Để đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của một Ngân hàng cần quan tâm đến rất nhiều yếu tố, trong đó chỉ tiêu về nợ quá hạn là không thể bỏ sót, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của Ngân hàng. Đây là chỉ tiêu thể hiện trực tiếp chất lượng công tác thẩm định phương án vay vốn của khách hàng. Đồng thời nó cũng phản ánh khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng đối với khách hàng cũng như uy tín của khách hàng đối với Ngân hàng.
53 Bảng 3.7: Tình hình nợ quá hạn CVTD BaoVietBank Cộng Hòa
Đơn vị tính : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2010
Nợ quá hạn 929, 412 130, 050
Nợ trong hạn 25.287, 588 20.012, 950
Tổng dư nợ CVTD 26.217, 000 20.143, 000
Nợ quá hạn/dư nợ CVTD 3, 54% 0, 64%
(Nguồn: Thống kê Dư nợ CVTD Phòng giao dịch Cộng Hòa)
Nợ quá hạn trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng là yếu tố không thể không gặp phải. Tỷ lệ nợ quá hạn tại Phòng giao dịch Cộng Hòa trong 2 năm nhìn chung là không quá cao. Năm 2010, nợ quá hạn chỉ chiếm khoảng 0,64% tổng dư nợ CVTD. Tuy nhiên đến năm 2011, nợ quá hạn tăng khá nhanh, từ 130,05 triệu đồng tăng lên 929,412 triệu đồng, tức là từ 0,64% năm 2010 tăng lên 3,6%. Nguyên nhân là do trong thời gian qua Phòng giao dịch thực hiện chính sách thu hút khách hàng, quy mô tín dụng tiêu dùng ngày càng tăng nên dư nợ quá hạn cũng tăng theo.
Hơn nữa do chịu tác động của lạm phát cao kéo dài trong năm 2011 nên nguồn trả nợ của khách hàng cũng ít nhiều bị ảnh hưởng, dẫn tới tình trạng chậm trễ trong việc hoàn trả các khoản nợ cho Ngân hàng, gây ra tình trạng nợ quá hạn tăng nhanh.
Tuy tỷ lệ này vẫn nằm trong ngưỡng chấp nhận được theo quy định của NHNN nhưng việc gia tăng quá nhanh hình thức nợ này cũng bị cho là dấu hiệu không tốt.
2.1. Tình hình nợ xấu của hoạt động cho vay tiêu dùng PGD Cộng Hòa Như đã trình bày chương Tổng quan lý thuyết, một món vay tín dụng được chia làm 5 nhóm nợ, trong đó nợ nhóm 3, 4, và 5 được xếp vào loại “Nợ xấu” trong hoạt động tín dụng Ngân hàng. Thời gian vừa qua, tình hình nợ xấu được đề cập rất nhiều và luôn được coi là vấn đề cấp bách đối với nền kinh tế nói chung và lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng nói riêng.
Cùng với việc mở rộng quy mô hoạt động tín dụng thì Ngân hàng cũng phải gánh chịu mức rủi ro tương ứng. Do đó, nợ xấu là không thể tránh khỏi ở bất cứ Ngân hàng nào, Phòng Giao dịch Cộng Hòa – Ngân hàng TMCP Bảo Việt cũng không ngoại lệ.
54 Bảng 3.8: Nợ xấu của Cho vay tiêu dùng tại PGD Cộng Hòa
Đơn vị tính : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2010
Nợ xấu 188,464 0
Nợ quá hạn 929,412 130,050
Tổng dư nợ CVTD 26.217,000 20.143,000
Nơ xấu/ Nợ quá hạn 20,27% 0%
Nợ xấu/dư nợ CVTD 0,72% 0%
(Nguồn: Thống kê dư nợ PDG Cộng Hòa)
Bảng thống kê cho thấy, trong năm 2010 hoạt động cho vay tiêu dùng của Phòng Giao dịch Cộng Hòa, gần như không phát sinh nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu là 0%
tổng dư nợ CVTD. Điều này có được là do cơ cấu cho vay tiêu dùng về thời hạn vay chủ yếu là các khoảng vay trung và dài hạn, phục vụ mục đích mua nhà, đất, sửa chữa nhà ở và mua xe ô tô, phương tiện giao thông vận tải , … Do đó, trong vòng 1 năm đầu tiên, dấu hiệu phát sinh rủi ro tín dụng chưa bộc lộ nhiều. Mặt khác, đối với các khoản vay ngắn hạn trong cho vay tiêu dùng, Phòng giao dịch đã thực hiện khá tốt công tác thu nợ, trong một số trường hợp khoản vay ngắn hạn bị quá hạn, phòng Giao dịch cũng đã rất linh động trong việc cho khách hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc cho khách hàng đáo hạn khoản vay, nhờ đó mà hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ xấu. Con số Nợ xấu bằng 0 được coi là một con số lý tưởng về hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh được đúng chất lượng tín dụng vì tính tới cuối năm 2010, Phòng Giao dịch Cộng Hòa chỉ mới đi vào hoạt động được khoảng 1 năm, các rủi ro tín dụng tiềm ẩn chưa biểu hiện ra ngoài, cụ thể như một số món nợ chưa đến hạn nhưng chất lượng không cao, nguy cơ gia hạn và phát sinh nợ quá hạn vẫn lớn, …
Nợ quá hạn của hoạt động cho vay tiêu dùng năm 2011 tăng nhanh kéo theo hệ lụy nợ xấu đã bắt đầu xuất hiện, cụ thể năm 2011 nợ xấu xấp xỉ là 189 triệu đồng, chiếm 0,72% trên tổng dư nợ cho vay tiêu dùng, phần lớn tập trung ở các khoản vay tiêu dùng ngắn hạn như vay khám chữa bệnh, du lịch,... Tuy đây không phải là tỷ lệ quá cao nhưng so với năm 2010, nợ xấu đã phát sinh và đang có nguy
55 cơ gia tăng, chứng tỏ rủi ro của Ngân hàng đang tăng lên trông thấy. Nguyên nhân là do công tác thẩm định hồ sơ trước khi vay có sự thiếu sót của một số cán bộ tín dụng. Mặc khác tình hình lạm phát những tháng giữa năm 2011 cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của khách hàng, từ đó ít nhiều ảnh hưởng đến nguồn trả nợ của khách hàng, khiến một số khách hàng chậm trễ trong việc trả nợ.
Như vậy, qua năm thứ 2 hoạt động, thông qua việc phân tích tình hình nợ xấu, nợ quá hạn có thể nhận ra rằng chất lượng công tác tín dụng tại Phòng Giao dịch Cộng Hòa đã dần có dấu hiệu hoạt động kém hiệu quả.
2.2. Phân loại nợ xấu CVTD
Mặc dù trước khi cho vay, bất cứ Ngân hàng nào cũng đã tính toán và cân nhắc rất kỹ đến các yếu tố liên quan đến uy tín, khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng, nhưng vẫn không thể tránh khỏi sự phát sinh cũng như tồn tại của các rủi ro tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu có ảnh hưởng lớn đến hoạt động Ngân hàng vì nó vừa phản ánh chất lượng tín dụng vừa thể hiện mức độ an toàn của hoạt động tín dụng. Do đó, điều quan trọng nhất là nợ xấu phải được phân loại, ghi nhận, để có thể dễ dàng trong việc phân tích, đánh giá cũng như đề xuất phương án giải quyết hiệu quả cho tình hình nợ xấu của mỗi Ngân hàng.
Bảng 3.9 : Phân loại nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011 Dư nợ Tỷ trọng Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) 176,948 93,89%
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) 11,516 6,11%
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) 0,000 0%
Tổng nợ xấu 188,464 100%
(Nguồn: Bảng thống kê dư nợ tại PGD Cộng Hòa năm 2011 )
Hình 3.5: Biểu đ
Nhìn vào bảng th khoản nợ xấu chuyển bi Nợ nhóm 3 ( khá lớn trong tổng dư n 183,053 triệu đồng, chi
Nợ nhóm 4 ( năm 2011 chiểm tỷ lệ
6,1% tổng dư nợ xấu cho vay tiêu dùng Nợ nhóm 5 (N
nghiêm trọng nhất đến ho bất cứ lúc nào, làm gi
nhiên rất may là trong năm 2011 Ph cấu nợ xấu. Trong khi đó
nhưng lại không phát sinh n dịch đã quán triệt đầy đ phòng ban, cán bộ nhân viên.
Tỷ lệ nợ không thu h được thẩm định ngày càng k khoản vay đã tiến hành hi quan về nhóm nợ này
u đồ phân loại nợ xấu của hoạt động cho vay tiêu dùng t Cộng Hòa năm 2011
ng thống kê và biểu đồ trên, ta dễ dàng nh n biến tích cực qua các năm. Cụ thể như sau :
(nợ dưới tiêu chuẩn) : Nhìn chung, nợ nhóm 3 chi ng dư nợ xấu Cho vay tiêu dùng năm 2011, c
chiếm 92,3% tổng dư nợ xấu hoạt động cho vay tiêu dùng.
(Nợ nghi ngờ ) : Ngược lại với nợ nhóm 3 khá nhỏ. Cụ thể năm 2011, tỷ lệ nợ nhóm 4 ch u cho vay tiêu dùng, tương đương với 11,915 tri
(Nợ không thu hồi được): Đây được coi là nhóm n n hoạt động của Ngân hàng, có thể khiến
làm giảm doanh thu và nguồn vốn kinh doanh c t may là trong năm 2011 Phòng Giao dịch không tồn tại n
u. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng theo phân tích là khá nhanh i không phát sinh nợ không thu hồi được, điều này ch
y đủ, chính xác và kịp thời các chính sách tín d nhân viên.
không thu hồi được bằng 0, phần nào chứng t nh ngày càng kỹ càng, sát sao hơn, cũng như quá tr
n hành hiệu quả hơn. Tuy nhiên, Phòng giao d
này, bởi có thể trong thời gian đầu, nợ nhóm 5 chưa phát sinh 176,948
11,516 0
Phân loại nợ xấu năm 2011
56 ng cho vay tiêu dùng tại PDG
dàng nhận thấy cơ cấu các như sau :
nhóm 3 chiếm tỷ trọng cụ thể con số này là ng cho vay tiêu dùng.
nhóm 3, tỷ lệ nợ nhóm 4 nhóm 4 chỉ chiếm khoảng
915 triệu đồng.
c coi là nhóm nợ ảnh hưởng n Ngân hàng mất vốn n kinh doanh của Ngân hàng. Tuy i nợ nhóm 5 trong cơ ng theo phân tích là khá nhanh, u này chứng tỏ Phòng Giao i các chính sách tín dụng tới các ng tỏ các khoản vay đã ư quá trình theo dõi các Phòng giao dịch không được chủ hóm 5 chưa phát sinh,
2011
Nợ nhóm 3 Nợ nhóm 4 Nợ nhóm 5
57 nhưng theo thống kê nợ nhóm 3và nhóm 4 đã hình thành. Do đó nếu Phòng giao dịch không đưa ra những biện pháp tích cực hơn nữa trong việc theo dõi và quản lý các nhóm nợ, nguy cơ phát sinh nhóm nợ không thể thu hồi sẽ xảy ra trong thời gian tới.