Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Mê Công

Một phần của tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biển đổi tài nguyên nước Đồng Bằng Sông Cửu Long (Trang 78 - 85)

CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1. Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Mê Công

Sông Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, qua các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và Myanmar, rồi đi vào vùng trung hạ lưu thuộc Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam (hình 3.1). Sông đứng hàng thứ 10 Thế giới về tổng lượng dòng chảy (500 tỷ m3), hàng thứ 25 thế giới về diện tích lưu vực (795.000 km2).

Sông Mê Công chảy chủ yếu theo hướng Bắc-Nam, qua nhiều vùng địa hình phức tạp. Độ dốc lòng sông trung bình 0,0011. Dòng chính được bổ sung nguồn nước từ nhiều nhánh sông, suối lớn, nhỏ, có diện tích từ vài trăm đến vài chục nghìn km2, phân bố khá đều hai bên bờ, như Nam Ngum, Nam Tha, Sebang Hieng, Sebang Phai, Se San, Sre Pock... ở bên trái và Nam Songkhran, Nam Mun, Nam Chi... ở bên phải.

Thượng lưu vực Mê Công có chiều dài 1.800 km, diện tích gần 200.000 km2, địa hình núi cao hiểm trở, lòng sông có lắm thác ghềnh. Phần thượng nguồn thuộc cao nguyên Tây Tạng có tuyết phủ gần như quanh năm.

Hạ lưu vực Mê Công, từ Chiang Saen đến biển, chiều dài 2.400 km và diện tích 600.000 km2, với địa hình phức tạp và đa dạng, có tiềm năng to lớn về phát triển thủy điện và nông nghiệp. Vùng hạ lưu Mê Công có thể chia thành 2 vùng chính gồm:

 Vùng trung lưu được tính từ Chiang Saen xuống tới Kratie (Campuchia) chiếm 57% diện tích lưu vực (453.150 km2). Chỉ tính riêng sông nhánh cấp I (đổ trực tiếp vào sông chính), tại vùng này sông Mê Công đón nhận thêm lượng nước của 20 phụ lưu quan trọng, trong đó 13 nằm ở tả ngạn và 7 nằm hữu ngạn, với phụ lưu quan trọng nhất là Nam Mun bao trùm toàn bộ cao nguyên Korat. Vùng trung lưu cũng là nơi đón nhận các cơn bão lớn thổi từ hướng Tây/Tây-Nam đi vào lưu vực, đem lại mưa to gây ra lũ lụt lớn trên sông Mê Công và các phụ lưu.

 Hạ lưu sông Mê Công có đỉnh là Kratie và kéo dài tới biển Đông, với 198.800 km2, chiếm 24% diện tích lưu vực. Ngay sau ngã ba hợp lưu với sông Tonle Sap- sông nối dòng chính với Biển Hồ tại Phnom Penh, Mê Công chia thành hai nhánh chảy vào Việt Nam là sông Tiền (Mê Công) và sông Hậu

77 (Bassac). Sông Tiền chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Mỹ Thuận rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng 2 cửa là Định An và Trần Đề (cửa thứ 9 là Bát Thát, đã bị bồi lấp khoảng 100 năm trước).

Hình 3.1.Bản đồ lưu vực Mê Công (nguồn MRCS)

78 Diện tích lưu vực sông Mê Công thuộc lãnh thổ Trung Quốc chiếm 15,6%

diện tích lưu vực, có tiềm năng to lớn về phát triển thuỷ điện. Diện tích lưu vực sông Mê Công thuộc Myanmar 59.030 km2, chiếm 7,4% diện tích lưu vực. Hầu như toàn bộ CHDCND Lào nằm trong lưu vực sông Mê Công và là nước có tỷ lệ diện tích lớn nhất, chiếm 26,1% lưu vực, cũng là nơi có tiềm năng phát triển thuỷ điện lớn. Thái Lan có 184.240 km2 diện tích nằm trong lưu vực sông Mê Công, chiếm 23,2% lưu vực.

Với lưu vực 85.000 km2, Biển Hồ là một hồ chứa nước tự nhiên có dung tích khoảng 85 tỷ m3, diện tích mặt nước biến đổi từ 3.000 km2 đến 14.000 km2, hàng năm nhận từ sông Mê Công khoảng 49 tỷ m3 nước vào mùa lũ và cùng với dòng chảy do chính lưu vực sinh ra, bổ sung trung bình khoảng 80 tỷ m3 nước cho hạ lưu từ sau đỉnh lũ cho đến đầu mùa mưa năm sau, góp phần gia tăng dòng chảy kiệt vào ĐBSCL.

Vùng đồng bằng châu thổ của lưu vực Mê Công được xác định từ Phnom Penh cho đến biển Đông, với diện tích chừng 45.000 km2. Chảy ra vùng biển với hai chế độ triều khác nhau bằng 8 cửa chính và nhiều kênh rạch nhỏ, sông Mê Công hình thành một vùng cửa có chế độ thủy văn-thủy lực cực kỳ phức tạp. Trừ một ít đồi cao vùng Bảy Núi, An Giang, nhìn chung phần đồng bằng châu thổ có địa hình bằng phẳng. Các hạn chế thiên nhiên chính ở đây là ngập lũ, chua phèn, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt trong mùa khô.

Phần Mê Công thuộc nước ta nằm ở cuối hạ lưu vực, có diện tích 65.170 km2, chiếm 8,2% toàn lưu vực và 10,7% hạ lưu vực, gồm gần 40.000 km2 ở ĐBSCL- thuộc vùng châu thổ, 25.170 km2 thuộc lưu vực các sông Se San, Sre Pock ở Tây Nguyên và một phần rất nhỏ thuộc các lưu vực Nậm Rốm ở Tây- Bắc, Sebang Hieng và Sebang Phai ở Thừa Thiên-Huế.

Bảng 3.1. Phân bố diện tích lưu vực Mê Công (nguồn MRCS) TT Tên nước Diện tích lưu vực (km2) Tỷ lệ (%)

1 Trung Quốc 124.000 15,6

2 Myanma 59.030 7,4

3 Lào 202.400 26,1

4 Thái Lan 184.240 23,2

5 Campuchia 154.700 19,5

6 Việt Nam 65.170 8,2

Tổng 795.000 100,0

79 Bảng 3.2. Phân bố dòng chảy trong lưu vực sông Mê Công

(Nguồn: Overview of the Hydrology of the Mê CôngBasin, MRCS)

Trạm thuỷ văn F lưuvực (km2) Tổng lượng dòng chảy năm (109 m3)

Trung Quốc (Trạm Jinghong) 74

Chiang Sean (Tam giác vàng) 189.000 85

Luang Prabang 268.000 123

Vientiane 299.000 139

Nong Khai 302.000 142

Nakhon Phanom 373.000 224

Mukdahan 391.000 240

Pakse 545.000 306

Stung Treng 635.000 413

Kratie 646.000 416

Toàn lưu vực 795.000 500

Hình 3.2.Tỉ lệ đóng góp (%) của các quốc gia vào vào dòng chảy sông Mê Công theo các mùa dòng chảy (nguồn MRCS)

80 Hình 3.3.Phân bố tổng lượng dòng chảy (tỉ m3) trên sông Mê Công (nguồn MRCS)

Sông Mê Công đoạn từ Kratie đến biển Đông dài khoảng 545 km, chảy trong vùng châu thổ nên có địa hình bằng phẳng và lòng sông được mở rộng dần. Từ ngã 4 Phnom Penh, sông Mê Công được chia thành 2 nhánh đổ vào Việt Nam- Mê Công và Bassac (tức sông Tiền và sông Hậu). Vào địa phần nước ta, sông Mê Công có

81 tên gọi là sông Cửu Long, chảy ra biển bằng 9 cửa là Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Trần Đề và Bát Thát (Hậu Giang). Tuy nhiên, đến nay, quá trình bồi lắng vùng cửa sông đã làm biến mất cửa Bát Thát trên sông Hậu và cửa Ba Lai của sông Tiền cũng đã được xây cống ngăn mặn.

Mê Công có nhiều chi lưu, đa số nằm ở bờ trái, trong đó đáng kể là các nhánh Sebang Hiêng và Sebang Phai trên đất Lào. Bờ phải có các nhánh chảy từ đất Thái, mà lớn nhất là 2 hệ thống sông Nậm Mun và Nậm Chi. Trước khi đến Kratie, đỉnh châu thổ, tại gần Stung Treng, sông Mê Công cũng có các nhập lưu quan trọng ở bờ trái, nguồn từ vùng Tây nguyên Việt Nam, là các sông Se Kong, Se San và Sre Pock. Trên lãnh thổ Campuchia, các sông nhánh như Stung Sangken, Stung Sen...

cùng chảy vào lưu vực Biển Hồ, góp thêm vào dòng chảy cho ĐBSCL trong mùa kiệt. Cũng từ Kratie, Mê Công đi vào vùng trũng thấp hạ lưu ảnh hưởng triều, với cao trình đáy sông biến đổi gấp khúc do tương tác lũ-triều, độ sâu từ 10-30 m, có nơi đến 40 m. Đoạn dưới Kratie thường bị ảnh hưởng nước vật trong mùa kiệt và sau đỉnh lũ. Đoạn Phnom Penh đến Tân Châu-Châu Đốc ảnh hưởng triều nhẹ trong mùa kiệt, với biên độ 1,0-1,5 m ở Tân Châu-Châu Đốc và 0,2-0,5 m ở Phnom Penh.

Dòng triều hoàn toàn không xuất hiện trong đoạn này. Mùa lũ hầu như không còn ảnh hưởng triều.

Các sông suối nằm trên đất Campuchia, tuy không đóng góp nhiều về dòng chảy, nhưng là nơi chuyển tải quan trọng dòng lũ từ dòng chính Mê Công hay Bassac sang vùng ngập hai bên sông, ảnh hưởng mạnh đến dòng lũ tràn qua biên giới vào ĐBSCL. Phía tả sông Tiền, có 6 sông, suối chảy trực tiếp và gián tiếp nối với các sông, rạch ven biên giới Việt Nam-Campuchia là:

(1) Sông Vaico, tên gọi của phần thượng lưu sông Vàm Cỏ Tây, bắt nguồn từ vùng đồng bằng tỉnh Prey Veng, có cao trình 10-15 m, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam qua thị xã Svay Rieng và sang tỉnh Long An của Việt Nam, với diện tích lưu vực 1.720 km2, chiều dài 110 km. Sông này đã bị thoái hóa vì sau khi đắp đập Svay Rieng, dòng sông không còn lưu thông với nguồn triều từ biển Đông. Về mùa khô, dòng chảy cơ bản rất nhỏ do không có nguồn sinh thủy, nhưng trong mùa lũ, lưu vực sông lại chính là khu trữ và chuyển lũ tràn từ Mê Công sang Việt Nam.

(2) Sông Prek Tate là một nhánh thượng lưu của sông Vàm Cỏ Đông, bắt nguồn từ vùng đồi thấp tỉnh Prey Vieng có cao trình khoảng 7-10 m, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam qua thị trấn Kam Chaimea, Rominhec thuộc tỉnh Prey

82 Vieng và Svay Rieng trước khi sang tỉnh Tây Ninh của Việt Nam. Chiều dài sông chính trong phần đất Campuchia là 54 km, diện tích lưu vực tương ứng là 1.380 km2. Đoạn chảy gần vào Việt Nam lòng sông còn khá sâu và bị ảnh hưởng của thủy triều biển Đông.

(3) Sông Tonle Toch nằm ở phía Tây-Bắc vùng biên giới, nối 2 vị trí của sông Mê Công, cửa vào tại Phum Peam Prathnoud (cách thị xã Kompong Cham 10 km về phía Nam) và cửa ra tại Ba Nam (cách bến phà Niek Luong chừng 5 km).

Trong mùa lũ, nước sông Mê Công chảy vào Tonle Toch và chứa dần vào vùng đầm ngập nước rồi chảy về hạ lưu, với lòng sông khá rộng (đáy rộng 100 m, chỗ hẹp gần 40 m) và sâu (6-8 m). Chiều dài sông chính 120 km, diện tích lưu vực 1.900 km2.

(4) Sông Tonle Prasat nằm ở phía Tây vùng biên giới, có cửa vào nối với hạ lưu của Tonle Toch tại Toeng Lost và chảy lượn dòng theo hướng Bắc-Nam để nối với sông Sở Thượng của Việt Nam. Chiều dài sông chính 62 km ứng với diện tích lưu vực là 650 km2, là con sông chuyển nước của Mê Công nên lòng sông rộng và sâu, độ dốc đáy sông thấp nhưng biến đổi nhiều.

(5) Sông Tra Bek nối Tonle Prasat với sông Sở Hạ của Việt Nam, có cửa vào tại cầu Hữu Nghị, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đến cầu Trabek thì chuyển theo hướng Bắc-Nam và nhập với sông Sở Hạ tại Thông Bình huyện Hồng Ngự. Chiều dài dòng chính 57 km và diện tích lưu vực 575 km2, Tra Bek là con sông đồng bằng chuyển nước, lại ảnh hưởng của thủy triều trong mùa cạn(tại Trabek biên độ thủy triều tháng V khoảng 0,4-0,5 m). Độ rộng và độ dốc lòng sông thay đổi nhiều.

(6) Sông Prek Kongpong Chrey bắt nguồn từ vùng đầm lầy thuộc huyện Mesong tỉnh Prey Veng, chảy theo hướng Bắc-Nam nối với sông Cái Cỏ của Việt Nam. Chiều dài sông chính 35 km, diện tích lưu vực tương ứng là 326 km2. Mùa khô không có nguồn sinh thủy.

Như vậy, các sông suối phía Campuchia có liên quan chặt chẽ đến các sông rạch ven biên giới Việt Nam. Trong mùa khô, do không có nguồn sinh thủy nên dòng chảy cơ bản rất nhỏ. Trong mùa lũ, các lưu vực trên lại chính là các khu chứa và chuyển lũ về Việt Nam, góp phần làm phức tạp thêm chế độ lũ cũng như các giải pháp kiểm soát lũ cho vùng ĐTM.

Phía HSH gồm có các sông nhỏ phát nguyên từ dãy Núi Bà thuộc các tỉnh Ta Keo, Kongpong Spu và Kandal, một vài suối chảy trực tiếp ra sông Bassac, một

83 vài suối khác chảy xuống các vùng trũng ven biên giới rồi nhập vào kênh Vĩnh Tế.

Các khu trũng dọc sông Bassac và biên giới có cao độ từ 1,2-2,0 m, rộng 3-10 km, tạo thành các vùng ngập lụt rộng hàng nghìn ha, có độ sâu từ 0,5-3,0 m. Đặc biệt, suối đổ vào đầu kênh Giang Thành có lưu vực lớn, năm 2000, dòng lũ chảy sang TGHT đạt giá trị xấp xỉ 1.000 m3/s.

Một phần của tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biển đổi tài nguyên nước Đồng Bằng Sông Cửu Long (Trang 78 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(496 trang)