CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
3.2.4. Đặc điểm thủy văn
3.2.4.3. Đặc điểm thủy văn trong sông lưu vực sông Mê Công
Dòng chảy sông Mê Công được cung cấp bởi hai nguồn chính là tuyết tan ở thượng lưu và mưa ở hạ lưu. Tỷ lệ đóng góp dòng chảy thượng-hạ lưu là 18%/82%, trong khi tỷ lệ diện tích là 25%/75%. Tuyết tan vào Xuân-Hè là nguồn cung cấp đáng kể và khá ổn định cho dòng chảy cạn ởphần thượng lưu. Mưa biến đổi lớn theo năm và mùa, do vậy, dòng chảy hạ lưu có sự biến động nhiều hơn. Mưa lớn tập trung vào Hè -Thu, kế ngay sau mùa tuyết tan. Hàng năm, sông Mê Công tải qua mặt cắt Kratie khoảng 380 tỷ m3 nước, với lưu lượng trung bình 12143 m3/s, thuộc loại sông có nguồn nước khá nên tuy đứng thứ 10 thế giới về diện tích lưu vực nhưng lại đứng thứ 6 về nguồn nước (bảng 3.12).
Bảng 3.12. Lưu lượng trung bình tháng nhiều năm tại Pakse và Kratie (m3/s) Tháng Prekdam
(1960-2011)
Trạm Kratie (1960-2011)
I 2.826 3564.79
II 2.152 2627.26
III 1.787 2183.59
IV 1.734 2138.28
107 Tháng Prekdam
(1960-2011)
Trạm Kratie (1960-2011)
V 2.823 3322.67
VI 8.906 9930.50
VII 16.981 20436.29
VIII 27.231 34332.20
IX 27.551 36116.75
X 16.79 23271.13
XI 8.33 10818.92
XII 4.379 5551.34
TB 10.124 3564.79
Dòng chảy trên lưu vực sông được phân thành hai mùa tương phản khá sâu sắc: Mùa lũ từ tháng VI-XI, chiếm đến 90% tổng lượng nước hàng năm, với tháng VIII-IX lớn hơn cả; và mùa kiệt từ XII-V, chiếm 10% tổng lượng nước còn lại, trong đó tháng III- IV cho lưu lượng thấpnhất. Dọc theo dòng chính, tỷ lệ trung bình tháng cao nhất so với tháng thấp nhất là khoảng 10-20 lần và trung bình 3 tháng cao nhất và 3 tháng thấp nhất là 7-15 lần.
Vào tháng VI, khi Mê Công bắt đầu có lũ thì nước từ sông chính theo Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ. Thời gian chảy ngược duy trì cho đến tháng IX/ X, khi lũ trên sông chính vượt qua đỉnh cao nhất trong năm. Từ tháng X/ XI, nước từ Biển Hồ bắt đầu chảy ra sông, bổ sung cho dòng chảy vào đồng bằng từ đỉnh cho đến cuối mùa lũ và gần suốt cả mùa kiệt, do vậy, lũ ĐBSCL thường đạt đỉnh lớn nhất trong năm vào khoảng tháng X.
Sông Mê Công từ Phnom Penh ra biển có chế độ thủy văn khác hẳn phần thượng lưu do tác động của thủy triều biển Đông với biên độ cao. Trong mùa kiệt, từ tháng I-VI, thủy triều chi phối toàn bộ chế độ mực nước và lưu lượng hệ thống sông-kênh đồng bằng. Mùa lũ, do nước thượng lưu về nhiều, chế độ dòng chảy cũng có những biến đổi nhất định. Mùa lũ ở ĐBSCL kéo dài từ tháng VII/VIII đến tháng XI/XII. So với thượng lưu (Kratie) thì mùa lũ ở đây bắt đầu chậm hơn và kết thúc cũng muộn hơn chừng một tháng.
Từ tháng XI-XII, dòng chảy trên sông hầu như không còn được bổ cập từ nước mưa và hạ thấp dần cho đến thấp nhất vào khoảng tháng III, IV, sớm và muộn hơn một ít ở thượng và hạ lưu. Nhìn chung, dòng chảy cạnsông Mê Công khá ổn định và có xu thế tăng module cạn về hạ lưu.
Tác động điều tiết của các hồ chứa thượng lưu là có ý nghĩa thực sự lên dòng chảy, đặc biệt là dòng chảy cạnnhững năm trung bình. Theo đánh giá của Viện Thủy
108 văn Wallingford (Anh), dòng chảy thời đoạn 30 ngày cạnnhất có thể đã tăng từ 10- 20% do nguyên nhân này (khoảng 150-250 m3/s tại Pakse vào tháng IV), trong khi dòng chảy năm lại có xu thế giảm 4-8%.
Lũ sông Mê Công chủ yếu do mưa trên lưu vực gây ra. Khi lưu vực ảnh hưởng bão hay áp thấp nhiệt đới, với lượng mưa đáng kể (vài trăm mm/ngày) và xẩy ra trên diện rộng, trên sông Mê Công hình thành những trận lũ lớn thật sự có sức phá hoại mạnh. Lũ sông Mê Công thường nhiều đỉnh, với đỉnh lớn nhất trong năm rơi vào khoảng từ tháng VII-IX, sớm hơn ở thượng lưu (Chieng Sean) và muộn hơn ở hạ lưu (Kratie). Lũ sông Mê Công mang tính chất lũ miền núi với biên độ lớn và lên xuống nhanh. Lũ được truyền về hạ lưu với tốc độ khá cao ở đoạn Chiang Sean-Pakse (8-10 km/h) và chậm dần ở đoạn Kratie-Phnom Penh (2-4 km/h).
Module đỉnh lũ có xu thế giảm dần từ thượng về hạ lưu và đạt trị số trung bình từ 0,05-0,1 m3/s.km2. Tại Pakse, với lưu lượng đỉnh lũ trung bình khoảng 32.000 m3/s, tương ứng module lũ 0,06 m3/s.km2. Đỉnh lũ lớn nhất thực đo tại Pakse là 57.800 m3/s (năm 1978), đạt module 0,0103 m3/s.km2.
Sông Mê Công có hàm lượng phù sa vào loại trung bình. Các tháng mùa lũ, hàm lượng phù sa có thể đạt từ 500-1.000 g/m3. Mùa kiệt, hàm lượng phù sa giảm nhỏ chỉ còn từ 8-20 g/m3. Nước sông Mê Công hơi mang tính kiềm (pH>7,5).
Là con sông lớn, Mê Công có tiềm năng dồi dào cả về thủy điện, tưới, giao thông và thủy sản. Phát triển thuỷ điện, đặc biệt thuỷ điện trên dòng chính, sẽ dẫn đến những tác động to lớn về mặt thuỷ văn-thuỷ lực và dòng chảy bùn cát cho hạ lưu. Khả năng cấp nước tưới của sông Mê Công là rất lớn và các công trình tưới có thể mang lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia ven sông. Tuy nhiên, việc khai thác nước tưới vùng thượng lưu có thể ảnh hưởng không tốt đến môi trường vùng hạ lưu, vì vậy cần được xem xét trong khung cảnh chung. Một số đoạn sông Mê Công cũng rất thuận lợi cho giao thông thủy, như các đoạn Vientiane -Savannakhet, Kratie- Vàm Nao-Định An, Phnom Penh-Cửa Tiểu... Sông Mê Công có tiềm năng thủy sản dồi dào, trong đó Biển Hồ Campuchia là một ngư trường lớn cung cấp hàng chục vạn tấn cá mỗi năm... ĐBSCL cũng được xem là nơi có nguồn thủy sản đáng kể.
b) Châu thổ sông Mê Công và Biển Hồ
Từ dưới Kratie, sông Mê Công chảy trong vùng đất thấp hạ lưu vực, có địa hình bằng phẳng, đôi khi hơi gợn sóng, với đa số độ dốc đều nhỏ hơn 2%. Đối với vùng này thì địa hình ven sông thấp và hình thành các bãi tràn thoát lũ rộng.
109 Tam giác châu của lưu vực Mê Công được xác định từ Phnom Penh cho đến biển Đông, diện tích chừng 60.000 km2. Chảy ra vùng biển với hai chế độ triều khác nhau bằng 8 cửa chính và nhiều kênh rạch nhỏ, Mê Công hình thành một vùng cửa sông có chế độ thủy văn-thủy lực cực kỳ phức tạp. Trừ một ít đồi cao vùng Bảy Núi, An Giang, nhìn chung phần đồng bằng châu thổ có địa hình bằng phẳng. Hạn chế thiên nhiên chính ở đây là ngập lũ, chua phèn, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt trong mùa khô.
Với diện tích lưu vực 85.000 km2, Biển Hồ là một hồ chứa nước tự nhiênnằm bên phải hạ dòng chính Mê Công, có hình dạng như một chiếc lá mà cuống là Tông Lê Sáp, với bề rộng trung bình (khi nước cao) khoảng 25 km và chiều dài hơn 100 km, hơi eo thắt ở gần cuống, có độ sâu chừng 10-30 m. Ngoại trừ hướng chảy ra theo Tonle Sap và vùng đối thấp hơn nằm dọc theo QL1 sang Thái Lan thuộc tỉnh Bat Dambang, bao quanh Biển Hồ là các dãy núi cao hầu hết thuộc đất Campuchia như dãy Dangrek ở phía Bắc và Tây-Bắc, dãy Núi Bà ở phía Nam và Tây-Nam.
Biển Hồ như là một lòng chảo nằm giữa lưu vực đóng vai trò điều tiết nước cho toàn châu thổ Mê Công.
Bảng 3.13. Kết quả tính toán lưu lượng (m3/s) mùa cạn trước khi vào Việt Nam của Viện Thuỷ văn Wallingford (Anh), 1994
Vị trí I II III IV V
Kratie 3.643 2.694 2.198 2.137 3.605
Prek Dam 3.658 1.534 661 371 102
Tổng vào ĐBSCL 7.301 4.228 2.859 2.508 3.705
Theo nghiên cứu, trong thời gian những năm từ 1985-1990, vào mùa kiệt hầu như yêu cầu dùng nước cho phát triển nông nghiệp của Campuchia không đáng kể.
Lưu lượng trung bình tháng IV vào ĐBSCL với tần suất 50% vào khoảng 2.400 m3/s.
Trong báo cáo của UBMK Việt Nam về “Nghiên cứu quản lý nguồn nước cho ĐBSCL của Việt Nam” (UNDP, VIE/ 97/010), thuộc chương trình phát triển Liên hợp quốc, trong phần “Ảnh hưởng của phát triển thượng lưu lên dòng chảy sông Mê Công vào Việt Nam” trình bày một mô hình cân bằng nước đơn giản dựa vào dòng chảy hàng tháng của từng năm một được phát triển để đánh giá sự gia tăng của việc dùng nước từ thượng lưu sông Mê Công và các nhánh của nó đến lưu lượng hàng tháng vào Việt Nam. Tuy nhiên, các tính toán trong báo cáo này chưa đề cập đến dòng chảy thực tế từ Campuchia vào Việt Nam khi chưa phân tích kỹ tác động điều tiết của Biển Hồ.
110 Hiện nay, tài liệu về mực nước và lưu lượng tại trạm Kratie do MRCs công bố đã được sử dụng rộng rãi với các nước hạ lưu sông Mê Công. Theo đó, từ mực nước quan trắc được, có phương trình đường quan hệ giữa mực nước- lưu lượng sẽ tính được lưu lượng, phương trình cụ thể như sau:
Q =44,5*(H-0,52) 2,28
Bảng 3.14. Kết quả tính lưu lượng (m3/s) mùa cạn ứng với P% tại Kratie
Đặc trưng I II III IV V VI
Số năm 40 40 40 40 40 40
Qbq 3.479 2.634 2.240 2.239 3.426 9.709 Cv 0,197 0,142 0,161 0,208 0,367 0,436 Cs 0,987 0,428 0,805 0,623 1,470 0,873 Q50% 3.325 2.607 2.185 2.194 3.151 9.205 Q75% 2.979 2.368 1.977 1.907 2.510 6.654 Q85% 2.848 2.248 1.884 1.768 2.254 5.460 Bảng 3.15. Lưu lượng lũ thiết kế tại Kratie (Mô hình lũ thiết kế năm 2000)
Tần suất (%) 1 % 2% 5% 10%
Qmax (m3/s) 59.500 56.500 52.400 48.800
c) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Chế độ thủy văn ở ĐBSCL chịu tác động trực tiếp của dòng chảy thượng nguồn, chế độ triều biển Đông, một phần của triều vịnh Thái Lan, cùng chế độ mưa trên toàn đồng bằng. Mùa lũ ở ĐBSCL bắt đầu chậm hơn so với thượng lưu một tháng và mùa mưa tại đồng bằng 2 tháng, vào khoảng tháng VI, VII và kết thúc vào tháng XI, XII, tiếp đến là mùa kiệt, thời gian mỗi mùa khoảng 6 tháng. Từ Phnom Penh ra biển, sông Mê Công đi vào ĐBSCL theo hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu, có chế độ thủy văn khác hẳn phần thượng lưu, do tác động của thủy triều từ biển. Nhờ điều tiết của Biển Hồ, dòng chảy vào ĐBSCL điều hòa hơn so với tại Kratie, với mùa lũ có lưu lượng trung bình vào Việt Nam khoảng 28.000-30.000 m3/s (tháng lớn nhất 32.000-34.000 m3/s) và mùa kiệt từ 3.000-5.000 m3/s (tháng kiệt nhất từ 2.200-2.500 m3/s).
Tỷ lệ phân phối lưu lượng từ Phnom Penh vào sông Tiền sông Hậu qua Tân Châu và Châu Đốc đóng vai trò rất quan trọng trong chế độ thủy văn, thủy lực toàn đồng bằng. Tỷ lệ trung bình cả năm là 83%/17% cho Tân Châu/Châu Đốc, khá ổn định, có xu thế thấp hơn trong mùa lũ (80%/20%) và cao hơn trong mùa kiệt (84- 86%/14-16%). Tỷ lệ này giữa hai nhánh Mê Công và Bassac ngay ngã rẽ ở Phnompenh còn chênh hơn rất nhiều. Xu thế phân phối dòng chảy vào hai nhánh
111 cho thấy lưu lượng vào ĐBSCL tăng hơn ở Tân Châu và ngược lại giảm đi đối với Châu Đốc. Tuy nhiên, khi vào sâu hơn trong đồng bằng, với sự điều tiết của Vàm Nao, dòng chảy 2 sông đã lập lại thế cân bằng. Với vị trí quan trọng, Vàm Nao được xem như là sông nối, với nhiệm vụ tiếp nước cho sông Hậu, phân phối lại dòng chảy giữa 2 sông Tiền và Hậu. Sau Vàm Nao, tỷ lệ phân phối giữa hai nhánh sông Mê Công là 51% cho sông Tiền và 49% cho sông Hậu (bảng 3.16-3.17).
Bảng 3.16. Lưu lượng trung bình và các tần suất tính toán tại Phnom Penh (m3/s) Tháng T.bình 10% 20% 50% 75% 80% 85% 90% 95%
I 7.786 9.218 8.681 7.731 6.935 6.859 6.515 6.431 6.104 II 4.609 5.517 5.180 4.572 4.125 4.019 3.900 3.752 3.544 III 3.182 3.637 3.471 3.169 2.900 2.883 2.790 2.743 2.631 IV 2.736 3.256 3.037 2.709 2.465 2.408 2.375 2.270 2.134 V 3.932 5.347 4.758 3.790 3.135 3.086 2.825 2.693 2.469 VI 10.202 14.41
5
12.722 9.875 7.945 7.509 6.950 6.417 5.642 Tài liệu thực đo lưu lượng tại Tân Châu, Châu Đốc và Vàm Nao từ 1996- 2011cho kết quả như bảng 3.17-3.18.
Bảng 3.17. Lưu lượng trung bình tại Tân Châu-Châu Đốc (m3/s)
Tháng Vị trí
Tân Châu Châu Đốc TC+CĐ Vàm Nao Mỹ Thuận Cần Thơ
I 6.339 1.364 7.703 2.528 3.811 3.892
II 4.113 772 4.885 1.631 2.482 2.403
III 2.572 483 3.055 1.078 1.494 1.561
IV 2.190 389 2.579 900 1.290 1.289
V 3.371 573 3.844 1.325 2.046 1.898
VI 7.209 1.440 8.649 2.725 4.484 4.165
VII 12.389 2.846 15.235 4.824 7.565 7.670
VIII 18.449 4.856 23.305 7.102 11.347 11.958
IX 20.142 5.855 25.997 8.355 12.848 13.149
X 19.214 5.755 24.969 7.773 12.356 12.613
XI 15.093 4.060 19.154 5.852 9.241 9.912
XII 10.225 2.511 12.736 3.956 6.269 6.467
Bảng 3.18. Lưu lượng trung bình tháng mùa cạn Tân Châu+Châu Đốc theo tần suất Tần suất
( %)
Tháng(m3/s)
I II III IV V VI
50 7.708 4.889 3.048 2.590 3.882 8.351
75 6.558 3.977 2.518 2.227 2.940 5.650
80 6.273 3.752 2.386 2.145 2.803 5.212
112 Tần suất
( %)
Tháng(m3/s)
I II III IV V VI
85 5.941 3.490 2.233 2.051 2.659 4.739
90 5.522 3.161 2.040 1.934 2.500 4.198
95 4.902 2.673 1.754 1.766 2.304 3.502
Chế độ thuỷ văn-thuỷ lực vùng ĐBSCL rất phức tạp. Sự kết hợp ở các mức độ khác nhau giữa lũ-mưa-triều và ngọt-chua-mặn đan xen, tạo nên các hình thái môi trường nước phong phú với các hệ sinh thái đa dạng, vừa là những tài nguyên to lớn và quan trọng, vừa là những hạn chế và trở ngại không nhỏ cho quá trình phát triển, mà để giải quyết từng vấn đề và cho từng khu vực cụ thể đã và sẽ gặp không ít khó khăn.
Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguồn theo không gian và thời gian, có thể chia ĐBSCL thành ba vùng thủy văn khác nhau là (a) vùng ảnh hưởng dòng chảy lũ là chính (phía Bắc đồng bằng, bao gồm 1 phần diện tích của hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, diện tích khoảng 300.000 ha); (b) vùng ảnh hưởng phối hợp lũ-triều (được giới hạn bởi sông Cái Lớn-rạch Xẻo Chít-kênh Lái Hiếu-sông Măng Thít-sông Bến Tre-kênh Chợ Gạo đến giới hạn vùng (a), với diện tích khoảng 1,6 triệu ha); và (c) vùng ảnh hưởng triều là chính (bao gồm toàn bộ vùng ven biển, với diện tích khoảng 2,0 triệu ha).
Mùa cạn ở ĐBSCL được tính từ tháng I-VI hàng năm (khoảng 6 tháng), với chế độ dòng chảy chịu ảnh hưởng sâu sắc của thủy triều, tuy thuận lợi trong tiêu và cấp nước, song nhưng ngoài biên độ dao động mực nước thủy triều giảm nhanh từ cửa sông (2,3-2,8 m) vào nội đồng (0,3-0,5 m), thì việc hình thành các giáp nước và sự cạn kiệt dòng chảy khi triều rút và kỳ triều kém cũng gây không ít trở ngại cho phát triển. Trong chu kỳ 15 ngày, những ngày triều cường là thời kỳ tích nước tạm thời trong kênh rạch nội đồng và làm tăng mực nước trung bình và ngược lại.
Ở ĐBSCL lũ lên xuống chậm, khá hiền hoà, cường suất lũ trung bình 10-15 cm/ngày, cao nhất cũng chỉ đạt 20 cm/ngày, biên độ toàn trận lũ chỉ từ 3-4 m và chênh lệch đỉnh lũ lớn-nhỏ cũng chỉ 0,5-1,0 m. Tốc độ truyền lũ chậm, từ Phnom Penh đến Tân Châu mất 3 ngày (200 km), từ Long Xuyên, Chợ Mới ra biển, nếu gặp triều cường, tốc độ truyền lũ lại càng chậm hơn. Biến động về thời gian và đỉnh lũ giữa các năm không lớn, tuy nhiên do đồng bằng bằng phẳng nên chỉ cần lũ lớn hơn bình thường là đã gây nên ngập lũ rộng và kéo dài. Lũ ở ĐBSCL, bình thường
113 chỉ có 1 đỉnh, xuất hiện vào cuối tháng IX, đầu tháng X, song loại 2 đỉnh cũng xuất hiện ở 1 số năm (1978, 2000...), thường vào năm lũ lớn.
Hàng năm, ĐBSCL bị ngập lụt với một diện tích rộng lớn ở phía Bắc do lũ sông Mê Công tràn về, với diện tích khoảng 1,2-1,4 triệu ha vào năm lũ nhỏ và 1,7- 1,9 triệu ha vào năm lũ lớn, với độ sâu từ 0,5-4,0 m và thời gian từ 3-6 tháng.
Lũ sông Mê Công chảy vào ĐBSCL theo dòng chính và từ các vùng ngập lụt Campuchia tràn xuống. Tổng lưu lượng đỉnh lũ trung bình khoảng 38.000 m3/s (ứng với mức nước Tân Châu 4,40 m và Châu Đốc 3,88 m), những năm lũ lớn có thể đạt 40.000-45.000 m3/s, trong đó qua dòng chính khoảng 32.000-34.000 m3/s (chiếm 75-80%), tràn biên giới từ 8.000-12.000 m3/s (chiếm 20-25%), trong đó vào TGLX 2.000-4.000 m3/s và vào ĐTM 6.000-9.000 m3/s. Trên dòng chính, lưu lượng qua Tân Châu 24.000-26.000 m3/s (chiếm 82-86%) và qua Châu Đốc 7.000-9.000 m3/s (chiếm 14-18%). Tổng lượng lũ vào ĐBSCL khoảng 350-400 tỷ m3, trong đó theo dòng chính 80-85%, tràn qua biên giới 15-20%. Đáng lưu ý là do có sự phân bố không đều dòng chảy lũ vào sông Mê Công và Bassac tại Phnom Penh mà luôn có sự chênh lệch mực nước lũ giữa sông Tiền tại Tân Châu và sông Hậu tại Châu Đốc. Trong cùng thời kỳ, mực nước tại Tân Châu thường cao hơn Châu Đốc khoảng 40-60 cm. Sự chênh lệch này là nguyên nhân xảy ra quá trình chuyển nước từ sông Tiền sang sông Hậu, ngay cả trước khi vào Tân Châu-Châu Đốc, qua kênh Xáng, và sau Tân Châu-Châu Đốc qua sông Vàm Nao. Từ Long Xuyên-Cao Lãnh đến tận Mỹ Thuận-Cần Thơ vẫn còn hiện tượng chuyển nước từ sông Tiền sang sông Hậu, tuy ở mức độ thấp hơn. Do có sự chuyển nước này mà tỷ lệ phân phối giữa sông Tiền/sông Hậu tại Mỹ Thuận-Cần Thơ là tương đối cân bằng (51%/49%).
Phần lớn lượng lũ ở ĐBSCL theo sông chính chảy ra biển Đông, một phần theo hệ thống kênh rạch thoát ra biển Tây và sông Vàm Cỏ qua 2 vùng ngập lụt chính là TGLX và ĐTM.
Lũ ở ĐBSCL có thể chia làm 3 thời kỳ. Thời kỳ đầu mùa lũ (tháng VII-VIII), nước lũ trên sông chính lên nhanh và theo các sông rạch chảy vào đồng để chứa đầy trong các ô ruộng. Trong thời kỳ này nước lũ mang nhiều phù sa, là nguồn bồi đắp chính cho nội đồng trong mùa lũ. Thời kỳ thứ 2 là khi nước lũ đã lên cao (Tân Châu vượt quá 4,0 m, Châu Đốc vượt quá 3,8 m), lũ vào ĐBSCL theo 2 hướng là từ sông chính xuống và từ biên giới Việt Nam- Campuchia sang. Dòng chảy tràn biên giới sau khi làm ngập và lắng đọng phần lớn phù sa ở các vùng ngập lụt Campuchia, bắt đầu tràn mạnh vào ĐTM, TGLX, lấn át dòng nước lũ giàu phù sa hơn từ sông Tiền,
114 sông Hậu vào đồng, làm giảm khả năng nhận thêm phù sa, tăng phì nhiêu cho các vùng này. Thời kỳ thứ 3 là thời kỳ lũ rút, thường bắt đầu từ hạ tuần tháng X khi dòng chảy tràn Campuchia đã giảm, mực nước lũ ĐBSCL xuống dần cho đến tháng XII thì đại bộ phận diện tích ở ĐTM và TGLX gần như hết ngập lụt.
Theo phân cấp lũ của Trung tâm KTTV Quốc gia, với mực nước tại Tân Châu dưới 4,0 m là lũ nhỏ, 4,0-4,5 m là lũ trung bình và trên 4,5 m là lũ lớn, tương ứng với tần số xuất hiện lũ nhỏ 13,2%, lũ trung bình 46,2% và lũ lớn 40,6%. Tài liệu thống kê cho thấy trong 60 năm qua, trung bình cứ 2 năm thì có 1 năm lũ vượt báo động cấp III (mực nước Tân Châu vượt 4,2 m). Trong khoảng thời gian 16 năm từ năm 1937-1952, mực nước các năm đều bằng hoặc vượt báo động cấp III. Đã có những thời kỳ xuất hiện 4 năm liên tục xẩy ra lũ lớn như các năm 1937-1940, mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu đều vượt 4,85 m, 1946-1949 mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu cùng vượt 4,6 m, 1994-1996 mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu cũng đều vượt 4,60 m và gần đây, từ 2000-2002, mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu vượt qua mức 4,75 m. Mực nước và lưu lượng đỉnh lũ tại Tân Châu, Châu Đốc của một số năm lũ lớn được trích trong bảng 3.19, hình 3.10-3.11.
Tuy nhiên, diễn biến lũ ĐBSCL những năm qua cho thấy lũ lớn chủ yếu gây thiệt hại về người và cơ sở hạ tầng, thì lũ nhỏ/cực nhỏ cũng gây không ít thiệt hại về nguồn thuỷ sản tự nhiên, bồi đắp phù sa, vệ sinh đồng ruộng và dòng chảy mùa cạn năm sau. Lũ nhỏ càng gây nên những tác động khó lường đối với ĐBSCL, một đồng bằng sống nhờ lũ và phát triển nhờ lũ.
Bảng 3.19. Mực nước, lưu lượng Max và thời gian xuất hiện trong một số năm lũ lớn
Năm Châu Đốc Tân Châu
H (cm) Ngày Q (m3/s) Ngày H (cm) Ngày Q (m3/s) Ngày 1978 449 13/X 7.160 03/IX 494 09/IX 25.900 23/VIII 1991 427 16/X 7.590 13/IX 464 13/IX 24.300 10/IX
1994 423 03/X 7.097 03/X 450 04/X 23.243 14/IX
1996 454 06/X 8.150 04/X 487 05/X 23.600 01/X
2000 490 23/IX 7.660 22/IX 506 23/IX 25.500 25/VII 2001 448 23/IX 7.160 19/IX 478 20/IX 23.800 19/IX 2002 442 01/X 6.730 30/VIII 482 30/IX 24.700 27/VIII 2003 350 29/IX 5.270 27/IX 406 28/IX 18.600 25/IX 2004 401 30/ IX 6.750 28/IX 440 29/IX 20.250 27/IX 2005 390 21/IX 6.560 18/IX 435 20/IX 21.990 17/IX
2006 370 19/X 6.350 18/X 417 18/X 20.670 14/X
2007 356 24/X 6.470 24/X 406 23/X 21.100 15/X