CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
3.2.2. Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng
Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ.
Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm. Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3-4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm, gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ.
Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là đước và mắm. Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói
86 mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ, và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn.
Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm. Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế có một bờ biển mới được tạo lập, và cuối cùng hình thành nên những dải cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà ta vẫn thấy ở ĐBSCL. Một cồn cát chia cắt vùng ĐTM và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm.
Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm và những loài thực thực vật hoang dại khác. Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn.
Sự tham gia của sông Mê Công đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 500 tỷ m³ nước và vào khoảng 150 triệu tấn vật liệu phù sa, những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ. Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và không gian vùng. Các con sông được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển. Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong các vùng sông nhánh gần cửa sông do tác dụng lọc rửa của thủy triều khá mạnh.
b) Địa tầng:
b.1 Giới Paleozoi (PZ): Phân bố chủ yếu ở vùng TGLX như Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên gồm:
87 - Hệ Devon, thống thượng-Hệ Cacbon, thống hạ. Hệ tầng Chùa Hang (D3- C1ch): Lộ ra ở vùng núi Chùa Hang thuộc Kiên Giang. Thành phần chủ yếu là đá vôi, đá sét vôi, bột kết chứa vôi, chiều dày hơn 100 m.
- Hệ Cacbon không phân chia. Hệ tầng Hòn Ngang (Chn): Lộ ra rải rác ở vùng núi Tô Châu, ngoài vùng còn gặp ở quần đảo Bà Lụa và Nam Du. Thành phần gồm đá phun trào axit bị biến đổi, trong đá chứa nhiều cuội là bột kết, phiến sét, cát kết, chuyển lên là các phun trào fenzit, fenzit pocfia xen ít lớp mỏng đá phiến silic.
Tổng bề dày 200-300 m.
- Hệ Pecmi không phân chia. Hệ tầng Hà Tiên (Pht): Lộ ra ở dạng các chỏm, khối nhỏ tại Kiên Lương, Hòn Chông, Hà Tiên. Thành phần gồm: Dưới là cuội kết, dăm kết với ximăng cacbonat, trên là đá vôi màu xám sáng, xám tối, đôi chỗ bị dolomit hóa có vân hồng, xen kẹp ít lớp silic mỏng, bề dày khoảng 100 m.
b.2 Giới Mezozoi (MZ):
- Hệ Jura, thống thượng-Hệ Kreta, thống hạ. Điệp Long Bình (J3-K1lb):
Trong vùng nghiên cứu lộ ra tại vùng Bảy Núi, An Giang, tại Côn Đảo cũng phát hiện được các đất đá của điệp.
- Hệ Kreta, thống thượng. Hệ tầng Phú Quốc (K2pq): Lộ ra ở vùng Bảy Núi, Tri Tôn (An Giang) và đảo Phú Quốc. Địa tầng gồm: Dưới là bột kết, sét kết, trên là cuội kết, cát kết lẫn cuội dạng pudinh, cát sạn kết phân lớp xiên chéo. Chiều dày khoảng 200-900m.
b.3 Giới Kainozoi (KZ):
- Hệ Paleogen, thốngEoxen-Oligoxen. Hệ tầng Trà Cú (P2-3tc): Được phát hiện tại lỗ khoan Cửu Long 1 (CL1) thuộc thị trấn Trà Cú tỉnh Cửu Long từ độ sâu 1.600-2.120m. Thành phần mặt cắt được chia làn 2 tập: Tập dưới chủ yếu là cuội- sạn-sỏi kết, cát kết màu xám, kích thước cuội đạt tới 10cm, thành phần cuội gồm các đá granit, andezit, gabro, đá phiến sét, sét kết màu đen, nâu đỏ, xanh lục. Tập trên là các lớp cát kết xen nhiều tập bột, sét với tướng trầm tích biến đổi từ tướng lục địa sang tam giác châu.
- Hệ Neogen (N):
+ Thống Mioxen, phụ thống trung-thượng. Hệ tầng Bến Tre (N12-3bt). Hệ tầng Bến Tre chỉ gặp trong các lỗ khoan ở độ sâu khoảng 580 m trở xuống (LK218 Bến Tre: 584-654,5 m); LKCL1: 722-1.000 m). Bề dày chung của mặt cắt: 278 m.
88 Hệ tầng Bến Tre nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú, phía trên chúng bị các trầm tích hệ tầng Phụng Hiệp phủ bất chỉnh hợp.
+ Thống Mioxen, phụ thống thượng- Hệ tầng Phụng Hiệp (N13ph): Phát hiện tại lỗ khoan Phụng Hiệp (HG1), ở độ sâu 361-602 m và được chia thành 3 tập từ dưới lên. Bề dày chung của hệ tầng 214 m.
+ Thống Plioxen, phụ thống hạ- Hệ tầng Cần Thơ (N21ct): Hệ tầng Cần Thơ có mặt trong hầu hết các lỗ khoan ở ĐBSCL từ độ sâu 200 m trở xuống như ở lỗ khoan 8 Cần Thơ, lỗ khoan 210 Vĩnh Long, lỗ khoan 215A Cà Mau.... Chiều dày khoảng 90-100 m.
+ Thống Plioxen, phụ thống thượng- Hệ tầng Năm Căn (N22nc): Các trầm tích được xếp vào hệ tầng Năm Căn chỉ gặp trong các lỗ khoan phân bố trên phạm vi ĐBSCL từ độ sâu 140 m trở xuống. Bề dày chung 90,0 m.
+ Hệ Đệ Tứ (Q): Các thành tạo Đệ Tứ trên phạm vi nghiên cứu bao gồm các trầm tích bở rời có nhiều nguồn gốc và tuổi khác nhau.
Tất cả các thành tạo Holoxen đều có mối liên quan mật thiết đến hoạt động sống của con người, vì vậy một số nơi chúng đã chịu tác động mạnh mẽ, bị biến cải và tạo nên các dạng thành tạo mới mang tính nhân sinh.
c) Kiến tạo:
c.1 Đới trũng Kainozoi Cửu Long:
Đới trũng Kainozoi Cửu Long chiếm phần lớn diện tích, bề rộng 300 km (từ Côn Đảo đến Châu Đốc), bề dài 400 km (từ Cà Mau đến Long Thành). Võng Kainozoi phát triển trên móng không đồng nhất, phần Đông-Bắc phát triển trên móng phun trào andezit, phần Tây-Nam phát triển trên móng là thành hệ lục nguyên tuổi Devon. Tham gia vào cấu trúc của trũng Kainozoi Cửu Long là các thành tạo lục nguyên gắn kết yếu tuổi Eoxen-Oligoxen và trầm tích lục nguyên bở rời. Xét về quy luật phân bố của các thành tạo Kainozoi và cấu trúc bề mặt đáy của Kainozoi thì đới này được chia làm 3 phụ đới:
- Phụ đới Đông-Bắc thể hiện một đơn nghiêng Đông-Bắc của võng Plioxen- Đệ Tứ (N2-Q).
- Phụ đới Tây-Bắc thể hiện đơn nghiêng Tây-Bắc của võng Plioxen-Đệ Tứ (N2-Q).
89 - Phụ đới Đông-Nam là trung tâm trũng Plioxen-Đệ Tứ (N2-Q), phát sinh, phát triển trên các graben (địa hào, địa lũy) P3-N2. Đáy Kanozoi của phụ đới này sụt sâu có nơi đạt tới 2.200 m (Trà Cú). Qua bình đồ cấu trúc móng trong phụ đới này thể hiện các địa hào, địa lũy kể từ Tây Bắc-Đông Nam như sau: Địa hào Cần Thơ, địa lũy Phụng Hiệp, địa hào Kế Sách, địa lũy Vũng Liêm-Sóc Trăng, địa hào Trà Vinh, địa lũy Cần Thơ-Ba Tri.
c.2 Đới Hà Tiên:
Đới Hà Tiên phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu. Xét quy luật phân bố của các thành hệ cấu trúc khác nhau, đới Hà Tiên được chia làm 2 phụ đới: Phụ đới Hà Tiên-Nam Du và phụ đới Phú Quốc.
- Phụ đới Hà Tiên-Nam Du: Tham gia vào cấu trúc gồm các thành hệ lục nguyên, lục nguyên cacbonat, thành hệ phun trào axit, thành hệ phun trào trung tính có tuổi từ Devon đến Pecmi muộn.
- Phụ đới Phú Quốc: Được cấu thành từ các thành tạo lục nguyên tuổi Kreta (hệ tầng Phú Quốc). Các đá thành hệ này tạo nên đơn nghiêng có phương á kinh tuyến góc cắm về phía Tây.