CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG, NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
4. Lý thuyết về quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại
4.4. Nội dung quản lý nợ xấu
4.4.4. Xử lý nợ xấu
a) Biện pháp cơ cấu lại nợ
Sau khi xem xét, đánh giá lại tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, nếu nhận thấy có chiều hướng tích cực và có khả năng phát triển để thanh toán nợ xấu, thì Ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp cấu trúc lại. Khi đó, khoản nợ xấu được Ngân hàng giám sát một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ và sửa chữa sai sót.
Để giúp các tổ chức tín dụng có cơ chế xử lý nợ phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, NHNN đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN cho phép các TCTD giữ nguyên nhóm nợ đối với khoản nợ sau khi cơ cấu hoãn giãn nợ (bao gồm điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ). Với quyết định này của NHNN, các TCTD sẽ rà soát, đánh giá lại hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Bên cạnh đó, các khoản nợ xấu cũng sẽ được Ngân hàng giám sát một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ và sửa chữa sai sót. Điều này giúp khách hàng không bị tụt hạng tín nhiệm với Ngân hàng, từ đó Ngân hàng có cơ sở để cho vay tiếp.
Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà Ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp được Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành trong quy định số 1627/2001/QĐ- NHNN như sau để tiến hành cơ cấu lại nợ:
Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ:
Là việc tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về việc thay đổi các kỳ hạn trả nợ đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng. Được áp dụng khi khách hàng không trả nợ gốc hay lãi vay đúng kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng và có văn bản đề nghị thì tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Việc thực hiện điều chỉnh kỳ hạn trả nợ tạo điều kiện cho khách hàng vượt qua khó khăn tạm thời về tài chính và để phục hồi sản xuất kinh doanh, có nguồn trả nợ.
Gia hạn nợ:
24 Là việc Ngân hàng cho phép khách hàng kéo dài thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi so với kỳ hạn trả nợ trước đó đã được ký kết trong hợp đồng tín dụng. Theo quy định số 1627/2001/QĐ-NHNN của thống đốc Ngân hàng nhà nước thì thời hạn gia hạn nợ đối với cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng, đối với cho vay trung và dài hạn tối đa bằng ẵ thời hạn cho vay đó thỏa thuận trong hợp đồng tớn dụng. Đõy là phương pháp nhằm làm giảm áp lực đối với khách hàng. Tuy nhiên phương pháp này mang tính mạo hiểm khá cao.
Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả:
Tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng Ngân hàng, khách hàng sẽ được Ngân hàng xem xét áp dụng biện pháp này. Theo quy định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì tổ chức tín dụng được quyết định miễn nhiễm, giảm lãi vốn vay phải trả đối với khách hàng theo các nguyên tắc sau:
- Khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay dấn đến khó khăn về tài chính.
- Mức độ miễn, giảm lãi vốn vay phù hợp với khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
- Các tổ chức tín dụng phải ban hành Quy chế miễn, giảm lãi vốn vay đối với khách hàng được Hội đồng quản trị phê duyệt. Việc miễn, giảm lãi vốn vay đối với khách hàng chỉ được thực hiện khi tổ chức tín dụng có Quy chế miễn, giảm lãi vốn vay.
Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của Ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay.
b) Tổ chức thanh lý hợp đồng cho vay
Nếu Ngân hàng thấy rõ rằng khả năng cải thiện tình hình tài chính của khách hàng đi vay là xa vời hoặc người đi vay không có ý định trả nợ, có ý muốn trốn tránh trách nhiệm, lừa đảo; việc gia hạn hợp đồng cho vay hay cấp thêm vốn là mạo hiểm thì thanh lý được coi là một trong những cách hay nhất để xử lí một khoản cho vay đã trở thành nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn (thuộc nhóm 4 và 5). Việc thanh lý được thực hiện thông qua một số hình thức thông thường sau:
Đối với các khoản vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp:
Trong trường hợp Ngân hàng có đủ giấy tờ hợp pháp và có thể phát mại theo quy định của luật pháp để thu nợ thì có thể chuyển tài sản thế chấp đó sang trung
25 tâm bán đấu giá tài sản, hoặc xiết nợ đưa vào sử dụng, hoặc đem góp liên doanh..vv.
Tuy nhiên trong thực tế có nhiều khách hàng gian lận trong việc khai báo giá trị tài sản thế chấp mà Ngân hàng không phát hiện ra nhất là tình trạng dùng một tài sản thế chấp cho nhiều khoản vay ở các Ngân hàng khác nhau thì Ngân hàng có thể phát mại tài sản, song phải chờ quyết định phân chia số tiền Ngân hàng được nhận.
Nếu các khoản vay không có thế chấp, bảo đảm:
Trường hợp này Ngân hàng phải chờ sự phán quyết của toà án kinh tế mới có biện pháp thu hồi vốn như bán tài sản của người vay. Nếu người vay không có tài sản thì kết quả đòi nợ là vô hiệu hoá.
Khởi kiện :
Trong trường hợp khách hàng có những hành vi gian lận, cố tình lừa đảo Ngân hàng chiếm dụng vốn, bỏ trốn, lẩn tránh, sử dụng vốn sai mục đích gây thất thoát vốn.
Thu nợ bằng tài sản bảo đảm của khách không phải là biện pháp tốt nhất tuy nhiên là biện pháp rất cần thiết để giảm nhẹ thiệt hại cho Ngân hàng khi các khả năng xấu xẩy ra.
c) Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro
Theo thông lệ quốc tế, muốn xoá nợ tồn đọng phải có nguồn tiền nhất định. Ở Việt Nam, tiền dùng để xử lý nợ là từ quỹ dự phòng rủi ro của Ngân hàng hoặc từ Ngân sách nhà nước. Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD.
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN đã đưa ra công thức tính số tiền dự phòng cụ thể phải trích như sau:
Trong đó R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích A: giá trị của khoản nợ
C: giá trị của tài sản đảm bảo r : tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
R= max {0, (A-C)} x r
26 Các trường hợp sử dụng Dự phòng để xử lý rủi ro đối với các khoảng nợ:
- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích.
- Các khoản nợ thuộc nhóm 5 được quy định. Riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, tổ chức tín dụng được sử dụng dự phòng (nếu có) để xử lý rủi ro.
Thực chất của biện pháp này là Ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Việc sử dụng quá nhiều biện pháp này làm giảm thu nhập của Ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được.
d) Bán các khoản nợ cho các tổ chức có chức năng mua-bán nợ chuyên nghiệp
Đây là phương án xử lý nợ xấu nhanh nhất giúp Ngân hàng thu hồi một phần vốn kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới, nhằm cải thiện tình hình tài chính. Bằng cách này, Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân khác có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình. Khi bán các khoản nợ xấu, Ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Việc xử lý các khoản nợ đã mua này được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau tùy thực tế cụ thể tại khách nợ và đánh giá của công ty mua- bán nợ, như bán tài sản đảm bảo nợ, khai thác cho thuê tài sản, sử dụng tài sản đảm bảo để góp vốn với doanh nghiệp khác; thu nợ có chiết khấu hoặc bán nợ cho tổ chức kinh doanh nợ khác, xử lý tài chính để cơ cấu lại nợ và hoạt động kinh doanh của DN…
Ngoài ra, để thực hiện một cách có hiệu quả việc mua-bán nợ, các Ngân hàng thương mại thường chủ động thành lập Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC - Asset Management Company), có đầy đủ chức năng của một công ty xử lý nợ, bao gồm: tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản bảo đảm nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất; hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình các cơ quan có thẩm quyền cho phép Ngân hàng xóa nợ cho khách hàng; chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng thương mại theo giá thị trường;
cơ cấu lại nợ tồn đọng; xử lý các tài sản bảo đảm nợ vay; mua bán, xử lý nợ tồn đọng của các đơn vị khác theo quy định của pháp luật… Từ đó làm lành mạnh và
27 minh bạch hóa tình hình tài chính, đảm bảo kinh doanh an toàn và bền vững của Ngân hàng, giúp nguồn vốn trong nền kinh tế lưu chuyển thông thoáng hơn.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro chính mà Ngân hàng chắc chắn phải đối mặt.
Trong đó, tình hình nợ xấu luôn được đề cập đến ngày càng nhiều, trở thành vấn đề nan giải đối với các NHTM. Do đó việc giải quyết được những lý thuyết chung về nợ xấu và hoạt động quản lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại góp phần tạo cơ sở lý thuyết giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan ở các chương tiếp theo.