từng vùng vẫy ở biển miền Nam Trung Quốc, vừa để bảo vệ các thương thuyền của họ Trịnh ở Đài Loan đi buôn bán với Nam Dương và các nước Nam Á, vừa hoạt động cướp biển ở miền duyên hải bốn phủ Cao, Lôi, Liêm, Quỳnh..”?”. Khi Trịnh Kinh chết, quyển lực của họ Trịnh sụp đổ, Dương Ngạn Địch phải bổ chạy sang Việt Nam để tránh sự ruồng bắt của quân đội nhà Thanh.
Sở trường của người Hoa di cư sang các nước Nam Á cũng như ở Việt Nam là thạo nghề buôn bán và một số nghề thủ công, không mấy người chuyên về nghề nông. Hơn nữa, đám di than nhà Minh này gồm nhiều tướng lĩnh, quan lại, thương gia giàu có, từng có quan hệ giao thương với nhiều nước Nam Á, ho mang theo nhiéu của cải, vàng bạc trên ð0 chiến thuyền, Sau khi cuộc sống ở nơi đất mới ổn định rồi, chắc chắn đa số trong bọn họ không mấy người chọn con đường khai hoang, vỡ đất, làm nông nghiệp theo kiểu “cày sâu cuốc bẩm” như đại đa số những lưu dân Việt từ phía bắc chuyển cư vào Gia Định. Và, họ đã móc nối lại đường dây, khách hàng buôn bán cũ ở các nước, tìm địa điểm thuận lợi để phát triển mậu dịch với bên ngoài.
Chính bằng tư duy thương nghiệp, nhóm Trần Thượng Xuyên đã sớm phát hiện ra ưu thế của cù lao Phố khi còn là một bai lay hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai) trải dài trên 7 đặm, bề ngang bằng 2/3 bé dai. Từ cù lao này có thể theo đường thủy lên phía bắc, xuống tận phía nam ra cửa biển Cần Giờ và có thể sang tận Cao Miên. Họ chuyển cư từ Bàn Lang về cù lao Phố, phát hoang, dựng nhà, lập bến, mở đường, xây phố
'* Trân Kinh Hòa (tức Cheng Chín Ho), “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Tạp chí Đại hoe (Huế), số 1-1962, tr. 158-159.
'?' Trần Kinh Hòa, TIđd, tr. 158-159.
DAN CU
chợ. Sẵn vốn liếng, tiên bạc, với kinh nghiệm được tích lũy cùng những quan hệ với khách hàng cũ, chỉ trong vòng vài ba thập niên,
đến đâu thế kỹ XVIII, những di đân người Hoa đã biến cù lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn nhất của Gia Định lúc bấy giờ, dưới cái tên là Nông Nại Đại Phố.
Nông Nại Đại Phố hiện ra dưới ngòi bút của Trịnh Hoài Đức khá huy hoàng, sâm uất. “Ở đầu phía tây bãi là Đại Phố. khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói tường vôi, lầu cao chót vót.
Quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm
dặm, mở vạch ba đường phố. Khách buôn tụ họp đông, thuyên biển
thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhổ sát nhau, là một nơi đô hội.
Nha buôn to giàu tập trung ở đây nhiều nhất””',
Rõ ràng là nếu chỉ bằng tư duy nông nghiệp truyền thống, thì những người đi mở đất, khai hoang giỏi lắm cũng chỉ biến cù lao
trên sông Đồng Nai này thành một làng quê đẹp mà thôi.
Vùng Gia Định sau hơn một thế kỷ khai phá, diện tích đất đai đã mở rộng, dân số tăng lên nhiều lần, các làng xã ở nhiều nơi đã nối liền dải. Sản phẩm làm ra lúc này đã khá dồi dào, lại có nơi tiêu thụ thuận lợi. Lúa gạo ở đầu thế kỷ XVIH tuy chưa nhiễu, nhưng các loại nông sản khác khá phong phú.
Mật hệ thống chân rết mua bán hai chiều của người Hoa dân dần hình thành vươn tới những nơi đân cư đông đúc, từ các trạm thuế tuần ty ở đầu nguồn đến các chợ, bến thuyền, bến sông lớn trong vùng. Tuy nhiên, thời kỳ phổn thịnh nhất của trung tâm thương mại cù lao Phố chỉ kéo dài hơn nửa thế kỷ. Do mâu thuẫn về quyền lợi, nội bộ người Hoa ở đây chia thành bè đảng, gây bạo loạn, Lý Văn Quang người Phúc Kiến tự xưng là “Giản Phố đại vương”
toan đánh úp dinh Trấn Biên. Âm mưu này bị dập tắt, nhưng đã gây tổn thất lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu lúc bấy giờ. Tiếp
+ Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 194.
DIA CHi BA RIA - VUNG TAU đến, năm 1776, trận chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã tàn phá sạch cù lao Phố, “từ đấy chỗ này biến thành gò hoang”), Trung tâm thương mại của vùng Gia Định về sau chuyển về Bến
Nghé - Sài Gòn. Một số đông người Hoa còn lại phân tán về các cơ sở chân rết của họ ở Bình Dương, Thuận An, Phước Chánh, Long Thành, Long Điền, Chợ Bến, Phước Hải, Vũng Tàu v.v...