5.1. Mặt đạt được
Từ những phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng mặc dù mới được thành lập nhưng BaoVietBank Cộng Hòa cũng đã được đạt được một số kết quả đang khích lệ như sau:
Phòng Giao dịch đã thực hiện đúng những định hướng chiến lược kinh doanh đúng đắn với chính sách tiền tệ của Nhà nước, tuân thủ theo các quy định và quyết định của BaoVietBank, từ đó đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế và bản thân Ngân hàng.
Tuy đi vào hoạt động chưa thật sự lâu, nhưng Phòng giao dịch Cộng Hòa cũng đã quan tâm đến công tác hạn chế, quản lý rủi ro tín dụng nói chung và nợ xấu nói riêng. Song song với việc tăng trưởng tín dụng cho vay tiêu dùng khá nhanh, chất lượng tín dụng cũng được nâng cao, nợ xấu chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu nợ của hoạt động cho vay tiêu dùng và tính đến cuối năm 2011, tình trạng nợ không có khả năng thu hồi vẫn chưa xuất hiện, đây được coi là một tín hiệu khả quan cho công tác quản lý nợ xấu.
Phòng Giao dịch cũng nhận thức được tầm quan trọng của cán bộ tín dụng trong việc xem xét, giải Ngân các khoản vay nên cũng đã có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, đào tạo hợp lý để phục vụ cho công tác thẩm định tín dụng được hiệu quả hơn. Cán bộ tín dụng nhiệt tình, quan tâm đến khách hàng.
5.2. Mặt hạn chế
5.2.1. Công tác nhận diện rủi ro và dự báo tiềm ẩn rủi ro chưa hiệu quả Phòng Giao dịch chưa xây dựng được một quy trình cụ thể để nhận diện rủi ro tín dụng nói chung và nợ xấu nói riêng. Hiện tại, Phòng giao dịch chủ yếu chỉ dựa vào các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng TMCP Bảo Việt và kinh nghiệm thực tế để thống kê, đánh giá. Công tác dự báo nợ xấu chưa kịp thời, trường hợp chất lượng tín dụng giảm sút, nợ xấu tăng cao mới chỉ đạo các biện pháp khắc phục.
Việc thu thập thông tin tín dụng chưa đầy đủ, kịp thời, chưa có tính hệ thống và chính xác, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa bộ phận cung cấp thông tin và bộ
63 phận sử dụng thông tin. Vấn đề này được thể hiện rõ nhất trong chất lượng thẩm định tín dụng, cán bộ tín dụng thường nắm thông tin một cách tổng hợp, chỉ tiếp nhận một cách riêng lẻ.
5.2.2. Chất lượng thẩm định tín dụng chưa cao
Tuy tốc độ tăng trưởng tín dụng là khá nhanh nhưng nhìn chung công tác thẩm định, phân tích hồ sơ xin vay vốn của khách hàng thiếu sự xác nhận từ nguồn thông tin khác, nội dung thẩm định còn chưa toàn diện, chưa chính xác làm giảm hiệu quả thẩm định, khả năng phân tích ngành nghề kinh tế, tác động của xã hội lên nguồn trả nợ của khách hàng còn hạn chế. Sự kém hiệu quả trong hoạt động tín dụng mà cụ thể là công tác thẩm định tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý rủi ro nói chung và quản lý nợ xấu nói riêng của Ngân hàng.
5.2.3. Nợ xấu vẫn tiềm ẩn và có xu hướng gia tăng
Dễ dàng nhận thấy hiện trạng này thông qua bảng thống kê dư nợ xấu tại Phòng Giao dịch. Trong khi năm 2010, tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng gần như đạt đến con số lý tưởng là 0, thì đến cuối năm 2011, nợ xấu tăng lên một cách đáng kể là 0,72% tổng dư nợ cho vay tiêu dùng.
Hiện tại, dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng khá lớn, tới 77,41%
dư nợ cho vay tiêu dùng, trong khi vốn huy động của Phòng Giao dịch chủ yếu là ngắn hạn, nên có thể phát sinh rủi ro.
Cùng với đó, dư nợ cho vay xây dựng, mua bán và sửa chữa nhà chiếm 64,71% tổng dư nợ cho vay tiêu dùng năm 2011, đây là các khoản vay trung và dài hạn nên khả năng thu hồi vốn vay đối với nhu cầu vốn này cũng gặp khó khăn do giá nhà đang tăng cao, vượt quá khả năng thu nhập của đại đa số người có nhu cầu mua nhà để ở, nên khả năng tiêu thụ nhà có xu hướng chậm lại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nguy cơ nợ xấu phát sinh là rất lớn.
5.2.4. Các biện pháp xử lý nợ xấu chưa thực sự đa dạng
Biện pháp chủ yếu mà Phòng Giao dịch sử dụng hiện nay là đẩy mạnh thu hồi nợ trực tiếp, xử lý tài sản đảm bảo, dùng quỹ dự phòng rủi ro cũng như các biện pháp pháp lý. Trong khi đó, Phòng giao dịch chưa triển khai được nhiều biện pháp thu hồi nợ xấu.
5.3. Nguyên nhân
5.3.1. Chưa quan tâm sát sao đến tình hình nợ xấu
64 Công tác quản lý tín dụng còn nhiều hạn chế trong việc chậm điều chỉnh, ban hành các cơ chế, chính sách tín dụng phù hợp, không có các chính sách phòng ngừa rủi ro hoặc có nhưng chưa hoàn thiện.
Sở dĩ nợ xấu vẫn còn tiềm ẩn và có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới là do Phòng giao dịch vẫn chưa thật sự quan tâm sát sao đến tình hình nợ xấu mà chủ yếu chỉ tập trung vào giai đoạn quản lý nợ sau khi đã cho vay. Do vậy đã bỏ qua giai đoạn trước khi cho vay và giai đoạn giải ngân cho khách hàng. Trong khhi nợ xấu có thể phát sinh bất cứ lúc nào từ các khâu trong quá trình cấp tín dụng của Ngân hàng. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do đối tượng vay vốn thường xuyên thay đổi mà đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, vì vậy Ngân hàng không liên hệ thường xuyên với khách hàng.
Ở giai đoạn trước cho vay, việc không chấp hàng nghiêm túc chế độ tín dụng, điều kiện cho vay, xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không tốt sẽ dẫn đến phát sinh nợ xấu trong tương lai.
Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: quá trình giải ngân không tuân thủ theo quy định tín dụng, yếu kém trong khâu kiểm soát, không theo dõi chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, cũng dẫn đến khả năng phát sinh nợ xấu trong tương lai.
5.3.2. Quy trình nghiệp vụ Ngân hàng còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ
Do đó dẫn đến tình trạng khách hàng lợi dụng, lừa đảo, chiếm đoạt vốn của Ngân hàng. Quy trình tín dụng lỏng lẽo, không chặt chẽ, không thống nhất nên dễ xảy ra tình trạng Phòng Giao dịch vô tình cấp khoản vay cho những khách hàng không có khả năng trả nợ, hoặc nguồn trả nợ bất ổn định.
Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh ngày càng gây gắt với các Ngân hàng khác, để thu hút khách hàng, trong một số trường hợp, Phòng Giao dịch đã đơn giản hóa các thủ tục vay vốn cho khách hàng, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, … điều này vô tình là nguyên nhân đẩy Phòng giao dịch tới gần hơn với nguy cơ nợ xấu phát sinh.
5.3.3. Chất lượng, kinh nghiệm nguồn nhân lực tín dụng còn hạn chế Vì lý do đặc thù là Phòng Giao dịch chỉ mới đi vào hoạt động trong vòng hơn hai năm nay, cho nên mặc dù đã thực hiện chính sách tuyển chọn những cán bộ có trình độ, có năng lực, được đào tạo đúng chuyên ngành, tuy nhiên nhìn chung so với các Phòng giao dịch khác, đội ngũ nhân viên của BaoVietBank còn rất trẻ, do đó chưa thật sự có nhiều kinh nghiệm thực tế.
65 Bên cạnh đó, kỹ năng thương lượng, đàm phán với khách hàng, tính chủ động trong công việc, khả năng kiểm soát chứng từ vay của một số nhân viên tín dụng còn thấp. Mặc dù Phòng Giao dịch cũng đã cử người đi học và tiến hành tổ chức những khóa học đào tạo nội bộ cho cán bộ tín dụng nhưng do kinh phí có hạn và tình trạng thiếu chuyên gia giỏi để giảng dạy nên nhìn chung việc đào tào chưa đạt hiệu quả cao.
Hơn nữa, do khối lượng công việc nhiều, số lượng khách hàng có nhu cầu vay các khoản cho vay tiêu dùng khá lớn, nên cán bộ tín dụng tại Phòng Giao dịch khó có thể bao quát hết được các khách hàng. Bên cạnh đó, nguyên nhân này cũng khiến cho nhân viên tín dụng ít có thời gian thực tế khách hàng, vì vậy không thể tránh khỏi trường hợp thiếu sót trong việc nắm bắt tìn hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng, gây ảnh hưởng đến công tác thẩm định, chăm sóc khách hàng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương này thông qua việc phân tích thực trạng tình hình cho vay tiêu dùng, tình hình nợ xấu cũng như công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Phòng giao dịch Cộng Hòa bằng việc phân tích các chỉ tiêu như Dư nợ vay, tình hình thu nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, qua đó thấy được thực trạng công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động Cho vay tiêu dùng tại Phòng Giao dịch, từ đó nêu lên được những mặt đạt được và hạn chế của công tác quản lý nợ xấu, đồng thời cũng làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó.