CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
3.2.4. Đặc điểm thủy văn
3.2.4.1. Hệ thống sông ngòi
102 ĐBSCL có hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá phong phú, bao gồm hệ thống sông thiên nhiên và kênh đào (hình 3.8).
a) Hệ thống sông rạch thiên nhiên:
Các hệ thống sông, rạch thiên nhiên ở ĐBSCL, ngoài sông Mê Công với 2 nhánh chính là sông Tiền, sông Hậu, các cửa ra biển và sông nối Vàm Nao, còn có 2 hệ thống sông liên quốc gia khác là Vàm Cỏ (gồm Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ Tây) và Giang Thành, và các hệ thống sông nội địa là Cái Lớn-Cái Bé, Mỹ Thanh, Gành Hào, Ông Đốc, Bảy Háp..., cùng một số rạch nhỏ khác.
a.1 Sông Tiền và sông Hậu:
Hai dòng chính sông Tiền và sông Hậu chi phối mạnh mẽ sự phát triển của ĐBSCL. Sông Tiền đóng vai trò khá quan trọng, ngay sau khi phân lưu từ dòng chính Mê Công tại Phnom Penh, nhờ lòng sông rộng hơn nên chuyển tải một lượng nước lớn hơn sông Hậu (86%/14%). Sau khi sông Tiền chia bớt nước sang sông Hậu qua Vàm Nao, hai sông mới tạo lập được thế cân bằng (49%/51%). Sau Mỹ Thuận, sông Tiền lần lượt có các phân lưu lớn kế tiếp nhau là sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai, sông Cửa Đại và Cửa Tiểu. Sông Hậu chảy thành một đường thẳng tắp và chỉ chia 2 trước khi đổ ra biển chừng 30 km qua cửa Định An và Trần Đề. Từ Phnom Penh đến Vàm Nao lòng sông Hậu hẹp, sau Vàm Nao sông Hậu mới được mở rộng tương ứng với sông Tiền, sau Vàm Nao cả sông Tiền, sông Hậu đều rộng và sâu, độ rộng trung bình khoảng 1.000-1.500 m, với độ sâu trung bình từ 10-20 m, có nơi sâu trên 40 m, bởi vậy có khả năng chuyển tải lưu lượng rất lớn. Tuy nhiên, khi đến các cửa, lòng sông được mở rộng và đáy sông được nâng lên. Cả sông Tiền, sông Hậu đều hình thành nhiều cù lao, nhiều đoạn sông cong, nhiều phân-nhập dòng... nên quá trình xói lở bờ và bồi lắng lòng sông diễn biến rất phức tạp, gây nên sự mất ổn định lòng dẫn.
a.2 Hệ thống sông Vàm Cỏ:
Hệ thống sông Vàm Cỏ bao gồm 2 nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đều bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua vùng phía Đông ĐBSCL, đến Cầu Nổi thì nhập lại để cùng chảy ra hạ lưu sông Đồng Nai (sông Nhà Bè) trước khi ra biển qua cửa Cần Giờ. Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây không rộng, gấp khúc nhiều nên hạn chế khả năng chuyển nước. Do hình thành từ 2 hướng khác nhau nên nếu như Vàm Cỏ Đông có nguồn sinh thủy độc lập, gắn với miền Đông Nam bộ qua hệ
103 thống thủy lợi Dầu Tiếng-Phước Hòa, thì Vàm Cỏ Tây gần gũi với ĐBSCL hơn qua vùng ĐTM khi nhận nước từ sông Mê Công sang trong cả mùa lũ lẫn mùa kiệt.
a.3 Hệ thống sông Cái Lớn-Cái Bé:
Hệ thống sông Cái Lớn-Cái Bé hoàn toàn là các sông vùng triều, xuất phát từ trung tâm BĐCM và đổ ra biển qua cửa Cái Lớn. Đoạn cửa sông có lòng rất rộng nhưng không sâu. Do nối với sông Hậu bởi nhiều kênh đào lớn nên chế độ dòng chảy của sông cũng chịu ảnh hưởng của chế độ dòng chảy từ sông Hậu.
a.4 Sông Giang Thành:
Giang Thành có nguồn là một sông nhỏ xuất phát từ vùng núi phía Tây-Nam Campuchia, sau đó chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia và đổ ra biển qua đầm Đồng Hồ tại thị xã Hà Tiên. Hiện nay, sông Giang Thành được nối với kênh Vĩnh Tế nên chế độ dòng chảy cũng bị ảnh hưởng nhất định của sông Hậu.
a.5 Dọc theo sông Tiền và sông Hậu còn có rất nhiều sông, rạch lớn, nhỏ nối với nội đồng, tuy ít nhiều đã bị biến dạng và dần mất đi tính tự nhiên do hoạt động của con người, nhưng vẫn còn mang những nét thiên nhiên vốn có, như kênh Hồng Ngự, rạch Cần Lố, rạch Ruộng... (TST), rạch Cả Nai, sông Măng Thít, rạch Cần Chông... (GSTSH), sông Ô Môn, sông Cần Thơ... (HSH). Đặc điểm các sông, rạch này là có cửa vào lớn, sâu nhưng thu hẹp rất nhanh khi vào nội đồng.
a.6 Dọc biên giới Việt Nam-Campuchia cũng có một số sông, rạch chảy vào ĐBSCL, bao gồm:
- Sông Châu Đốc chảy song song rồi nối với sông Hậu tại Châu Đốc. Phía thượng nguồn sông Châu Đốc trên đất Campuchia có tên là Preek Ambel. Chảy vào sông Châu Đốc còn có một chi lưu quan trọng là sông Takeo ở phía hữu ngạn.
- Sông Sở Thượng-Sở Hạ chảy dọc theo biên giới ở ĐTM, là hạ lưu của 2 con sông Stung Slot và Prek Trabek từ Campuchia. Hai sông này đều đổ ra rạch Hồng Ngự rồi chảy ra sông Tiền. Sông Sở Hạ có một chi lưu là rạch Cái Cái, do được đào thông với kênh Phước Xuyên đi vào trung tâm ĐTM nên nước lũ từ Campuchia theo rạch này chảy trực tiếp vào ĐTM.
l) Hệ thống kênh đào
Hệ thống kênh đào ở ĐBSCL được phát triển chủ yếu trong vòng hơn 1 thế kỷ nay, với mục đích chính là phát triển nông nghiệp và giao thông thủy. Đến nay,
104 hệ thống kênh đào đã được đan dày ở cả 3 cấp là kênh trục/kênh cấp 1, kênh cấp 2 và kênh cấp 3/nội đồng.
Hệ thống kênh trục phát triển nối sông Hậu với biển Tây (TGLX, BĐCM), sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây (TST) và sông Tiền với sông Hậu (GSTSH), đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn nước trực tiếp từ sông chính vào đồng. Hệ thống kênh cấp 2 được mở rộng trên nhiều vùng ở ĐBSCL, đặc biệt là các vùng thâm canh lúa dọc sông Tiền và Hậu, nối các kênh trục với nhau, có nhiệm vụ phân phối nước tưới và tiêu nước thừa cho từng khu vực trong nội đồng. Kênh cấp 3 (hay còn gọi là kênh nội đồng) là cấp kênh nhỏ nhất nhưng lại rất quan trọng, vì đây là hệ thống kênh trực tiếp dẫn nước tưới đến và tiêu nước thừa đi cho từng thửa ruộng. Các cấp kênh trên đây hợp thành một hệ thống kênh mương khá dày, với mật độ 8-10 m/ha.
Điểm đặc biệt đây là hệ thống kênh mở và bán mở nên mọi tác động vào bất kỳ vị trí nào trong hệ thống kênh này đều có thể lan truyền ảnh hưởng đến các vùng lân cận. Sự xuất hiện hệ thống kênh đào đã làm dòng chảy của các sông thiên nhiên mất tính độc lập, làm ảnh hưởng đến dòng chảy sông Mê Công, đi đôi với nó là thủy triều và mặn xâm nhập sâu hơn vào đồng, cùng với chế độ dòng chảy nội đồng trở nên hết sức phức tạp.