CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC
2.2. Các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
a. Các nghiên cứu của nước ngoài về ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long là phần cuối cùng của sông Mecông, là con sông quốc tế có chiều dài sông chính hơn 4.800 km, có nhiều sông nhánh chằng chịt, chảy trên lãnh thổ của sáu quốc gia: Trung quốc, Myanma, Lào, Thái lan, Campuchia và Việt Nam. Tổng lượng nước trung bình hàng năm của lưu vực ước tính khoảng 500tỷ m3. Với tiềm năng tài nguyên nước phong phú nên sự phát triển kinh tế đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn vùng. Song song với quá trình phát triển đã có rất nhiều các nghiên cứu, đánh giá nhằm mục đích đưa ra hướng phát triển bền vững cho toàn vùng.
Các nghiên cứu ở Ủy hội Mê công quốc tế
Đã có nhiều nghiên cứu ở Ủy hội Mê Công Quốc tế (UHMCQT) ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Liên quan đến đề tài này, chủ yếu là dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn, có một số công trình/ dự án nghiên cứu sau đây:
- Vào những năm 1960, các công trình nghiên cứu về lũ ĐBSCL (SOGREAH).
46 - Vào những năm 1990, UHMCQT đã cho nghiên cứu về xâm nhập mặn ở ĐBSCL, chủ yếu là phục vụ cho các dự báo xâm nhập mặn. Tuy đã rất cố gắng nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế, các kết quả dự báo chỉ mang tính tham khảo.
- Cũng vào những năm 196, UHMCQT đã cho nghiên cứu về cải tạo đất chua phèn ở ĐBSCL. Biện pháp sử dụng nguồn nước ngọt để thau rửađã được khẳng định là hiệu quả song việc tạo nguồn nước ngọt lại là một vấn đề nan giải.
Một số chương trình nghiên cứu gần đây và hiện nay
Chương trình WUP (Chương trình sử dụng nước – Water Utilization Programme) của UHMEQT, đã phát triển xong bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định (DSF) và dung chính thức cho Ủy hôi , nghiên cứu dòng chảy kiệt , các chỉ tiêu đánh giá dòng chảy kiệt. Rồi từ đó căn cứ vào Hiệp định Mê Công 1995 để đề xuất cơ chế quản lí, theo dõi dòng chảy của sông Mê Công, đảm bảo phát triển bền vững lưu vực. Nghiên cứu đã đạt được kết quả về diễn biến dòng chảy cạn trênsông chính, đề xuất giải pháp riêng cho Việt nam trong các trường hợp cạn.
Chương trình BDP (Chương trình quy hoạch lưu vực - Basin Development Programme) của UHMCQT, giai đoạn 1 (2002-2006) đã xem xét và đánh giá ban đầu về hiện trạng phát triển của lưu vực về nông nghiệp, thủy sản, giao thong thủy điên, thủy văn, tập hợp các dự án phát triển của các quốc gia làm cơ sở cho định hướng quy hoạch phát triển lưu vực một cách bền vững. Đây là căn cứ cho việc xem xét các phương án phát triển thượng lưu của đề tài.
Chương tình môi trương (EP): Chương trình chủ yếu theo dõi và đánh giá về chất lượng và môi trường nước, chủ yếu trêndòng chính và một số sông nhánh.
Dự án Đánh giá tác động môi trường của dự án giao thông thủy thượng lưu Mê công, sử dụng phần mềm tính toán do Đại học Vũ Hán lập, đã nghiên cứu tác dộng của việc phá đá nổ mìn phục vụ giao thông thủy ở 4 nước thượng lưu đến thay đổi dòng chảy đến hạ lưu, đã định lượng được một số tác động đối với Thái lan và Lào, định tính các tác động đến hạ lưu Mê công ỏ Việt Nam và Campuchia. Nghiên cứu này cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể nào của dự án này đến nước ta, cả về dòng chảy và môi trường.
Đánh giá tác động của dự án thủy điện Nam Theun 2 (Lào) của ADB.
Dự án của Ngân hàng thế giới ( WB) năm 2004, đã thực hiện đánh giá các phương án phát triển hạ lưu sông Mê Công (2004) với sự hỗtrợcủa bộ công cụ DSF (công cụ quyết định và hỗ trợ) để đánh giá tác dộng của các kịch bản phát triển trên
47 lưu vực sông Mê Công. Các vấn đề chính đã được xem xét trong nghiên cứu là: (1) mô phỏng hiện trạng; (2) Tác động của thủy diện ở Trung Quốc với 2 công trình hiện hữu và 2 công trình dự kiến; (3) Phương án phát triển thấp với gia tăng sử dụng nước đến 2020 (7.442.000 ha) và các công trình hiện hữu; (4) Tác động đê bao dự kiến trên phần lãnh thổ Campuchia (130000 ha) đến thay đổi ngập lũ trên lưu vực;
(5) Gia tăng phát triển nông nghiệp ở hạ lưu mức cao (11. 349 triệu ha) trong khi giữ cấp độ phát triển thủy điện phía hạ lưu Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam;
(6) Gia tăng phát triển nông nghiệp ở hạ lưu mức cao (11.349 triệu ha) trong có gia tăng phát triển thủy ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam (49.478 triệu m3). Nghiên cứu đã sơ bộ đánh giá được tác động các kịch bản đến thay đổi chế độ dòng chảy sông Mê Công, tác động đến giao thông thủy, thủy sản,đến lũ và xâm nhập mặn ở hạ lưu. Nghiên cứu này đã xét thay đổi trên lưu vực nhưng chưa đề xuất giải pháp cụ thể cho từng trường hợp, do đó cần nghiên cứu sâu và chi tiết hơn, như trường hợp gia tăng diện tích tưới của Thái Lan sẽ giảm dòng chảy đến Việt nam là bao nhiêu, và giải pháp hạn chế ngập mặn là gì. Một số kết quả quan trọng được trích dẫn ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Một số kết quả nghiên cứu đánh giá các phương án phát triển hạ lưu sông Mê Công
Phương án
Nhu cầu nước công
nghiệp và sinh hoạt (106m3)
Diện tích tưới (1000ha)
Dung tích hữu ích các hồ
Khu bao bảo vệ chống lũ (1000ha)
Mục tiêu sử dụng nước trong lưu
vực (106m3) Hạ lưu
Mê Công
Trung Quốc
Trong vùng
Chuyển đi
Hiện trạng 1,620 7,422 6,185 - 0 0 0
Đập Trung Quốc
1,620 7,422 6,185 22,700 0 0 0
Phát triển mức thấp
3,109 8,316 12,433 10,300 0 0 0
Đê bao phòng lũ
3,109 8,316 12,433 10,300 130 0 0
Phát triển Nông nghiệp
4,194 11,349 12,433 10,300 0 2,200 3,262 Phát triển
cao
4,194 11,349 26,778 22,700 0 2,200 3,262
Có thể coi đây là nghiên cứu tổng hợp có ý nghĩa nhất về nguồn nước trong phạm vi toàn lưu vực có xét đễn các yếu tố chính về nguồn nước và sử dụng nước do vậy có một ước lượng về dòng chảy cho các nước hạ lưu Mê Công. Đây sẽ là một tham khảo quan trọng khi thực hiện đề tài.
48 b. Các nghiên cứu trong nước về ĐBSCL
ĐBSCL là đồng bằng lớn nhất của Việt Nam nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Công bao gồm 13 tỉnh, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79%
diện tích toàn châu thổ và bằng khoảng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mê Công.
ĐBSCL là đồng bằng quan trọng nhất của nước ta, với diện tích đất nông nghiệp, thủy sản khoảng 3,2 triệu ha; ĐBSCL đã cung cấp sản lượng lương thực chiếm hơn 50% (là nền tảng an ninh lương thực Quốc gia), xuất khẩu thủy sản hơn 60%...
Chính vì tầm quan trọng của vùng đối với sự phát triển chung của đất nước, trong phạm vi quốc gia đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề: phát triển nguồn nước;
Quản lý nguồn nước; các biện pháp công trình, phi công trình nhằm phát triển kinh tế -xã hội ở ĐBSCL…Thành tựu cơ bản của các kết quả nghiên cứu khoa học đối với ĐBSCL là đã đánh giá được tiềm năng về tài nguyên tự nhiên, đưa ra được chiến lược chung sống với lũ và phát triển thủy lợi phục vụ phát triển KTXH ĐBSCL trong thời gian qua. Các nghiên cứu chính được phân tích, liệt kê như sau:
Từ sau ngày giải phóng (1975) vấn đề nghiên cứu, quy hoạch ĐBSCL (chủ yếu là quy hoạch thủy lợi) mới được chú trọng nhằm mục đích phát triển nông nghiệp, xây dựng phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước.
Những nghiên cứu này ở các cấp độ chuyên sâu khác nhau đã đề cập đến các vấn đề:
(i) Cơ sở khoa học xâm nhập mặn;
(ii) Cơ sở khoa học về lũ ở ĐBSCL;
(iii) Vấn đề ngọt hóa cho các hệ thống ven biển;
(iv) Giải pháp kiểm soát lũ cho các vùng ngập lũ;
(v) Cải tạo đất phèn….
Đề tài KC.08.19 “Nghiên cứu các vấn đề thoát lũ và kinh tế - xã hội – môi trường phục vụ phát triển bền vững vùng Đồng Tháp Mười” (Đào Xuân Học và Cơ sở 2 – Trường Đại học Thủy lợi chủ trì) đã đề xuất ý tưởng xây dựng cống trên sông Vàm Cỏ nhằm các mục tiêu tổng hợp: ngăn triều – thoát lũ, ngăn mặn – giữ ngọt, tạo dòng chảy một chiều xóa vùng giao thoa nước rộng lớn, nơi lưu cữu nước phèn, để cải tạo đất và cải tạo môi trường vùng đất phèn. Ý tưởng đó đã được đông đảo các nhà khoa học đồng tình qua nhiều lần hội thảo của đề tài.
49 Đề tài KC.08.31 “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước phục vụ phát triển bền vững lưu vực sông Vàm cỏ”
(Đào Xuân Học và Cơ sở 2 - Trường Đại học Thủy lợi chủ trì) góp phần làm sáng tỏ diễn biến tài nguyên và môi trường nước dưới tác động của các biện pháp công trình thủy lợi, trong đó có Cống Vàm Cỏ. Đề tài đã phần nào xác lập cơ cở khoa học cho các biện pháp ngăn mặn - giữ ngọt tạo nguồn nước cho vùng ĐBSCL, tuy nhiên cũng chưa đề cập nhiều đến tác động của các yếu tố thượng lưu.
Dự án nghiên cứu tiền khả thi Cống Vàm Cỏ (Nguyễn Quang Kim – Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi chủ trì, 2005) đã khảo sát khá kỹ : (i) Tác dụng ngăn triều – thoát lũ, ngăn mặn, giữ ngọt, tạo dòng chảy một chiều cải tạo môi trường đất phèn vùng giao thoa nước của Cống Vàm Cỏ ; (ii) Các tác động môi trường ; (iii) Hình thức kết cấu hợp lý của cống lớn vùng ĐBSCL; (iv) Chế độ vận hành hợp lý của Cống Vàm Cỏ nhằm giảm thiểu các tác động môi trường (giao thông thủy, hệ sinh thái…). Trong dự án này tác dụng trữ ngọt của cống khi dòng chảy thượng lưu giảm ở các mức khác nhau đã được xem xét, tuy nhiên các mức giảm này chỉ là giả thiết chứ chưa được tính toán theo các kịch bản phát triển thượng lưu.
Dự án “Quy hoạch Thủy lợi tổng hợp ĐBSCL” (Phân viện KSQHTLNB, 2005) đã khảo sát 3 phương án phát triển ở ĐBSCL (PT-01, PT-02 và PT-03), trong đó phương án PT-03 giống với PT-01 nhưng có xét đến yêu cầu dùng nước ở thượng lưu tăng thêm 425m3/s kết hợp với nước biển dâng cao thêm 0,25m, Campuchia lên đê bao 50% diện tích vùng ngập… Kết luận của dự án là phương án PT-03 có diễn biến mặn không chấp nhận được, phải giải quyết bằng đàm phán với các nước thượng lưu. Rõ ràng rằng số kịch bản phát triển ở thượng lưu chưa được đầy đủ như nghiên cứu của Uỷ hội Mê Công Quốc tế, các kịch bản phát triển ở ĐBSCL cũng còn ít, tổ hợp kịch bản phát triển thượng – hạ lưu chưa được xem xét đầy đủ.
Nghiên cứu của Ủy ban Mê Công Việt Nam về dòng chảy Mê Công dưới tác động của các đập thủy điện ở Trung Quốc (2004, 2005). Năm 2004 và 2005, Chính phủ VN đã giao cho Ủy ban sông Mê Công Việt Nam (UBSMCVN) thực hiện (Lê Đức Trung, Tô Quang Toản, Huỳnh Minh Ngọc) nghiên cứu về cân bằng nước lưu vực Mê Công dưới hoạt động của một số nhà máy thủy điện ở Trung Quốc đã và sẽ hoạt động trong tương lai gần (đến 2015). Nghiên cứu này bao gồm 3 nghiên cứu thành phần : (i) Đánh giá việc sử dụng nước ở tiểu lưu vực Mê Công thuộc tỉnh Vân Nam và phụ cận ; (ii) Xây dựng mô hình ; và (iii) Tính toán cân bằng nước và các tác động khác. Các nghiên cứu này đã sử dụng bộ công cụ mô hình
50 DSF để mô phỏng tính toán cân bằng nước, đánh giá sự thay đổi của dòng chảy dọc theo dòng chính Mê Công và xâm nhập nhập mặn. Tuy còn ở mức độ sơ lược do thiếu nhiều tài liệu và thời gian bị hạn chế, chỉ một số nhà máy được tính toán (4 nhà máy lớn / tổng 14 nhà máy) với số kịch bản vận hành còn rất sơ lược, nhưng đã đưa ra được một số kết luận quan trọng ban đầu : (1) Việc vận hành các nhà máy thủy điện có thể làm tăng dòng chảy kiệt trên dòng chính Mê Công tại biên giới VN-CPC đáng kể (đến 24%) ; và (2) Khi một số hồ thủy điện tích nước trong mùa khô (đây là điều kiện làm việc bất thường, thông lệ quốc tế là không được phép) thì sẽ làm giảm đáng kể dòng chảy Mê Công ở VN và kéo theo xâm nhập mặn gia tăng.
Có thể nói đây là một nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia.
Đề tài nhánh (1991-2001): “Nghiên cứu lan truyền nước chua trên đất phèn nông và thành phần nước Sông Hậu trên vùng Tứ giác Long Xuyên”, thuộc Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kiến nghị phương hướng giải quyết ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”, do GS. Nguyễn Ân Niên làm chủ nhiệm. Nội dung chủ yếu là: Đánh giá sự lan truyền của nước chua vùng TGLX; Đánh giá sự lan truyền của nguồn nước phù sa từ sông Hậu trên vùng TGLX; Các giải pháp hạn chế lan truyền nước chua và khai thác hiệu quả nước phù sa.
Đề tài trọng điểm cấp Bộ NN-PTNT (2002-2004): “Nghiên cứu các giải pháp đảm bảo an toàn các hồ chứa vừa và lớn các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên”do PGS.TS Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm; Các nội dung chủ yếu: Tổng quan về hiện trạng các hồ chứa; Đề xuất các giải pháp sửa chữa, củng cố đập; tăng cường năng lực xả nước của các đập tràn; Thiết lập quy trình xả lũ cho các hồ đảm bảo an tòan và tích nước theo yêu cầu.
Đề tài trọng điểm cấp Bộ NN-PTNT (2004-2006) : “Nghiên cứu cải tiến nâng cấp các cống có cửa van tự động thủy lực vùng ảnh hưởng triều Phía Nam”
do PGS.TS Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm.Nội dung chủ yếu:Đánh giá ưu nhược điểm các cống vùng triều hiện nay; Đưa ra các giải pháp kết cấu cống thích hợp cho các vùng sinh thái khác nhau; Đưa ra các dạng cửa van thích hợp cho các yêu cầu lấy và tiêu nước khác nhau.
Đề tài trọng điểm cấp Bộ NN-PTNT (2003-2006): “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ đánh giá và quản lý nguồn nước hệ thống thủy lợi có cống ngăn mặn và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm ở ĐBSCL”do PGS.TS Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm.Nội dung chủ yếu: Đánh giá hiện trạng về nguồn
51 nước và các biện pháp quản lý hiện nay; Xây dựng phương pháp luận và phương pháp tính; bộ công cụ tính tóan về nguồn nước: tính lan truyền các nguồn nước, xâm nhập mặn, lan truyền nước bẩn, ô nhiễm, BOD, bệnh thủy sản,...
Đề tài cấp Nhà nước (2005-2006): “Nghiên cứu diễn biến nguồn nước và môi trường và đề xuất các giải pháp khai thác quản lý bền vững”, do GS. Đào Xuân Học làm chủ nhiệm. Nội dung chủ yếu bao gồm: Tổng quan về các nguồn nước khu vực nghiên cứu; Nghiên cứu thủy động lực môi trường liên vùng Đồng Tháp Mười – Vàm Cỏ- Đồng Nai; Xây dựng mô hình toán và tính toán mô phỏng động thái các nguồn nước điển hình: chua, mặn, nước thải,... theo các kịch bản phát triển khác nhau (hiện trạng, các phương án xây dựng cống Vàm Cỏ,...).
Đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long” (GS. Trần Như Hối làm chủ nhiệm, 2003- 2006) Nội dung chính của đề tài bao gồm: Thu tập số liệu phục vụ nghiên cứu ; nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lũ vùng ĐBSCL đặc biệt là vùng ngập lũ… Từ đó, nghiên cứu đề xuất các cơ sở cho việc lập quy hoạch chi tiết đê bao, bờ bao cho các vùng ngập lũ ĐBSCL (Vùng ngập lụt nằm ở phía bắc ĐBSCL, có diện tích gần 2 triệu ha, bao gầm đất đai các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang)
Đề tài cấp nhà nước ô Nghiờn cứu nhận dạng toàn diện về lũ, dự bỏo, kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở đồng bằng sông cửu Long ằ (TS. Tụ văn Trường làm chủ nhiệm-2005) đề tài đó tập trung nghiờn cứu các vấn đề liên quan đến lũ vùng ĐBSCL: Đặc điểm lũ sông Mê Côngvà ở ĐBSCL, hoàn nguyên lũ và nghiên cứu, nhân diện toàn diện về lũ, các mặt lợi hại của nó…
đưa ra các giải pháp kiểm soát lũ ĐBSCL; công nghệ dự báo lũ và các bản đò nguy cơ ngập lũ ĐBSCL ứng với các tần suất khác nhau.
Đề tài cấp bộ ô Nghiờn cứu giải phỏp xõy dựng mới và nõng cấp cỏc cụng trình kiểm soát mặn ở ĐBSCL nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu”- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Mục tiêu của đề tài: Đề xuất được các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn mới ( kể cả trang thiết bị và các công trình phụ cận) ở ĐBSCL nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu.; Đề xuất được các giải pháp nâng cấp công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn hiện có ở ĐBSCL nhằm thích ứng với BĐKH. Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung chính sau: Xác định - Các giải pháp kết cấu công trình Thuỷ lợi kiểm soát mặn (kể