Năm 1698, cùng lúc với việc lập dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay) dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay) và chính thức sáp nhập hai đơn vị hành chính này vào bản đỗ Đại Việt, Thống suất Nguyễn Hữu Kính cũng bắt đầu “phân định xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm sổ đỉnh điển”. Những di dân người Hoa được chúa Nguyễn cho người đưa đến định cư tập trung ở vùng Mỹ Tho và Biên Hòa vào năm 1679 cũng được tổ chức thành đơn vị hành chính riêng. Về vấn để này, Thực lực ghi: “Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên, lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập làm xã Minh Hương. Từ đó, người Thanh ở buôn bán đều thành đân hộ của ta”? Có thể coi đây là những làng Việt đầu tiên được thành lập trên đất Chân Lạp.
Dinh Trấn Biên nằm ở phía đông sông Sài Gòn (ngày nay) gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần phía nam tỉnh Bình Thuận, các quận 2, quận 9, quận Thủ Đức của
thành phố Hồ Chí Minh bây giờ.
!!!' Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr. 195.
QSQTN, Dai Nam thuc luc tién bién, Sad, tr. 153.
"8 QSQTN, Dai Nam thực lục tiên biên, Sdd, tr. 154.
159
DAN CU
Đến năm Mậu Thin (1803), Gia Long thi 7, Gia Định trấn đổi làm Gia Định thành, dinh Phiên Trấn đổi làm trấn Phiên An, dinh Trấn Biên đổi làm trấn Biên Hòa, thì huyện Phước Long thuộc trấn Biên Hòa thăng làm phủ, lãnh 4 huyện (nguyên là tổng được thăng làm huyện).
Huyện Phước An (tương ứng với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay) gồm 2 tổng, với 43 xã, phường, thôn. Dưới đây là danh mục 43 đơn vị hành chính cấp xã, thôn, phường đầu tiên của huyện Phước
An (1808).
1) Tổng An Phỳ (mới đặt) cú ỉ1 xó, phường, thụn:
Long Hòa xã Long Hợp thôn
Long Thắng thôn Phước Đức thôn
Long Lập thôn Long Xuyên thôn
Long Kiên thôn Long Thuận thôn Phước Thạch thôn An Nhứt thôn
Hắc Lăng ấp Phước Thiện thôn
Long An thôn Long Điền thôn
Long Thạnh thôn Long Hương thôn Phước Lễ phường Phú Xuân thôn Trúc Phong thôn Hưng Long thôn Tỉnh Bộng thôn (gần thành)
2) Tổng Phước Hưng (mới đặt) có 92 xã, thôn:
Phước Thái thôn Phước Hưng thôn Phước Liễu thôn Long Trinh thôn
Long Hưng thôn Phước Hiệp thôn
"Thái Thạnh thôn Phước Lộc Thượng thôn Phước An Trung thôn Long Hòa thôn
Long Thái thôn Gia Thạnh thôn Phước Lợi thôn Phú Thạnh thôn Phước Hòa thôn Long Sơn thôn
BIA CHi BA RIA - VUNG TAU
Phước Hải thôn Long Hội Sơn thôn
Long Hải thôn Long Mỹ Tây thôn (xóm sông) Hòa Mỹ thôn (xóm sông) Tân An thôn (xóm sông)
Trong số 43 đơn vị hành chính trực thuộc huyện Phước An lúc
bấy giờ, chỉ có 2 xã (Long Hòa và An Nhứt) và 1 phường (Phước Lễ)
còn thì là đơn vị thôn... Nhưng điểu này không có ngha là thôn nhỏ
hơn xã, phường một cấp. Có nhiều đơn vị thôn nhưng số dân lại lớn hơn xã nhiều lần.
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), các trấn từ Quảng Nam trở vào được đối thành tỉnh như ở phía Bắc. Chức Tổng trấn thành Gia Định được bãi bỏ. Nam Kỳ được chia thành 6 đơn vị hành chính
cấp tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Tỉnh Biên Hòa gồm 1 phủ Phước Long, quản 4 huyện: Phước Chính, Phước An, Bình An và Long Thành. Năm 1837, lại đặt thêm phủ Phước Tuy (trên cơ sở huyện Phước An cũ) và thêm 2 huyện Long Khánh (cắt từ một phần của huyện Phước An cũ) và huyện Ngãi An (tách từ huyện Bình An cũ).
Theo Địa bạ triểu Nguyễn (1836), huyện Phước An từ 3 tổng (An Phú và Phước Hưng) đưới thời Gia Long (1803), nay chia thành 4 tổng: An Phú Hạ, An Phú Thượng và Phước Hưng Hạ, Phước Hưng Thượng; trong khi đó số làng, xã gần như giữ nguyên. Chỉ có một vài thay đổi nhỏ, như 3 “thuyển” (tức 3 làng Thắng Nhứt, Thắng Nhì và Thắng Tam của tổng An Phú Thượng, nay thuộc TP. Vũng
Tàu). Sự hình thành 3 đơn vị “thuyền” còn gọi là “tam thoàn”?' là hình thức lập làng không theo lối quy dân lập ấp truyền thống, mà từ một đơn vị lính đôn trú được giải thể, chuyển thành một tập thể dân sự, hay nói theo ngôn từ hiện đại ngày nay là “phục viên”, để
————————————
*' Thuyên: là đơn vị nhó nhất của tổ chức quân đội triểu Nguyễn, có số lượng từ 50 - 100 người.
16]
DAN CU
lập thành làng mới.
Trong quá trình chuyển tiếp, “thuyên” ban đầu được quản lý theo chế độ “quân quản” một thời gian trước khi trở thành làng xã
theo mô hình truyên thống. Do đó, người đứng đầu một “thuyền”
trên các giấy tờ xác nhận, hay báo cáo chỉ có ký tên và điểm chỉ, không có triện đóng kèm như lý trưởng. Việc nâng số tổng lên gấp đôi mà vẫn giữ nguyên số đơn vị làng, xã là do số dân tăng, đồng thời diện tích đất đai cũng được mở rộng hơn. Diện tích được khai
phá của huyện Phước An năm 1837 là 1.729,4 mẫu trong tổng số điện tích khai phá của trấn Biên Hòa là 14.128,9 mẫu”. Con số này so với diện tích tự nhiên và đất hoang hóa thì còn rất thấp.
Trong các nguồn tài liệu trong thư tịch được khảo sát ở thế kỷ XIX, chỉ có vài ba số liệu về dân cư của trấn Biên Hòa, như dưới thời Gia Long số đỉnh có 10.600 người, dưới thời Tự Đức số đỉnh có 12.190”. Cho nên không có cơ sở để tính được số dân của trấn Biên Hòa cũng như của huyện Phước An, để từ đó tính diện tích đất đai bình quân trên mỗi đầu người.
Dia ba triéu Nguyễn ở Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1836 là kết quả của cuộc tổng điều tra ruộng đất trên thực địa có quy mô lớn nhất ở Nam Kỳ dưới thời phong kiến, do các chủ sở hữu đất khai báo và được lý hương của địa phương ghi chép lại ở từng thôn xã. Chắc rằng so với diện tích đất thực canh cũng còn một khoảng cách đáng kể. Hình thức khai phá đất đai ở thế kỷ XVII và XVIII chủ yếu vẫn là theo kiếu “móc lõm”, nghĩa là người nông dân chọn nơi nào
thuận tiện nhất cho việc canh tác, đi lại, bảo vệ hoa màu, có điều
kiện tốt nhất về đất đai, nước tưới thì vỡ hoang, trồng trọt trước, nơi nào khó khăn, phải tốn nhiều công sức khai phá thì chừa lại, để tính sau khi có điều kiện.
‘U Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Biên Hòa, Sảd, tr. Lĩ1.
2 QSQTN, Dai Nam nhất thống chí, tập 5, Sdd, tr. 44.
BIA CHi BA RIA - VONG TAU Như ta biết, bậc thềm phù sa cổ và dải đất ven biển Bà Ria - Vũng Tàu là vùng được những lưu dân chọn khai phá và định cư sớm nhất, từ thế kỷ XVII cách đây vài trăm năm, khu vực này còn bao phủ toàn rừng già, nhiễu nơi đất bị úng thủy. Với công cụ và phương tiện khai phá và số nhân lực có hạn lúc bấy giờ, việc chinh phục thiên nhiên rõ ràng không dễ dàng. Một dẫn chứng: theo Đại Nam nhất thống chỉ - tỉnh Biên Hòa, ở hạ lưu sông Xích Ram, tức sông Ray ngày nay, bên bờ phía tây bị úng thủy. Đây là khu vực dân cư tương đối đông đúc thế mà phải đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Hộ phủ Phạm Duy Hinh mới huy động được sức din đào sông tiêu úng, biến hơn 300 mẫu đất ngập nước thành ruộng trồng lúa cho các thôn làng phụ cận. Làng mang tên Bờ Độp (còn gọi là
“Bà Đáp” do chữ Pháp viết không dấu cho nên gọi chệch từ Bờ Đập sang Bà Đáp) còn tên tại đến hôm nay, chính là đấu tích của thời khai sông, đắp đập ngày xưa'”,
Bản tấu của Tham mưu đinh điều khiển Gia Định là Nguyễn Cư Trinh gửi lên chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1756 cho thấy việc mở đất ở thế kỷ XVII cũng không đơn giản. “Khi xưa, mở mang phủ Gia Định tất phải trước mở đất Hương Phước, rồi đất Đông Nai, khiến cho quân dân đông đủ, rồi sau mới mở đến Sài Gòn. Đó là cái kế tầm ăn dâu. Nay đất cũ từ Hương Phước đến Sài Gòn chỉ hai ngày đường, dân cư còn chưa yên ổn, quân giữ cũng chưa đủ”?.
Theo Địa bạ triều Nguyễn (1836), huyện Phước An có 4 tổng, 42 làng (31 thôn, 6 xã, 2 phường, 3 thuyền), với diện tích khai phá là 1.729,4 mẫu, trong số đó diện tích sử dụng chiếm 1.698,2 mẫu, riêng ruộng muối có 26,3 mẫu. Qua hiện trạng địa giới được miêu tả trong địa bạ, ta thấy bức tranh làng xã của Bà Rịa - Vũng Tàu thời
đó còn ngăn cách bởi những dải rừng. Bốn tổng An Phú Thượng, An Phú Hạ, Phước Hưng Thượng, Phước Hưng Hạ đều nằm ở khu vực '! QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Sdd, tr. 60.
'?' QSQTN, Đại Nam thực lục tiên biên, Sảd, tr. 224-395.
DAN CU
phía nam va phía tây của tỉnh. Còn phía bắc và đông bắc toàn là rừng rậm, địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, chưa đo đạc được và cũng chưa có tên làng, thôn (sẽ trình bày ở phần sau).
Ngay 42 thôn, làng đã được ghi chép trong địa bạ, thì nhiều thôn, làng còn cách bức nhau, bị ngăn cách bởi những cánh rừng.
Xin nêu ra một số dẫn chứng:
Thôn Long Điền, một địa bàn khai phá sớm, được ghỉ trong địa bạ: “Tây giáp rừng chằm, nam giáp rừng, bắc giáp rừng hoang, chỉ có phía đông giáp thôn Long Thạnh, có suối nhỏ làm giới”,
Thôn Phước Tỉnh, một thôn ven biển, nằm ngay bên cửa sông Lấp được ghi: “Đông giáp rạch nhỏ rừng chằm, tây giáp thủy đạo và rừng chằm, nam giáp rừng chằm, bắc giáp rừng chằm”? Như vậy cả 4 hướng đều bao bọc bởi rừng.
Việc đi lại từ làng này sang làng khác trên bộ chủ yếu vẫn theo
những con đường mòn nhỏ hẹp. Một số làng nằm dọc theo đường thiên lý thì việc đi lại có thuận lợi hơn”. Những tụ điểm trao đổi hàng hóa được hình thành ở những chỗ đầu mối giao thông giữa đường thủy và đường bộ. Đến giữa thế kỷ XIX, huyện Phước An đã có 10 chợ. Đó là các chợ Bà Rịa (Long Thạnh), chợ Giếng Bộng
(Phước Tỉnh), chợ Thành (Long Điển), chợ Lưới Rê (Phước Hái), chợ Cây Sung (Phước Thổ), chợ Thơm (Long Lập), chợ Bến Đá (Long Kiểng), chợ Long Hương, chợ Lộc An, chợ Bến Đình (Vũng Tàu).
Số chợ huyện Phước An ngày ấy chỉ bằng không đây 1⁄6 số chợ của Bà Rịa - Vũng Tàu vào cuối thế kỷ XX (62 chợ), nhưng đây là
!# Nguyễn Đình Đầu, Nghién cứu địa bạ triêu Nguyễn - Biên Hòa, Sảd, tr. 267- 269.
® Neuyén Dinh Dau, Nghiên cứu dia bạ triéu Nguyén - Bién Hoa, Sad, tr. 267- 269.
“| ‘Theo Bai Nam thực lục tiền biên, năm 1748, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai
Nguyễn Hữu Doãn đặt đường trạm ở Gia Định, bắt đầu từ bắc Tất Kiêu đến địa phận Hưng Phước, tùy chỗ mà đặt trạm, gọi là đường thiên lý”. Còn đường thiên lý nối Phú Xuân đến Gia Định được khai thông từ đầu thế ky XIX.
DIA CHi BA RIA - VUNG TAU một chỉ báo có ý nghĩa về mặt gia tăng dân số và phát triển kinh
tế, văn hóa. Của cải của xã hội, hàng hóa làm ra lúc này đòi hỏi
cần có thị trường tiêu thụ, trao đổi. Nhiều chợ đã trở thành những
trung tâm mua bán, giao lưu hàng hóa khá sẩm uất như chợ Bà Ly (còn gọi chợ Bến), chợ Long Điền, chợ Phước Hải...
Bên cạnh những thôn, làng chuyên về nghề nông cũng đã xuất
hiện những làng chuyên nghề đánh bắt, chế biến hải sản như thôn Giếng Bộng về sau trở thành xã Phước Tỉnh, làng Lưới Rê về sau
trở thành xã Phước Hải, làng Thắng Tam ở Vũng Tàu. Dân cư các
làng này đại đa số gốc gác từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên vào, họ mang theo cả phương tiện, công cụ, kinh nghiệm đánh bắt vào định cư ở vùng ven biến và tiếp tục phát triển sở trường nghề nghiệp của mình ở nơi biển mới. Địa danh Lưới Re chính xuất phát từ một loại nghề lưới cá đòi hỏi kỹ thuật lặn sâu dưới nước biển, về sau trở thành tên của một làng đánh cá Lưới Rê, tiền thân của làng Phước Hải”.
Làng Hắc Lăng có nghề ươm tơ, đệt lụa lãnh, đặc biệt lãnh đen Hắc Lăng nổi tiếng xa gần một thời được sách Gia Định thành thông chí nhắc đến: “lãnh, là, vải, lụa thì chỗ nào cũng có. Duy có lãnh thâm của huyện Phước An trấn Biên Hòa, thì mềm và bóng nhất nước”? Nghề dệt lãnh này được những lưu dân từ Phú Phong (Bình Định) mang vào cùng với nghề trồng dâu, nuôi tầm, ươm tơ, dệt lãnh, lụa. Ở làng Long Điền có một số hộ chuyên nghề đúc đồng. Nghề làm muối tập trung ở các thôn, làng như Long Điền, Phước Lễ, Long Thạnh, Phước Hội, Phước Trinh, Núi Nứa. Đến cuối thế kỷ XIX số ruộng muối có diện tích 599 ha),
Dân ở các làng gần rừng thuộc hai tổng Phước Hưng Hạ và An TU Theo Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Phước Hải, Nxb. Đông Nai,
1982, tr. 3.
!# Trình Hoài Đức , Sdd, tr. 161.
*' Monographie de la prouince de Bà Rịa et de la uilles du Can Saint Jacques, Sảd,
tr. 54.
165
DAN CU
Phú Hạ thì chuyên nghề khai thác lâm thổ sản như gỗ, mây, tre, dầu rái, mật, sáp ong, được liệu, hầm than và săn bẫy thú rừng. Một bộ phân dân cư khác kết hợp nghề nông với nghề khai thác rừng. Địa danh Bến Ván ở xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc chính là dấu vết của một bến thuyển, nơi xẻ gỗ rừng thành ván rồi chở đi bán ở miệt Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh.. cách đây khoảng một thế kỷ.
Trên đây là phần nói về các làng, xã và dân cư của 4 tổng Việt là An Phú Thượng, An Phú Hạ, Phước Hưng Thượng, Phước Hưng Hạ.
Đây là dải đất đồng bằng ven biển và thềm phù sa cổ, có một số ít làng nằm ven triển đất đỏ bazan ớ phía tây và phía nam của tỉnh.
Sách Đại Nam nhất thống chỉ tỉnh Biên Hòa, bản thời Tự Đức (1847-1883) trong phần “Dựng đặt và diên cách” miêu tả huyện Phước An như sau: “Nguyên là tổng Phước An, năm Gia Long thứ 7 đặt thành huyện, trước lệ vào phủ Phước Long, năm Minh Mạng thứ 18 đổi lệ phủ này. Nay lãnh 4 tổng, 42 xã, thôn, phường”?,
Như vậy là cho đến đầu thế ky XIX, chính quyền nhà Nguyễn chưa quản lý được số dân tộc ít người ở địa bàn Bà Rịa và Đông Nam Bộ nói chung, vẫn coi họ là dân “Phiên”, những “người Man, Mach, Dé, Mọi” thuộc đối tượng “chống trị”. Giữa khu vực cư trú của Kinh và Thượng lúc bấy giờ vẫn có ranh giới ngăn cách và được kiểm soát bởi hệ thống trường tuần, thủ, bảo (một dạng đến biên phòng ngày nay).