Thực trạng động vật hoang đã trên đất liền

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 79 - 86)

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng sinh thái Đông Nam Bộ,

mang tính chuyển tiếp từ vùng núi Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ sang châu thổ sông Cửu Long. Diện tích đất đai của tỉnh không lớn, nhưng sinh cảnh đa dạng, hệ động vật tương đối phong phú.

Theo các kết quả điều tra nghiên cứu các năm qua về khu hệ động vật trên cạn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng này có 941 loài, thuộc 220 họ của 7 lớp động vật khác nhau:

Thành phân phân loại khu hệ động uật

Stt Tên lớp Số Số Số | Tỷ lệ | Loài cần bộ họ | loài (%) bao vé

1__| Thi (Mammalia) 10 24 70 TA 20

2__| Chim (Aves) 20 56 296 81,4 13

3__| Bo sat (Reptila) 1 20 81 8,6 21

4_ | Lưỡng thé (Amphibia) 1 4 18 1,9 1

5__| Ca (Pisces) 24 78 361 38,5 12

6 Côn trùng (Insecta) 10 37 113 12,0

7 _ | Nhện (Acachnida) 1 3 2 0,2 |

Cong 69 220 | 941 100 68 (7,2%)

a) Nhém thi (Mammalia)

Tổng số 70 loài thú được điều tra nghiên cứu ở Bà Rịa - Vũng

Tàu là các đại điện của 10 bộ thú (còn gọi là động vật có vú). Trong số đó, 4 bộ có thành phần loài lớn nhất là bộ gặm nhấm với 30 loài (chiếm 28,58% tổng số loài của lớp thú). Bộ thú ăn thịt với 11 loài (chiếm 27,14%). Bộ dơi với 11 loài (chiếm 15,71%), bộ linh trưởng với 10 loài (chiếm 14,28%).

Trong số 70 loài thú đã thống kê được ở tỉnh Bà Rịa - Vũng

ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU Tàu, có 20 loài được xếp vào đanh sách cần được bảo vệ ở các cấp độ khác nhau.

b) Nhóm chữm (Aues)

Các kết quả nghiên cứu về khu hệ chim của tỉnh cho biết hiện nay có 296 loài, thuộc ð6 họ của 20 bộ. Trong số đó, 9 bộ có số lượng loài từ 10 trở lên.

Các loài chim chủ yếu tập trung ở khu bảo tôn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Nơi đây có 81,41% số loài chim trong tỉnh.

e) Nhóm bò sát (Reptiia).

Hệ bò sát của Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 81 loài, thuộc 20 họ của 3 bộ. Bộ có vấy có số lượng loài lớn nhất, 75 loài (chiếm

92,5%) với 1ã họ. Bộ rùa có 5 loài (chiếm 6,1%) với 1 họ. Bộ cá sấu có 1 loài (chiếm 1,2%) với 1 họ.

d) Nhém luéng thé (Amphibia).

Khu hệ này có 18 loài, thuộc 4 họ của bộ không đuôi (Amura), trong đó có một loài được coi là quý hiếm. Đó là loài cóc rừng (Buto galeatus gunthor, 1864). Các loài lưỡng thê, hầu hết ăn côn trùng, vì vậy chúng là loài động vật có ích cho sản xuất nông nghiệp.

Bảng thống kê khu hệ lưỡng thê

Stt_| Ho Giống | Loài | Tỷ lệ%

1 Họ cóc (Bufonidae) 1 2 11,1%

3 Họ ếch nhái (Ranidae) 3 8 44,5%

8 Họ ếch cây (Rhacophoridae) 1 1 5,5%

4 Họ nhái bầu (Microhylidae) 3 7 38,9%

Téng cong 8 18 100%

e) Nhóm côn trùng (Insecia).

So với các hệ khu sinh vật khác, thì khu hệ côn trùng còn chưa được điều tra khảo sát kỷ, đây đủ. Kết quả bước đầu nghiên cứu cho thấy ở trong tỉnh, lớp côn trùng có 113 loài, 34 họ, 10 bộ.

SI

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Thống kê hệ côn trùng ở khu bdo ton thién nhién Binh Chau - Phude Buu

[se | BO [_ Số lượng họ | Số lượng loài 1 | Cánh phấp (Lepidopiera) | 7 | 44 2_ [ Cánh cứng (Coleoptera) —_ | 9 | 24

3 | Cánh thẳng (Orthoptera) | 3 | 8

4 | Cánh nữa (Heteroptera) | 4 | 19 5 | Cánh may (Hymenoptera) _| 3 | 9

6 Cánh giống (Homaptera) | 2 | 2

7 | Cánh đều (Isoptera) 2 5

8 Bo ngựa (Mantodea) 1 1

9 Bọ que (Phasmida) 1 1

Le Hai cánh (Doptera) | 3 9

Công | 34 113

Có thể nói, khu hệ động vật của Bà Rịa - Vũng Tàu khá phong phú, với tổng số 941 loài, của 220 họ, thuộc 7 lớp động vật có xương sống (kế cả lớp cá) và không có xương sống. Nếu kể cả hai loài thuộc lớp bò cạp và một loài thuộc lớp rết thì tổng số loài động vật của tỉnh là 944 loài, của 223 họ và thuộc 9 lớp động vật. Trong khu hệ động vật của tỉnh, có 68 loài động vật cần được bảo vệ. Đây là

nguồn “gien” quý hiếm của địa phương và của quốc gia.

2. Thực trạng động vật hoang dã ở dưới nước.

a) Thủy sinh 0uật nước ngọt.

Khu hệ thủy sinh vật nước ngọt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Được phân bố ở vùng thượng lưu và trung lưu của các con sông Định, Châu Pha, Ray ở các suối và các thủy vực dạng hồ.

ĐỊA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU

Bảng thống kê thành phần các loại động uật phiêu sùnh trong thủy 0uực nột dia”.

“ " T1

Stt Nganh Số lượng | 86 luong | oy 16 ho loài

1 | Động vật nguyên sinh (Protozoa) 1 1 2,3

2 Trùng bánh xe (Rotatoria) 17 38,6

3 Giun ít. tơ (Oligochaeta) 1 1 23

4__| Giáp xác (Crustacea) 10 24 54.4

5 Tunicata 1 1 23

L— Tổng cộng 21 44 100 —]

b) Thủy sinh uật nước mặn.

Địa bàn phân bố bao gồm các hồ, đầm nước lợ, phân hạ lưu các

sông Dinh, Bà Gội, Bến Đá, Cái Mép, Thị Vãi, Băng Chua, vùng cửa sông và ven biển vịnh Ganh Rái. Các loài thủy sinh vật nơi đây có khả năng thích ứng tương đối rộng với yếu tố môi truờng, sự

thay đổi của nông độ muối natri trong nước và nhiệt độ, v.v...

Thành phân các loại phiêu sinh ở của sông, Uen biển

x Số lượng xua

Stt Ngành Họ Loài Ty lệ %

1 Giáp xác chân chèo (Copepoda) 11 21 84,0

2 Giáp xác 10 chân (Decapoda) 1 1 4,0

3 Ham to (Chaetognatha) 1 1 4,0

4 Prochordata. 1 1 4,0

5 Rudt_khoang (Oelentorata) 1 1 4,0

L Cộng ai | 44 100

—————————————

+! Nguôn: Viện Sinh học nhiệt đới, 1897.

83

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Thành phần thủy sinh ở vùng nước ngọt chủ yếu là các loài vốn phổ biến của vùng Nam bán đảo Đông Dương. Ngoài ra, còn có các loài thuỷ sinh phân bố rộng thuộc các loài giáp xác, râu ngành, trùng bánh xe, ấu trùng, côn trùng nước ngọt.

€) Nhóm cá.

Tổng hợp các kết quả điều tra khảo sát thực địa và những tài liệu đã công bố về danh mục các loài cá (gồm cả ngọt, lợ, mặn), có 301 loài, của 79 họ, thuộc 23 bộ trong khu hệ cá của tỉnh. Trong khu hệ cá, tỷ trọng thành phần cá nước man cao hơn cá nước ngọt nhiều.

+ Cá nước mặn:

Khu rừng ngập mặn và cửa sông (ợ) có 134 loài cá, chiếm 37,1% trong khu hệ cá của tỉnh.

Rhu vực ven biển có 272 loài cá, chiếm tỷ lệ 76,1% trong khu hệ cá của tỉnh.

ở vùng ngoài khơi có 17ð loài cá, bằng 48,1% tổng số loài trong khu hệ cá của tỉnh.

+ Cá nước ngọt

Ở nơi sông, suối, ao, hồ trong đất liển của tỉnh có 56 loài, bằng 15,5% so với tổng số loài cá trong toàn khu hệ. Tỷ lệ này thấp so với nhiều nơi khác.

+ Cá nước lợ.

8o với vùng nước ngọt, cá ở thủy vực nước lợ của tỉnh bao gồm các cửa sông, vùng ven biển, vùng rừng ngập mặn phong phú hơn về số lượng và chủng loại. Thức ăn, các loại sinh vật phù du ở vùng này cũng dồi dào hơn ở những vùng khác.

3. Thực trạng động vật hoang đã trên Côn Đảo.

Cho đến nay, những số liệu điều tra khảo sát nơi Côn Đảo đã xác định được ở trên cạn có 18 loài động vật có vú, thuộc 10 họ, 5 bộ; có 65 loài chim thuộc 25 họ, 13 bộ; có 25 loài bè sát và lưỡng

DIA CHÍ BÀ RỊA - VUNG TAU

thê.

œ) Nhóm thú (Mammalia).

Đáng chú ý là các loài thuộc chỉ sóc. Loại sóc mun sống rất phổ biến trong các rừng cây, có màu đen tuyệt đẹp. Loài thú này chỉ mới phát hiện được ở Côn Đảo, chưa thấy trên đất liền. Loài sóc lớn, bụng vàng cũng có một số đặc điểm về màu lông so với cùng loại trên đất liền.

b) Nhóm chữn (Aues).

Người ta thường bắt gặp trên đảo loài chỉm thuộc bộ bỗ câu (Colombiformes) như bổ câu bicoba, đặc biệt loại chim gầm ghì trắng, rất hiếm thấy trên thế giới (hiện chỉ phân bố ở một số đảo

thuộc Malaysia và Papua New Guinea).

Một loại chim đáng chú ý ở đây là loài ó biến. Điều kiện thiên nhiên trên núi có nhiều hang động, vách đá cao và hiểm trở, rất thích hợp cho loài ó biển làm tổ và sinh sôi.

Ở một số hòn đảo trong tổng số 16 hòn của Côn Dao, chim yến tập trung làm tổ trong các vách đá và hang núi. Yến sào thu được ở Côn Đảo hàng năm là một nguồn lợi kinh tế có giá trị đáng kể.

Có thể nói do vị trí và địa hình, Côn Đảo có một quần chủng chim biển đông đúc, đa dạng khác với đất liên.

c) Nhóm bò sát (Reptila).

Kỳ đà hầu như có mặt ở khắp các đảo của Côn Đảo với mật độ lớn. Tác Kè cũng rất phổ biến. Ở các bãi biển Côn Đảo có loài vích

(Caretta ollivacea), rùa xanh (Chelonia mydas) phát triển thuận lợi,

do điều kiện sinh thái rất thích hợp cho loài bò sát này.

đ) Nhóm thú (Mammaia).

Đặc biệt ở biển Côn Đảo có loài thú biển duy nhất ăn cỏ ngập sâu trong nước mặn, gọi là bò biển (tên khoa học là Dugong). Bà con ngư dân gọi là cá cúi, Con vật lúc trưởng thành dài từ 2,4 - 2,7m, nặng

đến 400kg. Trung bình mỗi ngày một con dugong ăn hết 2ðkg cỏ biển. Dugong thở bằng phổi, cứ vài phút lại ngoi lên mặt nước vài giây... tốc độ bơi trung bình 5km/giờ, cao nhất có thể lên 20km/giờ.

85

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Tuổi thọ của dugong đến 70 năm. Quá trình thai nghén từ 12 - 13 tháng, va chi dé 1 con. Tuổi thọ tương đối cao, nhưng tỉ lệ sinh thấp đã khiến cho các nhà khoa học lo ngại dugong rất dễ bị tuyệt chủng.

Theo thống kê ở Ức, Papua New Guinea, Indonesia là những nơi có nhiều dugong. Theo sự tính toán của các nhà khoa học, trên thế giới, có khoảng 100.000 cá thể Dugong.

ở vùng biển Côn Đảo cũng xuất hiện loài cá heo (Betphinus), cá vược (thường gọi là cá ông sư) tập trung thành từng đàn đông.

e) Nhóm cá ở rạn san hô.

Theo kết quả điều tra của Viện Hải dương học Nha Trang, ở ven các đảo thuộc huyện Côn Đảo có 147 loài thuộc 50 giống san hô cứng.

Trong các rạn san hô này có nhiều cá cư ngụ, bao gồm 202 loài thuộc 80 giống, 31 họ. Họ cá thia (Pomacentridae) là thành phân phong phú nhất (55 loài, chiếm 22,27% tổng số loài).

Tiếp đến là họ cá bàng chài (Lahridae) gồm 24 loài; họ cá bướm gồm 92 loài; họ cá mó gồm 17 loài; họ cá hồng gồm 1õ loài; họ cá phèn gồm 9 loài; họ cá cúi gồm 8 loài...

e} Động uật đáy.

Các kết quả nghiên cứu nhiều năm ở đây cho thấy động vật đáy ở biển Côn Đảo gồm: 130 loài giun tơ; 110 loài giáp xác; 153 loài thân mêm; 46 loài da gai,

Các động vật đáy có kích thước lớn thuộc loài thân mềm, giáp xác, da gai đóng vai trò quan trọng, tạo nên tính đa dạng của các rạn san hô.

Sự đa dạng về thành phần thân mềm được coi như đặc trưng của sinh vật đáy ở biển Côn Đảo. Trong tổng số 153 loài ghi nhận được, có 109 loài thuộc 26 họ của lớp chân bụng và 44 loài thuộc 14 họ của lớp hai mảnh vỏ...

Nhìn một cách tổng quát, khu hệ động vật hoang dã có xương sống và các loại côn trùng ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khá phong phú về nhóm cũng như về thành phần loài.

DIA CHi BA RIA - VONG TAU

Một phần của tài liệu Nghiên cứu địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu: Phần 1 (Trang 79 - 86)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(552 trang)