CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.3. Hiện trạng kinh tế xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long
3.3.3. Các ngành kinh tế thế mạnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tổng giá trị SXNN vùng ĐBSCL năm 2008 đạt 61.777,5 tỷ đồng, so với năm 2000 tăng 21.152,4 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2001-2008 là 5,38%, cao hơn mức tăng bình quân giá trị SXNN của cả nước là 1,23%/năm. Cơ cấu giá
126 trị trồng trọt chiếm tỷ trọng cao đối với từng tỉnh/TP và chung cả vùng ĐBSCL.
Năm 2008 giá trị trồng trọt ĐBSCL đạt 121.229,23 tỷ đồng chiếm 77,86%, chăn nuôi 25.348,76 tỷ đồng chiếm 16,28% và dịch vụ nông nghiệp chỉ có 9.126,83 tỷ đồng chiếm 5,86% so với tổng giá trị SXNN. Nói chung, cơ cấu giá trị SXNN vùng ĐBSCL còn rất mất cân đối. Trong khi chăn nuôi chưa thực sự trở thành ngành sản xuất chính thì trồng trọt phát triển nhanh, vững chắc theo hướng đa dạng hóa cây trồng, chiếm tỷ trọng cao so với cả nước về các loại nông sản, thực phẩm. Cơ cấu tổng giá trị sản phẩm Khu vực I chiếm từ 42-50% tổng giá trị sản phẩm, có xu thế giảm trong các năm 2000-2008, hiện nay là 43,9%. Tốc độ tăng GDP Khu vực I giai đoạn 1996-2005 là 5,2%/năm, năm 2008 lên 7,26%, cao gấp 2 lần mức tăng trưởng Khu vực I của cả nước (3,4%). Trong nông nghiệp, trồng trọt là ngành chủ yếu, chiếm gần 80% giá trị sản phẩm ngành, chăn nuôi chiếm 14-17%, dịch vụ chiếm 5,5-8,0%. Do đạt tốc độ tăng trưởng cao ở cả 3 khu vực nên cơ cấu kinh tế chuyển đổi khá nhanh theo hướng giảm tỷ trọng Khu vực I, tăng dần tỷ trọng Khu vực II và III. Mục tiêu phát triển SXNN trong giai đoạn tới là phấn đấu giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi cũng như dịch vụ nông nghiệp.
Bảng 3.22. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo các ngành sản xuất (%)
Hạng mục 2000 2002 2005 2007 2008
- Trồng trọt 78,4 76,2 77,6 72,2 77,9
- Chăn nuôi 14,2 17,2 15,8 16,6 16,3
- Dịch vụ nông nghiệp 7,4 6,6 6,5 6,5 5,9
- GTSX thủy sản/GDP 12,1 14,9 13,7 15,3 15,5
- Tỷ lệ lao động/dân số 63,0 65,2 64,2 61,9 62,9 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 của 13 tỉnh ĐBSCL Sản phẩm lúa gạo sản xuất tại ĐBSCL không chỉ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho 17,571 triệu nhân khẩu tại ĐBSCL mà còn góp phần đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia và là hàng nông sản xuất khẩu có số lượng lớn xếp thứ 2 thế giới với kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2008 đạt 2,89 tỷ USD. Ngoài cây lúa, ĐBSCL còn phát triển sản xuất màu và cây lương thực. Các năm gần đây, do nhu cầu về nguồn nước cũng như yêu cầu chuyển dịch cây trồng, xu thế giảm diện tích lúa và tăng diện tích cây trồng cạn đang diễn ra.
Trong đàn gia súc, đàn heo tăng trưởng khá ổn định so với các vật nuôi khác, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm (1995-2005) là 5,98%, sản lượng thịt hơn tăng trung bình 6,2%/năm. Năm 2008, tổng số đầu heo 3,6 triệu con, khá ổn định từ 2000-2008. Đàn trâu giảm từ 63 ngàn con (2000), đến nay đang phát triển trở lại,
127 qui mô đàn khoảng 38-43 ngàn con. Đàn bò phát triển nhanh,quy mô đàn năm 2008 đạt 714 ngàn con tăng, tăng 20% so với năm 2005, xu thế tăng đàn bò thịt và bò sữa. Đàn gia cầm năm 2008 đạt 49,2 triệu con, gấp 1,55 lần năm 2005. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp có xu thế tăng từ 10-12%
giai đoạn trước trước 2004 lên trên 15% các năm gần đây.
3.3.3.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Năm 2008, vùng ĐBSCL có tổng số 108.347 cơ sở công ngiệp-tiểu thủ công ngiệp, riêng sản xuất công nghiệp nông thôn có 99.896 cơ sở. Công nghiệp trong vùng có sự tiến bộ trong những năm qua. Tổng sản phẩm công nghiệp (GDP) vùng ĐBSCL chiếm 10% GDP công nghiệp cả nước. Chất lượng sản phẩm được nâng cao, một số sản phẩm tinh chế đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Giá trị SXCN thời kỳ 2006- 2008 theo giá so sánh năm 1994 tăng trưởng 20,2%/năm, trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng trưởng nhanh hơn (23,6%/năm) và chậm nhất là khu vực kinh tế quốc doanh (7,5%/năm). Năm 2008, giá trị SXCN vùng ĐBSCL đạt 191.435 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,13% tổng GT SXCN cả nước. Cơ cấu GT SXCN trong vùng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh từ 31% (2000) lên 49% (2005) và năm 2008 là 64,67%, thành phần kinh tế quốc doanh giảm rõ rệt từ 46% (2000) còn 35% (2005) và hiện nay là 22,76%. Nhóm ngành công nghiệp chế biến vẫn là ngành chủ đạo, xu hướng tăng dần, tăng nhanh ở nhóm chế biến nông-lâm-thủy sản là nhóm chính chiếm trên 60%. Các tỉnh đều có cơ sở xay xát gạo, số lượng gạo đều tăng trong các năm qua.
Công nghiệp chế biến thủy sản chủ yếu là công nghệ làm lạnh bằng tủ đông.
Sản phẩm chủ yếu là cá, tôm, mực đông lạnh. Công nghiệp chế biến đường với 9 nhà máy đường ở 7 tỉnh, tổng công suất thiết kế 12.000 tấn mía cây/ngày. Công ngiệp sản xuất vật liệu xây dựng sản xuất một số mặt hàng có giá trị như xi măng, gạch ngói, gạch men, đá ốp… Công nghiệp cơ khí hoạt động khá ổn định, đáp ứng được nhu cầu máy móc, trang thiết bị phục vụ nông nghiệp như máy gặt, máy sấy, mát suốt lúa, máy gieo hạt… Công nghiệp khai thác chủ yếu khai thác tài nguyên khoáng sản, sản phẩm chủ yếu là đá vôi, cát sông, than bùn sét, muối… Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước tăng trưởng bình quân hàng năm là 6%, chiếm tỷ trọng 2% GTSX toàn ngành. Đến cuối năm 2008, ĐBSCL đã có 45 KCN đang xây dựng hạ tầng và đã đi vào hoạt động với tổng diện tích tự nhiên là 15.252 ha, chiếm 61% tổng số KCN và 48% tổng diện tích đất quy hoạch KCN. Vùng cũng đã quy hoạch 205 cụm công nghiệp (CCN) với diện tích 30.570,91 ha, trong đó 93 CCN
128 đang xây dựng hạ tầng và hoạt động, diện tích khoảng 13.163,75 ha (chiếm 43%
tổng diện tích đất quy hoạch). Nhìn chung, công nghiệp ở ĐBSCL chưa phát triển, tổng giá trị sản phẩm các ngành công nghiệp mới chiếm khoảng 24% tổng sản phẩm kinh tế, thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của cả nước (41,5%). Các ngành công nghiệp hiện có chủ yếu là công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, chế biến thủy sản-hải sản, công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng địa phương, sửa chữa nông ngư cụ, làm nước đá.
3.3.3.3. Thuỷ sản
Giai đoạn 2001-2008, NTTS vùng ĐBSCL đã có sự tăng trưởng cả về diện tích, sản lượng và giá trị, giải quyết việc làm, từng bước phát triển thành một nghề sản xuất quy mô hàng hóa, có tính cạnh tranh cao. Tổng diện tích có khả năng phát triển NTTS của vùng 1.366.430 ha, trong đó nuôi mặn lợ 886.249 ha (chiếm 89%
toàn quốc), nuôi ngọt 480.181 ha (chiếm 52% toàn quốc). Diện tích nuôi của vùng tăng từ 527.398 ha năm 2001 lên 774.645 ha năm 2008, chiếm 54% diện tích có khả năng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,2%/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trung bình về sản lượng thủy sản nuôi đạt cao hơn so với tăng diện tích và đạt 17,5%/năm (từ 462.441 tấn năm 2001 lên 1.834.417 tấn năm 2008) chiếm 74,6%
so với tổng sản lượng NTTS toàn quốc.
Tổng kim ngạch thủy sản xuất khẩu của ĐBSCL có sự tăng trưởng nhanh trong các năm qua, từ 717,3 triệu USD năm 2000 lên 1.035 triệu USD năm 2002 và 4.509 triệu USD năm 2008. Lao động thủy sản chuyên nghiệp liên tục tăng trong các năm gần đây. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành thủy sản đang chuyển dịch theo hướng nuôi trồng-chế biến, tiêu thụ-khai thác, cơ khí, dịch vụ thủy sản.
Bảng 3.23. Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản TT Hạng mục
Đơn vị tính
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2008 So sánh 2008/2000
Tốc độ tăng BQ (%/năm) 1
Diện tích NTTS ha 345.941,0 646.123 774.645,2 428.704,20 10,11 - Cá ha 145.000,0 108.419,4 122.782,7 -22.217,30 -2,06 - Tôm ha 154.920,0 488.127,0 462.184,1 307.264,10 18,05 2
Sản lượng NTTS tấn 365.141,0 1.005.189 1.834.417,7 1.469.276,70 22,30 - Cá tấn 234.755,0 652.262,0 1.399.719,5 1.164.964,50 25,01 - Tôm tấn 68.995,0 255.165,0 310.821,0 241.826,00 20,86 Nguồn: Thống kê nông-lâm-thuỷ sản Việt Nam
129 Giai đoạn 2005-2008, diện tích và sản lượng NTTS vẫn tiếp tục tăng nhưng ổn định hơn so với giai đoạn 2000-2005. Năm 2008 diện tích tăng 22,3%, sản lượng tăng trên 82,5% so với 2005. Tỷ trọng diện tích, sản lượng nuôi tôm giảm, tăng diện tích và sản lượng cá nuôi cá các loại, sản lượng tôm năm 2008 chiếm 15%, cá khoảng 75% tổng sản lượng NTTS.
Bảng 3.24. Diện tích và sản lượng NTTS ở các tỉnh ĐBSCL Năm
Tổng số Trong đó riêng tôm So sánh nuôi tôm với tổng NTTS DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn) DT (%) SL (%) 2005 646.132 1.005.189 488.127 255.165 79 24 2006 705.595 1.166.796 526.039 274.296 77 25 2007 741.574 1.527.949 542.245 308.586 76 21 2008 774.645 1.834.417 462.184 310.821 61 15
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 của 13 tỉnh ĐBSCL Năm 2008, diện tích NTTS 774.645 ha, tương ứng với sản lượng 1,834 triệu tấn chiếm khoảng 71% về diện tích và 75% về sản lượng thủy sản cả nước (riêng sản lượng tôm chiếm gần 80%). Năm 2007, 2008 sản lượng tôm có xu thế giảm tỷ trọng trong cơ cấu sản lượng thủy sản, tăng tỷ trọng sản lượng cá.
Khai thác thủy-hải sản mang lại nguồn thu đáng kể, năm 2008 sản lượng khai thác thủy sản đạt 863.289 tấn, chiếm trên 40% tổng sản lượng khai thác thủy sản cả nước (2.136.408 tấn).
Bảng 3.25. Diện tích và sản lượng NTTS ở các tỉnh ĐBSCL năm 2008
Tỉnh Tổng số Trong đó riêng tôm
DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn)
Tổng cộng 747.460 1.827.240 584.212 314.006
Bạc Liêu 125.602 129.730 0 63.984
Cà Mau 293.223 174.402 264.522 94.291
Cần Thơ 12.725 181.737 176 81
Hậu Giang 6.061 38.658 53 27
Kiên Giang 134.564 110.230 81.250 28.601
Sóc Trăng 67.678 138.184 48.376 62.541
Trà Vinh 33.084 83.628 26.406 19.789
Bến Tre 42.089 157.018 36.652 22.841
Tiền Giang 12.638 97.017 4.151 10.118
Long An 0 28.185 0 5.721
An Giang 2.777 315.447 598 1.297
130
Tỉnh Tổng số Trong đó riêng tôm
DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn)
Vĩnh Long 2.219 100.526 0 27
Đồng Tháp 5.832 279.655 0 1.504
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 của 13 tỉnh ĐBSCL
3.3.3.4. Lâm nghiệp
Theo số liệu của ngành Lâm nghiệp, diện tích đất lâm nghiệp có xu thế tăng giảm không ổn định, xu thế tăng trong năm 1985-1990, giảm đáng kể trong giai đọan 1990-1995 và tăng nhẹ trong giai đọan 1996-2000. Năm 2004, diện tích đất lâm nghiệp khoảng 371.254 ha, tăng gấp 1,5 lần năm 1996, chiếm 9,5% DTTN.
Năm 2008, diện tích đất có rừng là 298.297 ha giảm 49.156 ha so với năm 2007 (347.453 ha), giảm hơn 74.848 ha so với năm 2004, trong đó diện tích rừng tự nhiên giảm từ 103.843 ha (2004) xuống 59.968 ha năm 2008 (giảm trên 43.875). Diện tích đất lâm nghiệp giảm do một phần diện tích đất lâm nghiệp ở TGLX trước kia quy hoạch trồng rừng nay chuyển sang sản xuất nông nghiệp, một vài nơi phá rừng nuôi tôm.
Tổng diện tích đất có rừng ở ĐBSCL hiện nay là 298.296,4 ha, trong đó rừng đặc dụng là 62.363 ha, chiếm 20,9% tổng diện tích đất có rừng và 1,6% tổng diện tích tự nhiên; Rừng phòng hộ là 47.315 ha, chiếm 15,9% tổng diện tích đất có rừng và 1,2% tổng diện tích tự nhiên; Rừng sản xuất là 188.617 ha, chiếm 63,2% tổng diện tích đất có rừng và 4,6% tổng diện tích tự nhiên.
Đất ngập nước (ĐNN) của ĐBSCL có diện tích trên 4 triệu ha chiếm 95,88%
diện tích tự nhiên, bao gồm diện tích ĐNN nội địa và ĐNN ven biển ngập triều dưới 6 m. Các vùng đất ngập nước bị ngập theo mùa hoặc thường xuyên chiếm một diện tích lớn ở ĐBSCL. Những vùng này có chức năng kinh tế và sinh thái quan trọng.
Các vùng đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái tự nhiên phong phú nhất.
Mặt khác, chúng cũng là những hệ sinh thái vô cùng nhạy cảm dễ bị tác động và khó quản lý. Các dạng đất ngập nước chính ở ĐBSCL gồm: (i) Đất ngập nước mặn ven biển (1.636.069 ha), phân bố dọc ven biển Đông, phía Tây-Nam BĐCM và vịnh Thái Lan. Các dải rừng ngập mặn phân bố dọc ven biển, ở những vùng bãi bùn ngập mặn, có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái ĐNN ven biển. Đa số rừng ngập mặn hiện tập trung ở 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. (ii) Đất ngập nước mặn cửa sông (1.052.102 ha), phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông Cửu Long thuộc địa bàn các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đây là hệ sinh thái phong
131 phú và năng động nhất, song lại rất dễ bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường và do thay đổi chế độ nước. (iii) Đất ngập nước mặn đầm phá (2.521 ha), phân bố ở đầm Đông Hồ (Hà Tiên) và đầm Thị Tường (Cà Mau) ở vùng biển vịnh Thái Lan. (iv) Đất ngập nước ngọt thuộc sông (1.963.240 ha), bao phủ vùng đồng bằng ngập lũ rộng lớn ở trung tâm ĐBSCL. (v) Đất ngập nước ngọt thuộc hồ (56.389 ha), phân bố ở vùng hồ rừng tràm U Minh Hạ (Cà Mau), hồ rừng tràm U Minh Thượng (Kiên Giang) và ở Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp). (vi) Đất ngập nước thuộc đầm (229.363 ha), phân bố ở vùng ĐTM và TGLX.
Bảng 3.26. Độ che phủ rừng vùng ĐBSCL tính đến ngày 31/12/2008 (ha)
Tên tỉnh/TP Diện tích có rừng
Chia ra
Độ che phủ Rừng
tự nhiên
Rừng trồng Tổng Mới trồng
ĐBSCL 298.297 59.968 238.329 14.966 8,0
Long An 52.826 800 52.026 686 11,6
Đồng Tháp 8.977 8.975 620 2,5
Tiền Giang 10.357 10.357 180 4,1
Bến Tre 3.759 998 2.762 337 1,5
Vĩnh Long
Trà Vinh 6.744 1.309 5.436 151 2,9
TP. Cần Thơ
Hậu Giang 2.511 2.511 674 1,2
Sóc Trăng 10.489 1.381 9.108 358 3,1
Bạc Liêu 4.302 2.345 1.956 1,7
An Giang 14.049 583 13.466 261 3,9
Kiên Giang 86.849 43.667 43.182 500 13,6
Cà Mau 97.434 8.885 88.550 11.199 16,2
Nguồn: Phân viện Điều tra và Quy hoạch Rừng Nam bộ
3.3.3.5. Thương mại, dịch vụ và du lịch:
Hệ thống hạ tầng thương mại của vùng vẫn chủ yếu là các chợ và trung tâm nông sản. Đây là hình thức phát triển phù hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng. Các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại hiện đại đã xuất hiện nhưng với quy mô trung bình và nhỏ, mới chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Hiện nay, khu vực ĐBSCL có tổng số 1.756 chợ, chiếm 21,7% so với cả nước. Xuất khẩu của vùng ĐBSCL chiếm khoảng 8,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tốc độ tăng trưởng bình quân 19,7%/năm (2006-2008), xấp xỉ mức tăng cả nước. Năm 2008 đạt 5,648 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, gạo, thực
132 phẩm chế biến, rau quả, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó thủy sản và gạo là 2 mặt hàng thế mạnh của vùng. Xuất khẩu thủy sản của vùng chiếm 63% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Xuất khẩu gạo chiếm trên 90% lượng xuất khẩu gạo của cả nước. Rau quả xuất khẩu chủ yếu là trái cây nhiệt đới, chiếm 40-50% kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước. Kim ngạch nhập khẩu của vùng chiếm khoảng 3% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tốc độ tăng trưởng khoảng 26%/năm (2006-2008). Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm phân bón, chất dẻo, sắt thép, máy móc phụ tùng chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất.
ĐBSCL có 7 khu vực tiềm năng du lịch, đó là (i) Du lịch miệt vườn, sông nước (gồm TP.Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long); (ii) Du lịch sinh thái, kết hợp tắm biển (gồm các sông ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang); (iii) Du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan, du lịch văn hóa (gồm vườn Quốc gia U Minh Thượng và U Minh Hạ); (iv) Du lịch sinh thái mùa nước nổi, cảnh quan và du lịch văn hóa, lịch sử… (vùng ĐTM); (v) Du lịch văn hóa, lịch sử và cảnh quan (gồm Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu); (vi) Du lịch cảnh quan, hành hương, nghỉ dưỡng tắm biển (gồm Bảy Núi-An Giang, Hà Tiên-Kiên Giang); (vii) Du lịch nghỉ dưỡng, cảnh quan, sinh thái (gồm đảo Phú Quốc và các đảo nhỏ ven bờ). Với đặc trưng miệt vườn sông nước, trái cây ĐBSCL đã và đang trở thành một vùng du lịch hấp dẫn thu hút khách quốc tế và trong nước. Lượng khách du lịch đến với ĐBSCL ngày càng tăng cao. Tại một số trung tâm du lịch của vùng như Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang lượng khách hàng năm thường tăng gấp 2-3 lần năm trước.
3.3.3.6. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
a) Giao thông:
+ Giao thông đường bộ: Mạng lưới đường bộ khu vực ĐBSCL có tổng chiều dài khoảng 22.800 km (đường Quốc gia/Quốc lộ/Cao tốc khoảng 2.471 km, đường tỉnh/Tỉnh lộ khoảng 3.400 km và đường giao thông nông thôn (huyện/xã) khoảng 17.000 km). Mật độ đường so với diện tích và dân số là 0,58 km/km2 và 1,27 km/1.000 dân. Mật độ phân bố không đều giữa các tỉnh và các khu vực: Giữa tỉnh có mật độ đường cao với tỉnh có mật độ thấp tới gần 3 lần (Long An cao nhất 1,109 km/km2, Cà Mau thấp nhất 0,473 km/km2). Toàn vùng có 15 Quốc lộ, tổng chiều dài 2.471 km, phát triển tương đối hợp lý, hình thành các trục dọc (QL1A, QL60, QL50) và trục ngang (QL62, QL30, QL53, QL91, QL54, QL80, QL63). Có khoảng 65% đoạn đường trong mạng lưới đường bộ nằm ở các khu vực chịu ảnh hưởng của lũ lụt, một phần trong số đó không thể lưu thông được vào mùa mưa, dẫn đến tình
133 trạng không thể tiếp cận được một số khu vực trong vùng bằng xe cộ, trong đó, khoảng 50% qua vùng ngập nông (0,5-1,5 m), khoảng 10% qua vùng ngập vừa (1,5- 3,0 m) và khoảng 5% qua vùng ngập sâu (>3,0 m). Mạng lưới đường tỉnh ĐBSCL có hơn 127 tuyến, tổng chiều dài khoảng 3.400 km, hầu hết đạt tiêu chuẩn cấp IV- ĐB, mặt đường nhựa chiếm khoảng 75%. Nhìn chung mạng đường tỉnh phân bố hợp lý song quy mô và chất lượng còn hạn chế. Nhiều tuyến cầu đường bị phá hoại và xuống cấp do ảnh hưởng của mưa lũ. Những năm gần đây các địa phương đã quan tâm đầu tư, từng bước nâng cấp mở rộng các tuyến đường tỉnh, nhất là các tuyến quan trọng tạo được sự kết nối tốt hơn với hệ thống Quốc lộ. Mạng lưới đường giao thông nông thôn do cấp huyện quản lý, đảm bảo mối quan hệ giao lưu giữa huyện-xã, liên xã và nội xã. Tổng chiều dài mạng lưới đường GTNT vùng ĐBSCL hiện khoảng 17.000 km, trong đó có khoảng 50% đi qua vùng ngập lũ (lũ năm 2000).
+ Giao thông đường thuỷ: ĐBSCL có 28.600 km sông, kênh, rạch, trong đó có khoảng 13.000 km có khả năng khai thác vận tải (sâu trên 1 m); có trên 6.000 km sông, kênh có khả năng vận tải cho các loại phương tiện trọng tải 50-100 tấn.
Hiện nay đã đưa vào quản lý khai thác 3.486 km, trong đó Cục đường sông VN quản lý 2.800 km, còn lại do các địa phương. Các tuyến đường thủy chính bao gồm (i) Tuyến TP. HCM-Cà Mau, Tuyến TP.HCM-ĐTM-TGLX (228 km), Tuyến Cửa Tiểu-Hồng Ngự (227 km), Tuyến TP.HCM-Mộc Hóa. Ở những địa phương đường bộ chưa phát triển, người dân sử dụng sông rạch làm phương tiện giao thông chính.
Các cảng, bến đường thủy gồm cảng biển và cảng thủy nội địa. ĐBSCL đã hình thành hệ thống cảng phục vụ tàu biển nằm dọc sông Tiền, sông Hậu và ven Biển Tây. Ngoài ra, hiện có hơn 2.500 bến cảng thủy nội địa, gồm 60 cảng thủy nội địa, 106 bến nổi, còn lại là bến thủy nội địa, trong đó 85 bến chủ yếu đưa đón khách dọc tuyến và 21 bến bốc xếp hàng hóa. Phần lớn hàng hóa xuất nhập khẩu của ĐBSCL đều phải tiếp chuyển qua cảng đầu mối TP.HCM vừa tăng giá thành vận tải và lãng phí chi phí xã hội, vừa tạo ra áp lực vận tải trên các tuyến giao thông thủy, đặc biệt đoạn kết nối với TP.HCM.
+ Hàng không: Khu vực ĐBSCL có các cảng hàng không chính gồm (i) Cảng hàng không Cần Thơ (Sân bay Trà Nóc), (ii) Cảng hàng không Rạch Giá (Sân bay Rạch Sỏi-Kiên Giang), (iii) Cảng hàng không Cà Mau (Sân bay Cà Mau -TP. Cà Mau) và (iv) Cảng hàng không Phú Quốc (Sân bay Dương Đông).
b) Mạng lưới cấp điện: