Nguyên nhân hình thành nợ xấu

Một phần của tài liệu kl le thi tuyet nhung 082592q (Trang 26 - 29)

CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG, NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3. Tổng quan về nợ xấu tại các Ngân hàng TMCP

3.3. Nguyên nhân hình thành nợ xấu

3.3.1.1. Xuất phát từ sự suy giảm của hoạt động kinh tế

Kể từ khi lạm phát và suy giảm kinh tế trên thế giới từ 2007 ngày càng lan rộng đến nay, hầu hết nền kinh tế toàn cầu đang ở trong giai đoạn suy giảm. Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tiêu thụ, tồn kho tăng cao.

Tình trạng này khiến khá nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đóng cửa do nhu cầu của thị trường ngày càng giảm, thị trường bất động sản trầm lắng, khả năng trả nợ cho Ngân hàng khá yếu, gây ra tình hình nợ xấu.

Bên cạnh đó, các yếu tố bất khả kháng như thiên tai, cũng như ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính, xã hội cũng khiến nền kinh tế bị suy thoái, hệ lụy kéo theo là tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của các hộ tiêu dùng cũng sẽ khủng hoảng. Vì vậy, khả năng hoàn trả các món nợ đã vay Ngân hàng cũng sẽ giảm sút; dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng. Đây cũng là nguyên nhân khiến nợ xấu vượt ra ngoài tầm kiểm soát và mong muốn của cả bản thân hệ thống Ngân hàng và bản thân người đi vay.

3.3.1.2. Sự thay đổi, mất ổn định của các cơ chế và hệ thống pháp luật Nhà nước

Nhà nước thường xuyên có sự điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế, do đó việc doanh nghiệp không theo kịp và thường xuyên rơi vào tình trạng bị động là điều dễ hiểu, khiến việc dự báo thị trường không sát, dẫn đến việc hiệu quả kinh doanh kém.

Mục tiêu của hoạt động kinh doanh chủ yếu là lợi nhuận. Tuy nhiên chỉ một thay đổi nhỏ trong hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc thua lỗ.

Ngoài ra, sự chồng chéo, phức tạp của các văn bản pháp luật cũng gây một trở ngại lớn trong việc xử lý các khoản nợ xấu của doanh nghiệp cũng như các Ngân hàng. Cụ thể như điều kiện cho vay có đảm bảo bằng tài sản vẫn là biện pháp an

14 toàn nhưng các quy định về tài sản đảm bảo vẫn còn có sơ hở, tạo điều kiện cho người vay lừa đảo.

3.3.1.3. Xuất phát từ khách hàng

* Đạo đức và uy tín khách hàng

Tính trung thực của khách hàng cũng là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cũng như rủi ro tín dụng của Ngân hàng. Nếu khách hàng cố ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của Ngân hàng hoặc khách hàng có tâm lý chai lỳ, không chịu trả nợ thì trong những trường hợp này Ngân hàng cũng khó thu hồi được khoản vay, và tất nhiên việc phát sinh các khoản nợ xấu là điều không thể tránh khỏi.

Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích là nguyên nhân phát sinh các khoản nợ quá hạn, từ đó làm phát sinh nợ xấu. Ngoài ra, những thông tin in trên báo cáo tài chính được coi là cơ sở để các cán bộ phân tích và đánh giá tình hình tài chính của khách hàng trong quá trình thẩm định khoản vay. Tuy nhiên có những báo cáo không được kiểm toán nên không có độ chính xác cao, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ, nhân tố quan trọng trong việc cho vay.

* Sự không tôn trọng, thiếu hiểu biết pháp luật của khách hàng

Nguyên nhân này có thể đẩy khách hàng tới tình trạng thua lỗ hoặc phá sản, không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Đôi khi một số doanh nghiệp mặc dù có hiểu biết pháp luật khá tốt về pháp luật nhưng lại cố tình vi phạm, khi bị pháp luật phát hiện, trong trường hợp xấu nhất là ngừng hoạt động và sẽ gây thiệt hại lớn cho Ngân hàng.

* Năng lực kinh doanh của khách hàng doanh nghiệp

Nếu người điều hành không sáng suốt với những quyết định sai lầm trong chiến lược kinh doanh, lựa chọn ngành nghề phù hợp, … dẫn đến làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ Ngân hàng. Nếu doanh nghiệp không quản lý nhân sự tốt sẽ giảm hiệu quả và năng suất lao động, giảm khả năng cạnh tranh và doanh nghiệp khó có thể đứng vững, dễ lầm vào tình trạng hoạt động không hiệu quả, Ngân hàng khó có thể thu hồi được nợ.

3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

* Kinh nghiệm hoạt động còn ít, trình độ cán bộ chưa đồng đều

Trình độ, kinh nghiệm của các cán bộ và lãnh đạo hệ thống NHTM còn nhiều bất cập trong quản lý, cũng như phân tích các thông tin kinh tế xã hội, phân

15 tích đánh giá dự án cho vay cũng còn nhiều yếu tố chủ quan, chậm phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn, dẫn đến những sai lầm trong các quyết định cho vay, đưa đến chất lượng tín dụng kém kéo dài.

* Công tác thẩm định còn sơ sót

Hầu hết các khoản nợ xấu bắt nguồn từ khâu thẩm định quá hời hợt của cán bộ tín dụng. Do không xác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu của khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý.

Cán bộ Ngân hàng đôi khi còn dễ dãi, qua loa trong phần kiểm tra sử dụng vốn, dẫn đến không phát hiện kịp thời những khó khăn của khách hàng ngay từ khi vừa nhen nhóm. Không ít khách hàng, khi được kiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho biết một phần vốn vay thực sự vào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích sửa nhà, mua sắm vật dụng, thậm chí là tiêu xài cá nhân... Đến khi phần vốn đầu tư kinh doanh thua lỗ, không còn nguồn khác để trả nợ Ngân hàng, thế là phát sinh nợ xấu. Mặt khác, tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng thường bị lãng quên trong quá trình thẩm định ban đầu.

Ngoài ra, các Ngân hàng còn chú trọng vào tài sản là bất động sản, nhà ở, đất ở trong khi thị trường bất động sản Việt Nam thường xuyên bất ổn. Việc định giá bất động sản dễ dãi, vượt quá giá trên thị trường, gây ra những cơn sốt nhà đất ảo, giá cả lên xuống bất thườn, không phản ánh đúng thực giá của tài sản đảm bảo, đồng thời không lường trước được những rủi ro pháp lý liên quan khi phải xử lý khiến việc định giá tài sản đảm bảo gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn rủi ro tín dụng.1

* Nguồn cung cấp thông tin.

Thực sự, ngoài những thông tin do khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng cũng gặp nhiều khó khăn với các kênh thông tin về khách hàng. Rất khó kiểm chứng được toàn bộ những thông tin mà khách hàng cung cấp cho Ngân hàng. Tâm lý một số cán bộ muốn đẩy phần rủi ro cho Ngân hàng khác bằng cách chỉ cung cấp thông tin tốt về khách hàng đó khi Ngân hàng bạn hỏi thăm.

Ngân hàng vẫn chưa có sự liên thông với các cơ quan khác như Thuế, Hải quan,... để kiểm chứng những thông tin tài chính do khách hàng cung cấp. Trừ những doanh nghiệp lớn, các công ty cổ phần do yêu cầu phải kiểm toán cáo báo

1 Ths. Lê Thị Kim Tuyến, “Gian nan con đường xử lý nợ xấu”, Tạp chí Ngân hàng Công thương Việt Nam

16 cáo tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ thống kế toán của chúng ta còn nhiều bất cập và chưa hoàn toàn thống nhất với các chuẩn mực của hệ thống kế toán thế giới. Thậm chí còn có doanh nghiệp sử dụng đồng thời hai hệ thống kế toán, một luôn lỗ hay lợi nhuận rất thấp để đối phó với cơ quan thuế và một rất đẹp đẽ khi đặt quan hệ giao dịch với Ngân hàng. 2

Một phần của tài liệu kl le thi tuyet nhung 082592q (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(94 trang)