Đặc điểm khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Một phần của tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biển đổi tài nguyên nước Đồng Bằng Sông Cửu Long (Trang 92 - 103)

CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long

3.2.3. Đặc điểm khí hậu

3.2.3.2. Đặc điểm khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

d) Đặc điểm chung

ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với quanh năm nóng ẩm, nền nhiệt độ cao và ít thay đổi trong năm, số giờ nắng cao và mưa phân biệt thành hai mùa rõ rệt. Hàng năm, toàn vùng ảnh hưởng chung bởi hai mùa gió chính là gió mùa Đông-Bắc, thổi từ tháng XI/XII đến tháng IV/V năm sau, gió mùa Tây-Nam, thịnh hành từ tháng V/VI đến tháng X/XI. Gió mùa Tây-Nam đóng vai trò quan trọng trong biến trình khí hậu trong toàn vùng nhờ độ ẩm cao, gây mưa lớn và liên tục trong suốt mùa mưa. Thời gian xuất hiện và cường độ ảnh hưởng của gió mùa quyết định tình hình khí hậu trong từng năm. Nếu như phía Bắc nước ta, sự thay đồi trong năm của nhiệt độ đã tạo nên 4 mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông một cách rõ ràng, thì ở Nam Bộ, chế độ mưa lại quyết định sự phân mùa cho toàn vùng. Nhìn chung, mùa mưa trùng với mùa gió Tây-Nam, từ tháng V-XI, kéo dài 6-7 tháng, và mùa khô trùng với mùa gió mùa Đông-Bắc, từ tháng XII-IV năm sau, cũng kéo dài 5-6 tháng.

91 Nhiệt độ trung bình tháng trong toàn vùng thay đồi từ 25,3-27,0oC, khá đều theo không gian và thời gian. Nhiệt độ cao thường rơi vào tháng IV-V, từ 27,9- 28,7oC, và nhiệt độ thấp thường nằm trong khoảng từ tháng XII-I, từ 25,2-25,9oC.

Nhiệt độ tối thấp ít khi xuống dưới 20oC và nhiệt độ tối cao cũng hiếm khi vượt quá 38oC.

Vùng ĐBSCL có số giờ nắng rất cao, từ 2.200-2.400 giờ mỗi năm, trung bình 6-7 giờ mỗi ngày. Mùa khô, hàng ngày có đến xấp xỉ 8 giờ nắng.

Hàng năm, toàn vùng ĐBSCL có lượng bốc hơi trên ống Piche trung bình từ 1.000-1.300 mm, những ngày nắng gắt có thể đạt 4-5 mm/ngày. Vùng ven biển và hải đảo thì lượng bốc hơi trực tiếp từ mặt nước thoáng còn lớn hơn nhiều, đạt từ 1.200-1.600 mm. Nhiều nơi, nếu cân bằng với lượng mưa trong năm, thì lượng bốc hơi còn nhiều hơn. Nếu cân bằng trong từng tháng, ta thấy chỉ có các tháng VII-X là lượng mưa hầu hết các nơi vượt cao hơn lượng bốc hơi, theo tiêu chuẩn của FAO thì đây là thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm.

ĐBSCL có độ ẩm tương đối của không khí cao, từ 78-82%. Độ ẩm cao nhất lên đến 100% có được trong các trận mưa lớn và độ ẩm thấp nhất cũng còn trên dưới 50%.

Hàng năm, lượng mưa trung bình toàn ĐBSCL vào khoảng 1.400-1.800 mm,vùng ven biển Tây của ĐBSCL lượng mưa lớn hơn (2.000-2.400 mm), ven biển Đông lượng mưa có xu thế nhỏ (1.400-1.600 mm). Tháng VIII-X là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm, thường đạt từ 250-300 mm mỗi tháng. Tháng I-III là các tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, thường là không mưa hoặc mưa không đáng kể. Số ngày mưa trong năm đạt từ 100-140 ngày mưa, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, với 15-20 ngày mỗi tháng.

ĐBSCL nhìn chung rất ít bão. Theo thống kê bão đổ bộ vào bờ biển Đông trong gần 100 năm qua, chỉ khoảng 30% số trận bão là có ảnh hưởng đến vùng biển Nam Bộ, trong đó không quá 10% đổ bộ trực tiếp. Ở ĐBSCL, các trận bão và mạnh lên của gió mùa Tây-Nam gây nên mưa và lũ lớn là năm 1934, 1937, 1947, 1961, 1966, 1978, 1984, 1991,1994, 1996 và 2000. So với phía Bắc và miền Trung, bão ảnh hưởng đến Nam Bộ chậm hơn, thường là từ tháng X trở đi, đôi khi đến tận tháng XII. Tuy nhiên, mưa bão gây lũ ở ĐBSCL lại do bão ảnh hưởng vào vùng trung-hạ Lào nên thường xẩy ra vào khoảng tháng VIII-IX.

e) Đặc điểm khí hậu

92 Khí hậu ĐBSCL mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo, có hai mùa gió chủ yếu là gió mùa Tây-Nam và gió mùa Đông-Bắc.

Hoàn lưu khí quyển trong gió mùa Đông-Bắc dưới tác động của các trung tâm tác động khí quyển ở lớp biên khí quyển (trung bình đến 1.500 m) bao gồm trung tâm áp cao Xi-bê-ri, và trung tâm áp thấp châu Úc, tạo nên dòng không khí, xuất phát từ TTAC Xi-bê-ri đến vùng hút gió của TTAT châu Úc, khống chế trên ĐBSCL. Dòng không khí này có hướng từ Đông Bắc mà ta gọi là gió mùa Đông bắc. Mùa gió này thường bắt đầu từ tháng IX năm trước đến hết tháng IV năm sau.

Do cơ chế giáng động không khí của Hoàn lưu khí quyển (HLKQ), gió mùa Đông- Bắc nên ở ĐBSCL hình thành một mùa khô cạnrõ rệt.

Hoàn lưu khí quyển trong gió mùa Tây-Nam có hình ảnh hoàn toàn ngược lại so với gió mùa Đông-Bắc, dòng không khí xuất phát từ vùng thoát gió của TTAC châu Úc đến trung tâm áp thấp hút gió châu Á qua ĐBSCL tạo nên gió mùa Tây- Nam bắt đầu từ tháng V, kết thúc vào tháng IX đầu tháng X.

Trong năm, mặt trời qua thiên đỉnh 2 lần vào tháng IV và tháng VIII. Vị trí độ cao của mặt trời trong hai tháng này khoảng từ 85-90o và thấp nhất vào tháng XII, khoảng từ 52-57o. Độ dài ban ngày dài nhất vào tháng VI, khoảng từ 12 giờ 32 phút đến 12 giờ 38 phút và ngắn nhất vào tháng XII, khoảng từ 11 giờ 22 phút đến 11 giờ 28 phút.

f) Đặc điểm bức xạ và nắng

Những đặc điểm về độ cao mặt trời và độ dài ban ngày như trên đã tạo nên ở ĐBSCL một chế độ bức xạ dồi dào và ổn định. Tổng lượng bức xạ dao động trong khoảng từ 370-490 cal/cm2ngày hay 10,2-15,4 kcal/cm2tháng và 144-154 kcal/cm2năm. Cán cân bức xạ khoảng từ 4,5-9,7 kcal/cm2tháng, từ 80/100 kcal/cm2năm.

Trong mùa gió Đông-Bắc, bức xạ tổng cộng trung bình cùng với số giờ nắng trung bình ngày đạt trị số lớn hơn so với trong mùa gió Tây-Nam. Trị số trung bình lớn nhất của bức xạ tổng cộng và số giờ nắng xảy ra trong tháng III tương ứng là 462 calo/cm2 ngày và 9h10’/ngày. Ngược lại, lượng mây tổng quan có biến trình mang trị số thấp trong mùa gió Đông-Bắc so với mùa gió Tây-Nam. Trong năm có đến trên 35% số ngày trời đầy mây và từ 45-55% số ngày có mưa. Từ tháng I-III, lượng mây tổng quan nhỏ nhất đạt từ 40-60% bầu trời trong ngày. Tháng II và III có số giờ nắng nhiều nhất đạt đến 8-9 giờ/ngày. Những tháng còn lại thì ít hơn,

93 tháng VII-VIII đạt trên dưới 6 giờ/ngày. Tháng IX có số giờ nắng ít nhất, chỉ đạt khoảng trên dưới 5 giờ/ngày. Các trạm có số giờ nắng cao như Cao Lãnh, Mộc Hóa, Mỹ Tho và Châu Đốc (lơn hơn 2700 giờ/năm)

Bảng 3.4. Tổng số giờ nắng trung bình (giờ)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tri 252 265 300 265 227 148 193 175 169 178 209 207 2.587 Càng Long 257 271 309 272 216 158 201 170 165 181 215 218 2.633 Sóc Trăng 245 257 272 247 184 149 170 158 146 165 201 206 2.400 Bạc Liêu 245 262 314 270 209 141 191 162 160 172 197 201 2.523 Cà Mau 237 235 252 225 172 142 160 150 146 156 186 201 2.212 Rạch Giá 233 222 241 234 204 167 178 162 164 179 201 224 2.409 Cao Lãnh 276 282 301 276 229 180 211 183 189 189 222 267 2.811 Mộc Hóa 276 276 295 255 226 189 214 186 198 205 234 270 2.847 Châu Đốc 267 273 285 243 220 177 205 183 183 189 216 260 2.738 Mỹ Tho 279 291 313 285 229 192 208 195 186 183 210 251 2.847

g) Đặc điểm nhiệt độ không khí

Dưới tác động của nguồn năng lượng bức xạ phong phú và ít biến động, hoàn cảnh địa lý, hoạt động của các hoàn lưu khí quyển châu Á và Đông-Nam Á, ở ĐBSCL có chế độ nhiệt độ cao và ổn định. Nhiệt độ không khí khá cao, trung bình ngày trong cả năm ở ĐBSCL đạt khoảng 27oC, tổng nhiệt độ trung bình của cả năm là 9.8oC, ổn định không những trong từng năm mà cả nhiều năm. Biên độ nhiệt độ trung bình năm ở khu vực dao động trong khoảng 2-3oC và sự dao động cùng thời gian giữa các năm cũng chỉ khoảng 2-3oC. Biên độ nhiệt độ lớn nhất trong năm (hiệu số nhiệt độ trung bình của tháng có trị số lớn nhất so với tháng có trị số thấp nhất) chỉ lệch nhau có 3,4oC.

Nói chung, vùng phía Đông có nhiệt độ không khí trung bình năm thấp hơn vùng ven biển và vùng Tây-Nam khoảng 0,4oC trở lên (trừ Vũng Tàu), giá trị trung bình năm cao nhất là 27,6oC tại Rạch Giá và thấp nhất là 26,7oC tại Cà Mau.

Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng phổ biến từ 28-34oC. Tháng IV có nhiệt độ cao nhất trung bình cao nhất trong năm, tháng XII có nhiệt độ cao nhất trung bình thấp nhất. Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng phổ biến từ 31-38oC, tháng IV có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao nhất trong năm, tháng XII có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thấp nhất. Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng phổ biến từ 22-26oC. Tháng I là tháng có nhiệt độ thấp nhất trung bình nhỏ nhất

94 trong năm, tháng V có nhiệt độ thấp nhất trung bình cao nhất. Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày trung bình từ 6-10oC (bảng 3.5).

Bảng 3.5. Nhiệt độ không khí trung bình (oC)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Ba Tri 25,4 25,8 27,1 28,5 28,3 27,5 27,2 26,9 26,7 26,7 26,5 25,4 26,8 Càng Long 25,2 26,0 27,3 28,3 28,2 27,2 26,9 26,7 26,9 26,7 26,4 25,3 26,8 Sóc Trăng 25,1 25,9 27,2 28,4 28,0 27,3 27,1 27,0 26,9 26,8 26,4 25,6 26,8 Cần Thơ 25,3 25,8 27,1 28,3 27,8 27,1 26,8 26,6 26,5 26,6 26,4 25,2 26,6 Cao Lãnh 25,4 25,9 27,4 28,7 28,2 27,5 27,2 27,1 27,3 27,2 26,7 25,5 27,0 Châu đốc 25,5 25,9 27,0 28,4 27,9 27,4 27,3 27,3 27,2 27,2 26,9 25,7 27,0 Mộc Hóa 25,9 26,2 27,3 28,7 28,4 27,6 27,3 27,3 27,6 27,6 27,1 26,0 27,3 Mỹ Tho 25,3 25,7 27,1 28,6 28,4 27,5 27,0 26,8 26,7 26,5 26,0 25,2 26,7 Bạc Liêu 25,2 26,3 27,6 28,5 28,2 27,2 27,1 26,7 26,6 26,5 26,3 25,5 26,8 Cà Mau 25,1 25,8 26,8 27,9 27,7 27,3 27,1 27,0 26,9 26,7 26,3 25,5 26,7 Rạch Giá 26,0 27,0 28,2 29,0 28,9 28,2 28,1 27,8 27,8 27,7 27,1 25,9 27,6

h) Đặc điểm độ ẩm không khí

Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm đều từ 74% trở lên. Các tháng II-IV có độ ẩm tương đối trung bình thấp trong năm, các tháng IX, X có giá trị này cao nhất trong năm (bảng 3.6).

Bảng 3.6. Độ ẩm không khí trung bình (%)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tri 78 79 78 79 82 85 85 86 87 87 85 82 83

Càng Long 80 76 78 78 84 87 86 87 88 87 84 82 83

Sóc Trăng 78 77 75 77 84 87 86 88 88 87 85 81 83

Cần Thơ 81 80 79 80 85 87 88 89 90 89 85 83 85

Cao Lãnh 82 81 78 78 84 86 87 87 86 86 82 81 83

Châu Đốc 79 80 77 77 83 85 84 85 85 84 80 78 82

Mộc Hóa 77 77 77 76 82 85 85 85 84 83 79 76 81

Mỹ Tho 79 79 79 79 83 85 85 86 86 87 85 82 83

Bạc Liêu 80 79 78 77 84 86 87 88 89 90 87 83 84

Cà Mau 81 80 79 80 85 87 87 87 88 88 87 84 84

Rạch Giá 77 76 76 78 83 85 85 86 85 84 82 80 81

i) Đặc điểm gió

95 Gió cũng là một yếu tố biến động rất lớn trong từng ngày, ở từng nơi trong khu vực. Ở ĐBSCL có hai mùa gió: Gió mùa Tây-Nam và gió mùa Đông-Bắc, tương ứng với hai mùa gió có hai mùa khí hậu rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Ở ĐBSCL do điều kiện địa hình, tạo nên chế độ gió khá đồng nhất theo mùa.

Mùa hè thịnh hành gió Tây-Nam. Mùa đông ngược lại, thịnh hành gió Đông-Bắc đến Đông. Giữa 2 mùa là thời gian chuyển tiếp. Trong từng địa phương nhỏ, sự phân bố về cường độ gió có sự khác biệt nhau đáng kể.

Tốc độ gió trung bình tháng, các tháng gió mùa Đông-Bắc thường lớn hơn các tháng gió mùa Tây-Nam. Tốc độ gió trung bình tháng nhỏ nhất là vào các tháng chuyển tiếp mùa với giá trị 0,8 m/s vào tháng V tại Cà Mau và vào tháng X tại Sóc Trăng (bảng 3.7).

Gió mạnh nhất vào mùa gió Đông-Bắc thường có hướng Đông, còn vào mùa gió Tây-Nam thường có hướng Tây-Nam. Về tốc độ, ngược với tốc độ gió trung bình, tốc độ gió mạnh nhất mùa gió Tây-Nam lớn hơn mùa gió Đông-Bắc, do đó gió mạnh nhất cả năm dọc vùng ĐBSCL đều là gió mùa Tây-Nam.

Đối với gió cả ngày (quan trắc lúc 1h, 7h, 13h và 19h hàng ngày), từ tháng X đến tháng IV năm sau (mùa gió mùa Đông-Bắc và chuyển tiếp), các hướng gió có tần suất cao là hướng Bắc (N), Đông-Bắc (NE), Đông (E) và Đông-Nam (SE).

Trong đó, thịnh hành là hướng Đông; với tần suất tăng dần từ tháng X đến tháng II rồi giảm dần; tất cả đều có tần suất trên 15%. Trong các tháng I-IV, hướng gió Đông-Nam có tần suất khá (trên 10%). Các tháng đầu mùa gió và vùng Đông-Bắc có tần suất lặng gió lớn hơn các tháng cuối mùa gió và vùng phía Tây-Nam. Từ tháng V đến tháng IX (mùa gió mùa Tây-Nam), các hướng gió thịnh hành là hướng Nam (S), Tây-Nam (SW) và Tây (W).

Đối với gió cực đại ngày, vào mùa gió Đông-Bắc, từ tháng XI-IV, gió có các hướng Đông-Bắc và Đông là chủ yếu, với tần suất tăng từ tháng XI-I/II rồi giảm dần đến tháng IV. Phía Đông-Bắc vùng ven biển, hướng Đông có tần suất cao hơn hướng Đông-Bắc trong suốt mùa gió. Phía Nam và Tây-Nam, hai tháng XI và XII, hướng Đông-Bắc có tần suất cao hơn, từ tháng I đến cuối mùa gió, hướng Đông cao hơn. Vào mùa gió Tây-Nam, từ tháng V-X, hướng Tây-Nam và Tây là chủ yếu. Tại vùng phía Đông Bắc, tần suất gió hai hướng này xấp xỉ hoặc hướng Tây trội hơn, còn ở vùng phía Nam, hướng Tây-Nam trội hơn.

Bảng 3.7. Tốc độ gió trung bình (m/s)

96 Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Cần Thơ 1,6 1,8 1,5 1,2 1,0 1,5 1,4 1,8 1,1 0,9 1,1 1,2 1,4

Ba Tri 2,8 3,5 3,2 2,5 1,5 2,3 2,0 2,4 1,6 1,5 1,9 1,9 2,3 Càng Long 2,2 3,0 2,4 1,9 1,5 2,1 2,1 2,8 1,9 1,6 1,7 1,6 2,1 Châu Đốc 1,1 1,1 1,4 1,5 1,5 1,6 1,7 2,0 1,7 1,6 1,9 1,6 1,6 Cao Lãnh 1,1 1,3 1,5 1,4 1,2 1,5 1,2 1,7 1,1 1,1 1,3 1,3 1,3 Mộc Hóa 1,5 1,6 1,8 1,6 1,5 1,9 1,7 2,0 1,6 1,5 1,6 1,6 1,7 Mỹ Tho 2,1 2,9 2,5 2,0 1,6 2,0 1,8 2,3 1,6 1.3 1,3 1,2 1,9 Sóc Trăng 1,6 2,2 2,1 1,6 1,1 1,5 1,5 1,9 1,1 0,8 1,1 1,2 1,5 Bạc Liêu 2,3 3,1 2,5 1,9 1,4 2,0 1,8 1,7 1,4 1,2 1,6 1,8 1,9 Cà Mau 1,5 1,8 1,6 1,2 0,8 1,1 1,1 1,4 0,9 1,0 1,4 1,4 1,3 Rạch Giá 1,4 2,0 2,3 2,2 2,5 3,4 3,6 3,9 2,4 1,6 1,2 1,4 2,3 Về tốc độ gió, mùa gió Đông-Bắc có tốc độ từ 1-5 m/s là chủ yếu, với tần suất trên 90% trong suốt mùa gió. Tuy nhiên, vào mùa Đông-Bắc, gió khống chế ở bề mặt ĐBSCL không mang hướng gió chính Đông-Bắc mà chuyển thành Đông hoặc Đông- Đông-Nam, gần như thẳng góc với bờ biển phía Đông ĐBSCL. Đây là loại gió địa phương gọi là “gió chướng”. Vận tốc gió chướng trung bình là 5 m/s, ngoài khơi phía Đông ĐBSCL vận tốc gió chướng rất lớn, trung bình đạt tới 10 m/s, lúc mạnh có thể lên tới 15-20 m/s. Do gió chướng với vận tốc khá lớn từ biển thổi vào trùng hướng các sông lớn ĐBSCL tạo nên những đợt sóng rất cao, kết hợp với triều cường hình thành hiện tượng gió chướng, nước dâng làm mặn xâm nhập sâu hơn vào ĐBSCL. Độ cao nước dâng có xu thế tăng từ tháng I-III/IV, từ Vàm Kinh (28 cm) đến Mỹ Thanh (44 cm).

Giá trị độ cao nước dâng cực đại tuyệt đối vào các tháng III và IV tại hầu hết các trạm đều xảy ra cùng ngày 20/3/1988 và ngày 15/4/1988 (bảng 3.8).

Bảng 3.8. Độ cao nước dâng trung bình (cm) tại các đỉnh triều cao Tháng Vàm

Kinh

Bình Đại

An Thuận

Bến Trại

Đại Ngãi

Mỹ Thanh

Gành Hào

I 18 20 21 20 18 45 27

II 19 20 22 21 19 54 21

III 18 23 23 26 18 57 27

IV 18 23 23 23 21 46 21

V 20 24 25 23 21 48 25

j) Đặc điểm mưa:

Ngược với sự ổn định và điều hòa của nhiệt độ và bức xạ, mưa là một trong những yếu tố khí hậu có sự biến động nhất định theo thời gian và không gian. Mưa

97 là tài nguyên nước mặt rất quan trọng ở ĐBSCL. Phân bố lượng mưa theo thời gian và không gian liên quan trực tiếp đến cân bằng và sử dụng nguồn nước phục vụ chiến lược phát triển bền vững nguồn nước ĐBSCL.

Sự biến động mưa theo thời gian dài năm và trong năm:

Ở ĐBSCL, các trạm mưa được bố trí khá đều khắp song số năm quan trắc lại không đồng bộ. Hàng năm ĐBSCL có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng V-XI và mùa khô từ tháng XII-IV. ĐBSCL có lượng mưa năm phong phú và không biến động nhiều. Theo không gian vùng, lượng mưa trung bình năm thay đổi từ 1.300- 2.300 mm. Vùng Tây-Nam trên đất liền tại Cà Mau là 2.417 mm. Lượng mưa năm giảm dần về phía Đông-Bắc và trong nội đồng (như tại Bạc Liêu 1.942 mm, Sóc Trăng 1.879 mm…) và hình thành một vùng khá rộng lớn suốt từ ven biển chạy dọc theo sông Tiền có lượng mưa năm trung bình chỉ trên dưới 1.350 mm (như tại Mỹ Tho 1.385 mm, Châu Đốc 1.303 mm, Cao Lãnh 1.461 mm, Cần Thơ 1.636 mm…

Theo không gian, lượng mưa năm biến đổi khá rõ. Khu vực phía Tây có lượng mưa lớn nhất so với toàn ĐBSCL (1.900-2.400 mm), giảm dần vào vùng trung tâm (1.350-1.400 mm), sau đó tăng trở lại ở phía Đông (1.600-1.800 mm) (hình 3.7).

Lượng mưa trung bình mùa mưa chiếm khoảng 90-92% tổng lượng mưa năm, còn lượng mưa trung bình mùa khô chỉ có 8-10%. Phân tích tài liệu ở những trạm cho thấy trong những năm gần đây, có xu thế là lượng mưa trong mùa khô giảm đi và lượng mưa lớn, mưa bão có chiều hướng tăng lên.

Tổng lượng mưa năm ở ĐBSCL ứng với tần suất 75% thường đạt từ 1.200- 1.400 mm trở lên. Nơi có lượng mưa ứng với suất bảo đảm 75% lớn nhất là vùng Cà Mau-Rạch Giá đạt từ 1.800-2.000 mm trở lên, từ 1.300 mm trở lên chỉ có khoảng 30% số trạm và có nơi như Gò Công chỉ đạt từ 900-1.000 mm (bảng 3.9).

Số ngày mưa trung bình năm ở ĐBSCL là trên 120 ngày. Khu vực phía Tây có số ngày mưa lớn hơn (160-168 ngày) và giảm dần vào trung tâm (100-120 ngày), sau đó tăng trở lại ở phía Đông (130-145 ngày).

Bảng 3.9. Tổng lượng mưa trung bình (mm)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XI

I Năm Ba Tri 6 1.4 4.9 61.1 177.2 221.4 216.2 197.1 235.5 274.3 104.5 27.7 1527 Cần Thơ 9 2 15.

1 41.3 172.

2

204.

9 225.

5

227.

7

243.

9

301.

5 154.

2 38.

4 1636

LXuyên 10,0 3,0 10,0 74,0 166,0 170,0 199,0 188,0 228,0 261,0 128,0 31,0 1496 Sa Đéc 7,0 3,

0 6,0 26,0 164, 0

194, 0

180, 0

193, 0

206, 0

256, 0

140, 0

27,

0 1402

98 Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XI

I Năm Vĩnh

Long 9,0

2,

0 9,0 30,0 139, 0

171, 0

181, 0

176, 0

214, 0

273, 0

131, 0

30,

0 1364

Châu Đốc 8 3.

8 17.

5 81.9 157.

2

114.

1 136.

4

166.

7

165.

7

263.

8 145.

1 43.

3 1303

Cao Lãnh 12.8 6.5 21.9 65.7 145.

1

158.

8 176.

3

180.

3

244.

2

275.

6 135.

9 37.

5 1461

Bến Tre 3,0 1,0 4,0 23,0 185,0 207,0 176,0 199,0 223,0 298,0 100,0 32,0 1448 Mỹ Tho 5.7 1.7 6.1 43.7 153.9 198.8 174.7 190.1 223 257 97.7 32.9 1385 Tân An 3,0 4,0 8,0 33,0 165,0 199,0 191,0 204,0 254,0 274,0 152,0 27,0 1512 Mộc Hóa 14 6.

7 14.

5 58.5 175.

3

172.

1 186.

1

177.

7

251.

8

313.

9 154.

8 43.

4

1568.

9

CàngLon g 2.2

4.

2 15.

3 50.9 192.

9

212.

5 221.

4

240.

5

254.

8

292.

3 131.

7 40.

7

1659.

3

Sóc

Trăng 8

2.

4 11.

6 61.7 225.

6

263.

4 256.

4

287.

5 273 305.

7 149.

2 35 1879.

5

Bạc Liêu 7.9 3.

6 13.

2 53.8 199.

3

286.

2 271.

8

281.

4

291.

1

309.

1 180.

5 44.

6

1942.

5

Cà Mau 20 13 30.2 108.7 254.2 333.8 339.7 356.9 349 358.8 192.7 60.2 2417.5 Rạch Giá 12 9,9 35.4 89.5 245.9 279.3 325.4 357 305.8 296.7 172.6 44.3 2173.6

Hình 3.7.Bản đồ phân bố mưa năm ở Đồng bằng sông Cửu Long

Số ngày mưa trung bình tháng trong các tháng giữa mùa mưa (VI–X) trên vùng ĐBSCL nói chung là xấp xỉ nhau, trừ vùng ven biển phía Đông (như Ba Tri)

99 cóít hơn nhưng cũng từ 14 ngày trở lên. Số ngày mưa trung bình tháng cao nhất là 23 ngày vào tháng IX tại Càng Long. Số ngày mưa trung bình năm cao nhất 167 ngày tại Cà Mau và thấp nhất 97 ngày tại Ba Tri. Đặc điểm này phù hợp với sự phân bố lượng mưa theo không gian, nơi có số ngày mưa nhiều thì lượng mưa tháng và năm đều lớn và ngược lại. Vùng ĐTM và kẹp giữa sông Tiền-sông Hậu cũng là vùng có số ngày mưa trung bình nhỏ nhất như Bến Tre 113, Cao Lãnh 112, Tân An 113, Sa Đéc 114 và Châu Đốc 118 ngày. Trong số những ngày mưa nói trên, có đến gần 85% số ngày có lượng mưa dưới 25 mm/ngày và chỉ có khoảng 5% số ngày mưa có lượng mưa trên 50 mm/ngày, rất ít xảy ra lượng mưa trên 100 mm/ngày.

Trong thực tế, sự phân bố mưa theo thời gian và không gian không ổn định.

Chỉ có tháng IX là tháng có số ngày mưa nhiều và lượng mưa cao (từ 200-350 mm) và ổn định nhất (dao động từ 15-25 ngày). Tháng I-II là hai tháng ít mưa nhất và được coi là hai tháng ổn định của mùa khô. Khoảng 9-10 tháng còn lại trong năm đều có sự biến động nhất. Nhưng dù mùa mưa hay mùa khô, cả mùa hay từng tháng, và dù xét yếu tố nào trên đây, thì vùng phía Tây-Nam cũng có những giá trị lớn hơn so với vùng phía Đông-Bắc.

Sự biến động về thời gian bắt đầu và kết thúc mưa:

Trong đó đáng chú ý là thời kỳ bắt đầu mùa mưa. Nhìn chung ởĐBSCL, mùa mưa thường bắt đầu vào đầu tháng V, nhưng vùng ven biển Rạch Giá, Cà Mau mưa đến sớm nhất, vào cuối tháng IV, những nơi khác lần lượt từ đầu đến giữa tháng V.

Riêng Gò Công và vùng lân cận đến cuối tháng V có khi sang đầu tháng VI mới bắt đầu mùa mưa. Thời kỳ bắt đầu mùa mưa xảy ra sớm trong nửa đầu tháng V ở phía Tây ĐBSCL, tương đối phù hợp với thời kỳ bắt đầu mùa gió Tây-Nam ở đây. Sau đó thời kỳ bắt đầu mùa mưa muộn dần về phía Đông và muộn nhất từ sau ngày 20/V xảy ra tại Mộc Hóa, Vĩnh Long và Gò Công do năng lượng ẩm trong trường gió Tây-Nam cung ứng cho phía Tây trước và giảm đi khi đến phía Đông ĐBSCL.

Khi kết thúc mùa mưa thì ngược lại. Những nơi bắt đầu mùa mưa muộnthì kết thúc muộn, thông thường vùng Gò Công kết thúc mùa mưa vào khoảng giữa tháng X, trong khi vùng ven biển Cà Mau, Rạch Giá mãi đến giữa tháng XI, có năm sang đầu tháng XII mới kết thúc mùa mưa.

Ở những vùng xa nguồn nước ngọt sông Mê Công và các biện pháp công trình dẫn nước rất khó thực hiện như Nam Cà Mau, U Minh Thượng và U Minh Hạ thì lợi dụng và kéo dài thời gian mùa mưa và lượng mưa lớn là rất quan trọng và

Một phần của tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biển đổi tài nguyên nước Đồng Bằng Sông Cửu Long (Trang 92 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(496 trang)