So với các làng người Việt, các làng người dân tộc ở Bà Rịa xuất
hiện muộn màng hơn rất nhiều. Lý do chính là đo cuộc sống du
canh, du cư vốn là tập quán lâu đời của họ. Trong các dân tộc ít
người ở Bà Rịa, người Châu Ro chiếm số lượng đông nhất. Người '!!' QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Sđd, tr, 39.
?' Người Pháp gọi là: “Oanton Mọi "(tổng Mọi), “Village Moi” (lang Mọi).
DIA CHi BA RIA - VUNG TAU
Châu Ro thuộc nhóm Môn - Khmer, bắt nguồn từ dân tộc Mạ, cư trú lâu đời trên địa bàn nằm giữa hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp, tức vùng đất miễn Đông Nam Bộ ngày nay. Các nhà nghiên cứu dan tộc học hầu như đã thống nhất với nhau rằng có một tiểu vương quốc Mạ nằm ở phía bắc Bà Rịa, Biên Hòa, Long Khánh đến Đồng Nai
“Thượng và phía tây Bình Thuận. “Sang đầu đời Nguyễn, thì những người Mạ ở phía nam tỉnh Bình Thuận và phía đông tỉnh Biên Hòa ở thành những sách, thuộc, man của hai tỉnh ấy”.
Coi người Châu Ro là một thành phần của đân tộc Mạ còn có nhà dân tộc học Pháp như ở. Boulbet trong cuốn Xứ người Mẹ, lãnh thổ các thân linh. Ông cho rằng “người dro (Châu Ro) cũng là người Churu ở các cao nguyên Nam Đông Dương, chiếm cứ một cách rời rạc và không liên tục các rừng rậm ở tây nam xứ sở Mạ. Nhiều làng Jro là láng giêng thường trực đầu tiên của người Viet”.
Trong giao tiếp bằng ngày, người Châu Ro gọi nhau là Chrau Jro (Cbrau: người; Jro: tên bộ tộc). Ở đây, chúng tôi gọi thống nhất
là Châu Ro theo bản “Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt
Nam” của Tổng cục Thống kê (1978).
Vùng đất mà ngày nay gọi là Bà Rịa - Vũng Tàu, trước khi những lưu đân Việt đến khai phá và định cư, đã có những cư dân bản địa cư trú bao gồm người Châu Ro, người Khmer và một số Ít người Stiêng, người Chămpa. Phương thức canh tác cổ truyền của
người Châu Ro là kinh tế nương rẫy, du canh và du cư. Không ít những ruộng đất mà người Việt đến khai phá về sau nguyên là những dải rừng đã được người Châu Ro phát quang để trồng tỉa trước đó, sau bỏ đi.
Địa bạ huyện Phước An (tương ứng với diện tích tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay) lập năm 1836 - kết quả của cuộc tổng điều tra
_—_———————
+? Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, 1994, tr. 212.
215 Boulhet, Pays des Maa’, domaine des génies (Xi nguot Mạ, lãnh thổ của thân linh), Đỗ Văn Anh dịch, Nxb. Đồng Nai, 1998, tr. 370.
167
DAN CU
ruộng đất ở Nam Ky dưới thời Minh Mạng - chi ghi dién tich dat đai được khai phá của 42 làng thuộc 4 tổng An Phú Thượng, An Phú Hạ, Phước Hưng Thượng, Phước Hưng Hạ, tức là những làng người Việt mà thôi. Còn những buôn, làng của người Châu Ro thì không thấy nói đến. Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) tức 10 năm sau, mới lập được địa bạ vùng này. Cứ theo cách miêu tả của Trịnh Hoài Đức trong sách Giư Định thành thông chí, phần “Sơn xuyên chí” (chép về núi sông) của trấn Biên Hàa vào đầu thế ky XIX, thi giữa vùng người Việt với vùng người dân tộc cư ngụ, chính quyển phong kiến vẫn đặt những đồn sơn phòng, bảo, trường tuần để kiểm soát việc đi lại, buôn bán, nhằm bảo dam an ninh.
Đến đầu thế kỷ XX, trong danh mục các tổng và làng xã của tỉnh Bà Rịa ở Chuyên khúo tỉnh Bà Ria va thanh phé Cap Saint Jacques do ngudi Phap biên soạn, ngoài 42 làng người Việt còn có danh mục 20 làng Thượng, mà họ gọi là “làng Mọi”,
- Tổng Long Xương có 7 làng: Anh Mao, Cù Bị, Lâm Xuân, Hương Sai, Thanh Tóa, Xuân Sơn, Xuân Khai.
- Tổng An Trạch có 7 làng: Băng La, Cù Mi, Cụ Khánh, Hích Dịch, La Vân, Phước Chi, La Son.
- Tổng Long Cơ có 6 làng: Bình Ba, Bình Giã, Điền Giả, Ngãi Giao, Quạn Giao, Trình Ba.
Sách này chỉ đưa con số thống kê chung là 3.659 người của 3 tổng, trong khi 42 làng, thuộc 4 tổng Việt đều có số dân từng làng.
Điều này chứng tỏ, thực dân Pháp vào đầu thế kỷ XX vẫn chưa nắm được dân cư ở vùng lân cận dân tộc Châu Ro một cách chắc chắn, mà chỉ đưa ra con số áng chừng.
Từ năm 1910, xã hội Châu Ro chịu một áp lực lớn của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Bọn “Colon” Pháp bắt dau chiếm hàng vạn hécta đất màu mỡ (chủ yếu là đất đỏ bazan va đất xám) ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ để mở những đền điển cao '” Monographie de la province de Baria.., Sdd, tr. 13-14.
ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU su và cà phê. Ở Bà Rịa, nhiều buôn làng của người Châu Ro buộc phải đi đời vào những khu vực hẻo lánh, nhường đất cho chúng mở những đồn điển liền khoảnh. Có thể coi đây là cuộc xáo trộn lớn nhất trong lịch sử của người Châu Ro về địa bàn cư trú, về kinh tế và cả về phong tục tập quán, phương thức canh tác bao đời của họ.
Một số ít người Châu Ro bị biến thành công nhân làm thuê trong các đền điển của thực dân.
Cũng từ đây các làng người đân tộc được bổ sung nhiều người Việt, trong đó có thành phần công nhân cao su và thành phần di đân tự do. Và, đi nhiên sự thay đổi về cơ cấu đân cư này đã biến những làng người Châu Ro thành làng Việt (trong đó có người dân tộc) đù được đổi tên hay giữ nguyên tên cũ.
Bước sang thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), rồi chống
Mỹ (1954-1975), người dân Châu Ro đã sát cánh cùng người Việt
anh em chiến đấu chống xâm lược cbo đến ngày toàn thắng. Nhiều
thanh niên Châu Ro đã thoát ly gia đình làm cán bộ, giao liên, tham gia lực lượng vũ trang. Tổng kết cuộc chiến tranh, các xã có đông đảo bà con Châu Ro sinh sống như Bàu Lâm, Xuyên Mộc, Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), Hat Dịch (huyện Tân Thành), Ngãi Giao (huyện Châu Đức) đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Các bà má người Châu Ro Lý Thị Nhành (xã Hat Dich), Tong Thi Dé (xa Bông Trang), Duong Thị Nhu (thị xã Bà Rịa) được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Sự đóng góp của người Châu Ro trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ quả là kbông nhỏ.
Từ sau ngày giải phóng (30-4-1975), cuộc sống của người Châu
Ro mới thực sự bắt đầu ổn định, và đã có những biến đổi đáng kể.
Người Châu Ro bắt đầu làm quen với những khái niệm mới và kỹ thuật mới về sản xuất, tổ chức đời sống, thay đổi phương thức canh tác, cây trồng, vật nuôi, công cụ lao động. Về giáo dục, trước kia tuyệt đại đa số người dân Châu Ro mù chữ, nay trong xã phường có
trường mẫu giáo, tiểu học phổ thông, trung học cơ sở. Có khoảng
169
DAN CU
4.000 con em Châu Ro cắp sách đến trường trong tổng số dân 6.785 người. Có hơn 20 sinh viên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng.
Những tập tục mê tín, đị đoan, lạc hậu được khắc phục dẫn. Bộ mặt thôn làng đã thay đổi lớn, không còn cảnh nghèo cực, tối tăm đưới những cánh rừng âm u. Nhiều gia đình có tivi, xe máy, một số phương tiện sản xuất hiện đại, hoặc cải tiến. Tuy nhiên, tỷ lệ số hộ đói nghèo vẫn còn cao so với người Kinh.
Số dân Châu Ro trong tỉnh là 1.274 hộ với 6.785 người, đứng thứ 3 sau người Kinh và người Hoa. Có 562 người sống ở thị xã Bà Rịa, còn lại được phân bố ở các huyện Châu Đức (đông nhất), huyện Xuyên Mộc, huyện Tân Thành và một số ít sống ở huyện Long Đất.
3. Quá trình hình thành dân cư trên Côn Đảo.
Cho đến cuối thể kỹ XVII, Côn Đảo còn là một đảo hoang, chưa có cư dân sinh sống, hoặc chỉ là nơi tạm ẩn thân của những toán cướp biển. Đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), hằng năm vẫn cử đội tuần tiểu ra đảo để nắm tình hình, khai thác vài loại thủy sản, thu nhặt những vật phẩm của tàu thuyền bị đắm dạt vào đảo rôi trở về.
Năm 1723, một người Pháp tên là Rénautly di dén tim hiéu Côn Lôn. Trong bản báo cáo gởi Công ty Đông Ấn của Pháp ngày 27-7-1723 có đoạn: “ở phía đông và phía bắc của một vùng biển, có một bãi cát lây lội rộng khoảng nửa dặm, trên đó những túp lều của dân trên đảo ở rải rác và hỗn độn. Có khoảng bốn năm chục túp lêu tre, lợp cổ sơ sài.. Dân trên đảo có vào khoảng 200 người.
Đó là những người Nam Kỳ ra đây vì lý do đặc biệt mà họ không muốn cho biết, nhưng ta có thể đoán được”U),
'! Dẫn theo Phạm Xanh, Tim hiểu quá trình hình thành một làng đảo - làng An Hải, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 2-1987.
DIA CHI BA RIA - VUNG TAU
Như vậy là, vào thập niên đầu thé ky XVIII đã có 200 người dân đến cư ngụ, mà gốc từ Nam Kỳ ra đảo chứ không phải từ miễn Trung vào, với lý do “đặc biệt”, có nghĩa là không sống được trong đất liên. Mảnh đất họ quy tụ với nhau về sau là làng An Hải. Đó là lớp cư dân đầu tiên tạo nên làng đảo này.
Trong một lá thư để ngày 15-3-1789 của Toàn quyền Pháp ở Pondichéry gửi cho bá tước De la Luferne ở Paris có nói rõ ở Poulo Condore (tức Côn Lôn) “không đẩy 60 gia đình đi trốn sống ngắc ngoải trong cảnh nghèo đói cực độ”””, Như vậy là sau 66 năm (từ 1723-1789) số gia đình người Việt ra định cư ở đây tăng lên gấp rưỡi, và đời sống kinh tế không có gì khởi sắc. Đó là nguồn di cư tự do đến Côn Đảo. Còn nguồn di cư đặc trưng cho Côn Đảo là số
người bị bắt buộc, cưỡng bức.
Thời Minh Mạng, một đội quân đồn trú thường trực đã đặt tại đây. Năm 1840, trong một dụ gởi cho quan tỉnh Vĩnh Long (lúc bấy giờ, quân đáo Côn Lôn trực thuộc tỉnh này), Minh Mạng đã nhắc đến việc đốc thúc binh lính đóng ở đây phải hết sức khai khẩn đất hoang để tự túc lương thực, giống má thì do nhà nước cấp.
Ngoài đội quân thường trú, nguồn di cư cưỡng bức là những người chống đối lại triéu đình, những người dính líu đến việc tham ô công quỹ, hoặc phạm các tội khác bị đưa đi an trí ở đảo. Đến năm 1840, số tù phạm phát vãng ra Côn Lôn lên tới 214 người. Họ ra đây, buộc phải tự làm ăn, sinh sống, chủ yếu là khai hoang, sản xuất nông nghiệp. Hết hạn lưu đày thì được kết nạp vào dan lang An Hải, không cho về lại đất liên.
Cũng vào thập kỷ 40 của thế kỷ XIX, Minh Mạng đã ban dụ cho 5ð tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, Gia Định, Biên Hòa và An Giang
chiêu dân trong tỉnh không kể gái trai, già trẻ, nếu ai tình nguyện
!A, Septans, be Commencement đe LIndochine Francaise, tr. ð4, dẫn theo Phạm
Xanh, T1ảd.
171
DAN CU
ra Côn Lôn làm ăn, sinh sống thì cấp tiền vốn mỗi người 10 quan”
Đến giữa thế kỷ XIX, dân số trên đảo lên tới 1.000 người, gồm 3
thành phần: dân thường, biển binh trú phòng và những người bị phát vãng. Về mặt hành chính, từ năm Minh Mạng thứ 19 (1838)
trở về trước, đảo Côn Lôn trực thuộc Gia Định, từ năm Minh mạng thứ 20 (1839) về sau thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 28.11.1861, thực
đân Pháp chính thức chiếm Côn Đảo. Trong Hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), Pháp buộc phái đoàn triểu Nguyễn phải ghi thêm việc vua An Nam nhường cho Pháp đảo Côn Lôn (điều 3) nhằm hợp thức hóa hành động chiếm đóng.
Ngày 1-3-1862, Đồ đốc Bonard, ký nghị định thiết lập nhà tù Côn Lôn. Ban đầu nhà giam làm bằng tre, nứa, có sức chứa 300 tù nhân. Ít lâu sau, một chiếc tàu mang tên Écho chở 50 người tù ra đảo. Đây là chuyến tù nhân đầu tiên của Pháp đưa ra Côn Đảo, lúc này tại đây còn 119 người tù triểu đình Huế và một đội quân cơi ngục 80 người,
Năm 1930, một quá trình di cư ngược từ Côn Đảo về đất liền hại điễn ra do chủ trương mở rộng nhà tù Côn Đảo. Xin lưu ý là lúc này, trên đất nước ta xuất hiện tầng lớp tù chính trị, đặc biệt là những người cộng sản, làm cho thành phần tù nhân ở đây cũng thay đổi về chất. Đề phòng ảnh hưởng tư tưởng cộng sản, thực dân Pháp bắt dân thường trên đảo phải đi cư về Bà Rịa. Đây là một khởi đầu cho quá trình giải thể làng An Hải. Việc di cư vô cùng vất.
vả, kéo dài trong 6 năm (từ 1930-1936) mới chấm dứt. Làng An Hải bị xóa tên trên bản dé Cén Dao”.
Do dân cư tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, cho nên đây cũng là nơi hội tụ những tập tục, tín ngưỡng của nhiều nơi mang đến khá đa dạng, mặc dù số lượng người không đông.
Từ sau ngày giải phóng (30-4-1975), Côn Đảo trở thành một đơn
*! Dẫn theo Phạm Xanh, Tldd, tr. 105.
'? Phạm Xanh, Tlđd, tr. 108.