Chương 2. MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 357 2.1. Khái niệm môi trường
2.2. Phân loại môi trường
Môi trường kinh doanh được phân loại thành:
- Môi trường bên ngoài (External Environment) bao gồm: Môi trường vĩ mô (Macro/General Environment) và Môi trường vi mô (Micro/Operating Environment)
- Môi trường bên trong (Internal Environment)
Trong môi trường kinh doanh luôn luôn biến đổi như ngày nay, việc nghiên cứu môi trường đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên đo lường, đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và phải dự đoán được xu hướng vận động và biến đổi của từng yếu tố để có những dự liệu và kế hoạch ứng phó.
2.2.1. Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là môi trường tổng quát được hình thành từ những điều kiện chung nhất của một quốc gia, bao gồm các yếu tố như kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v…
Môi trường này có những đặc điểm như sau:
- Bất kỳ sự thay đổi nào của môi trường vĩ mô cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường vi mô và môi trường nội bộ của doanh nghiệp.
- Sự thay đổi của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng xấu hoặc tốt đối với doanh nghiệp.
- Các yếu tố của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác.
- Doanh nghiệp khó có thể tác động làm thay đổi môi trường vĩ mô, mà chỉ có thể tự thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
Kinh tế
Yếu tố kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào, bởi nó ảnh hưởng đến những quyết định của doanh nghiệp như việc lựa chọn thị trường, lĩnh vực tham gia, phân khúc thị trường, v.v… Một số điểm quan trọng cần xem xét khi nghiên cứu yếu tố kinh tế có thể kể đến như:
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Trong kinh tế học, GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm quốc nội, tức là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Còn GNP (Gross National Product) là tổng sản phẩm quốc dân, tức là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian (thông thường là một năm), không kể trong hay ngoài nước.
GDP và GNP là những chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước. Việc xem xét các chỉ tiêu GDP, GNP sẽ giúp doanh nghiệp xác định được tình hình kinh tế chung của quốc gia hay thu nhập và mức sống của người dân, từ đó dự báo nhu cầu tiêu dùng và khả năng chi trả của họ. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một chỉ tiêu GDP để đánh giá tình trạng phát triển của nền kinh tế thì không toàn diện và chính xác, bởi chỉ tiêu này chỉ hiển thị ở sản phẩm hàng hóa, mà chưa
tính đến các khía cạnh như chất lượng cuộc sống, sự phân phối thu nhập giữa các nhóm xã hội hay sự suy giảm về môi trường.
- Lãi suất và tỷ giá hối đoái
Lãi suất và tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh đầu tư, vay vốn và hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Lãi suất và tỷ giá hối đoái được xem là những công cụ tài chính vĩ mô mà Nhà nước thường sử dụng để tác động đến thị trường tài chính và nền kinh tế quốc gia.
Trên thực tế tại Việt Nam, từ năm 2011 đến nay, Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu như Nhà nước muốn thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, Nhà nước sẽ nâng cao lãi suất cơ bản, để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi của người dân vào hệ thống ngân hàng.
Ngược lại, nếu Nhà nước muốn thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ, Nhà nước sẽ chủ động giảm lãi suất cơ bản, để khuyến khích người dân đầu tư nguồn tiền nhàn rỗi của mình vào những kênh đầu tư khác (như bất động sản, chứng khoán, v.v...).
Biểu đồ 2.1. Các lãi suất chủ chốt 2011 - 2014 (Nguồn: SBV)
- Lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế, được đo lường thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index). Mức tăng hay giảm của lạm phát sẽ phản ánh xu thế tiêu dùng và tâm lý của người dân.
Lạm phát vừa phải được xem là yếu tố giúp tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nếu lạm phát quá lớn cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt
động xoay đồng vốn, định giá sản phẩm, trả lương công nhân viên của doanh nghiệp.
Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 - 2008 đến nay vẫn gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đối với kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, trong đó, chỉ số giá tiêu dùng CPI và mức lạm phát của Việt Nam không ngừng gia tăng qua các năm. Có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát, bao gồm những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ tiền tệ, tín dụng, tài khóa, những xuất phát từ cơ cấu nền kinh tế và hiệu quả đầu tư; và cả những nguyên nhân khách quan như: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càng tăng cao; sự tăng lên của chi phí sản xuất; sự tăng giá của các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ thiết yếu.
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ lạm phát của các nước trong khu vực Đông Nam Á - Diễn biến trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được xem là biểu đồ sức khỏe của một nền kinh tế, nó phản ánh sự phát triển lành mạnh hay yếu ớt của các doanh nghiệp, cũng như những biến động kinh tế trong quốc gia và thế giới. Thị trường chứng khoán cũng là một trong những kênh giúp doanh nghiệp thu hút đầu tư từ bên ngoài, ngoài những kênh thông thường như ngân hàng, chính sách vay vốn của Nhà nước, v.v…
Do đó, những diễn biến trên thị trường chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp, uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường nói riêng và những chính sách, yếu tố liên quan khác của của một nền kinh tế nói chung, bao gồm chính sách tỷ giá, lãi suất hay các chính sách huy động vốn của hệ thống ngân hàng, của chính phủ (trái phiếu, công trái), v.v…
Chỉ cần bất cứ một động thái của các quốc gia về chính sách kinh tế hay đường lối chính trị, đều ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán của quốc gia đó và có thể ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán của nhiều nước trên thế giới.
- Xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là việc mua bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới. Thông qua xuất nhập khẩu, các quốc gia có thể tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách nhà nước, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo sự cạnh tranh về hàng hóa và nâng cao mức sống của người dân.
Riêng tại Việt Nam, nhờ chính sách mở cửa và hợp tác giao thương, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, mà kinh tế quốc gia và đời sống người dân có nhiều cải thiện.
Biểu đồ 2.3. Kim ngạch 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất tháng 2/2013 và tháng 2/2014
Biểu đồ 2.4. Kim ngạch 10 mặt hàng nhập khẩu lớn nhất tháng2/2013 và tháng2/2014
(Nguồn: Tổng cục Hải quan) Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Hải quan, năm 2012, Việt Nam có 33 thị trường lớn, trong đó 28 thị trường có tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt từ 1 tỷ USD trở lên. Trong đó, linh kiện điện tử, dệt may, dầu thô là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, xuất nhập khẩu ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, chính vì vậy, không chỉ Nhà nước mà các doanh nghiệp đều phải chú ý đến các chính sách xuất nhập khẩu và có những chiến lược mở rộng kinh doanh quốc tế nhằm phục vụ đường lối chính trị, cũng như gia tăng thị phần và nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình.
Với sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng đều bị tác động bởi những chính sách, đạo luật kinh tế và cả quan hệ chính trị của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, v.v…
Chính vì vậy, việc xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp đòi hỏi Nhà nước phải đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp và cả phía doanh nghiệp cũng phải phân tích rõ môi trường hoạt động của mình để dự báo những rủi ro và vạch ra những hướng đi chiến lược cho chính mình.
Môi trường chính trị - pháp luật
Một quốc gia có nền chính trị ổn định và hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ tạo những điều kiện tốt để doanh nghiệp đầu tư phát triển. Bất kỳ sự thay đổi các chính sách hay các đạo luật của một quốc gia đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt tốt những quy định về luật pháp, những ưu tiên, chính sách khuyến khích của nhà nước để quá trình hoạt động của mình được thuận lợi. Một số điểm doanh nghiệp cần lưu ý có thể kể đến như:
- Luâ ̣t cho vay, vay
- Đa ̣o luâ ̣t bảo vê ̣ môi trường - Sự ổn đi ̣nh của chính quyền - Luâ ̣t quảng cáo
- Luâ ̣t lê ̣ về thuế khóa
- Những quy định chung của chính phủ liên quan đến ngành
Cụ thể như thông tư số 09/2010 của Ngân hàng Nhà nước về việc cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần đã quy định mức vốn điều lệ tối thiểu để thành lập ngân hàng bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật tại thời điểm thành lập, nghĩa là phải có tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Điều này mặc dù sẽ tạo khó khăn cho những ngân hàng nhỏ lẻ, nhưng mặt khác cũng nhằm đảm bảo năng lực tài chính cho ngân hàng, từ đó, bảo vệ các khách hàng.
Môi trường văn hóa - xã hội
Tác động và chi phối hành vi tiêu dùng, ứng xử của con người, yếu tố này đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến việc xây dựng hình ảnh, sứ mệnh của doanh nghiệp như thế nào, cũng như xây dựng hình ảnh sản phẩm trên thị trường. Yếu tố này bao gồm các khía cạnh:
- Những phong tục, tập quán truyền thống - Các chuẩn mực đạo đức
- Niềm tin tôn giáo
- Trình độ nhận thức, trình độ học vấn - Tính linh hoa ̣t của người tiêu dùng
Giao lưu và hội nhập văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ giữa các quốc gia, bởi quá trình di cư, giao thương và đặc biệt là sự phát triển công nghệ Internet. Văn hóa có thể tạo ra những rào cản đối với sự xâm nhập
của doanh nghiệp và cũng có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phải không ngừng tìm hiểu văn hóa của các khu vực mà doanh nghiệp muốn thâm nhập, để có thể thích ứng và tác động chi phối hành vi người tiêu dùng.
Sự thất bại của gã khổng lồ Wal-Mart tại Hàn Quốc bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó, nổi bật nhất là sự thiếu hiểu biết của WalMart về văn hóa tiêu dùng của người Hàn Quốc.
Wal-Mart xâm nhập thị trường Hàn Quốc vào năm 1998 và đến năm 2006, hãng đã phải bán lại các cửa hàng cho Shinsegae, tập đoàn bán lẻ Hàn Quốc. Nhiều người tiêu dùng Hàn Quốc ban đầu đến mua hàng tại Wal-Mart bởi hãng nổi tiếng là siêu thị bán lẻ giá rẻ, nhưng với những núi hàng cao ngất và cách đóng gói hàng hóa quá kỹ đã khiến nhiều khách hàng e ngại khi muốn xem xét cẩn thận món hàng.
Trong khi Wal-Mart có thế mạnh trong việc buôn bán mặt hàng gia dụng, thì Shinsegae lại chú trọng thực phẩm tươi sống và rau củ quả, nhờ đó đã thu hút được người tiêu dùng Hàn Quốc. Rõ ràng, với sự hiểu biết về thị hiếu và văn hóa tiêu dùng của người dân địa phương, mà Shinsegae đã đánh bật đối thủ nặng ký của mình.
Môi trường dân số
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến cả đầu vào (thị trường lao động) và đầu ra (quy mô thị trường sản phẩm) của doanh nghiệp. Các khía cạnh doanh nghiệp cần xem xét gồm:
- Tổng số dân, tỷ lệ tăng dân - Tuổi tác, giới tính, dân tộc - Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử, tuổi thọ
- Xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng
Đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, tháp dân số thường là tháp dân số trẻ. Ở những quốc gia này, số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn, nhờ đó, giá nhân công khá thấp, tuy nhiên, đi kèm với đó là những bất lợi như trình độ lao động không cao, khoa học kỹ thuật chưa phát triển,... Doanh nghiệp đầu tư vào các quốc gia này có thể xâm nhập vào những ngành thâm dụng lao động nhằm giảm chi phí nhân công hoặc doanh nghiệp cũng có thể phát triển các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của những người trong độ tuổi lao động, cụ thể như dịch vụ đào tạo, du lịch,…
Ngược lại, ở những quốc gia phát triển, có tháp dân số già, có chất lượng cuộc sống khá tốt, trình độ lao động cao, nhưng rất ít lao động phổ thông nên giá nhân công cũng là một gánh nặng chi phí. Doanh nghiệp thâm nhập vào những thị trường này buộc phải đầu tư vào những ngành thâm dụng vốn, đòi hỏi công nghệ cao hay phát triển những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao thuộc các mảng như dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu chế tạo robot,…
Việc xác định cơ cấu dân số, xu hướng dịch chuyển dân cư,... sẽ giúp doanh nghiệp xác định được nguồn lao động của mình, cũng như số lượng khách hàng mục tiêu và nhu cầu của họ, để nhận dạng tiềm năng phát triển sản phẩm.
Xem xét trường hợp của Ấn Độ, một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới, sẽ cho thấy rõ điều này. Nhờ lợi thế dân số đông với 1,2 tỷ người, trong đó, hơn 50% dân số dưới 25 tuổi, nguồn nhân lực trong lĩnh vực phần mềm tại quốc gia này đã có sự phát triển nhanh chóng. Thậm chí, theo dự báo của InfoWorld, Ấn Độ sẽ vượt qua Mỹ về số lượng các nhà phát triển phần mềm vào năm 2017.
Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan, các nguồn tài nguyên,... Môi trường tự nhiên cung cấp những nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho doanh nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Bungari là một trong những nước sản xuất tinh dầu hoa hồng lớn nhất thế giới, bởi vùng đất “Thung lũng hoa hồng” của quốc gia này được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, phù hợp với việc trồng hoa hồng lấy tinh dầu. Ngoài việc đẩy mạnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu tinh dầu hoa hồng, Bungari còn khai thác du lịch bằng cách tổ chức Lễ hội hoa hồng hàng năm tại thành phố Kazanlak, miền trung Bungari, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế.
Rõ ràng Bungari đã dựa vào lợi thế tài nguyên thiên nhiên và nhờ vào chính sách bảo vệ phát triển tài nguyên thiên nhiên của mình để phát triển kinh tế. Do đó, việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường, điều này không những thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, khách hàng và với xã hội, mà đó còn là đạo đức kinh doanh của những nhà quản trị chân chính.
Hiện nay, việc bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người đang là vấn đề nhức nhối của toàn thế giới. Với việc khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế quá nhanh, nhiều quốc gia hiện đang phải gánh lấy những hậu quả nặng nề như sự xuống cấp của môi trường sống, sự mất cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, v.v...
Riêng tại Việt Nam, theo bản báo cáo môi trường EPI 2014 (The Environmental Performance Index) do trường Đại học Yale và Columbia phối hợp với Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thực hiện trên 178 quốc gia, Việt Nam xếp hạng 136 về đánh giá tổng thể môi trường và xếp thứ 170 về chỉ số ô nhiễm không khí.
Có nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam như mật độ dân số quá đông, nguồn khí thải giao thông vận tải tăng mạnh, việc kiểm soát khí thải và nước thải xả ra từ các doanh nghiệp chưa được kiểm soát, luật môi trường chưa chặt chẽ và chưa có tính răn đe, v.v…
Ô nhiễm môi trường không chỉ gây thiệt hại với ngành du lịch, kinh tế, y tế, mà còn gây ra các bệnh đường hô hấp và ung thư cho người dân, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bền vững của quốc gia và sự phát triển thể chất của các thế hệ sau.
Chính vì vậy, việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu thay thế hay phát triển những công nghệ sạch đang là yêu cầu cấp thiết của toàn thế giới. Cụ thể như trước mối lo ngại nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, dầu thực vật đang được xem là nhiên liệu thay thế tốt nhất. Hiện nhu cầu sử dụng dầu thực vật đang tăng mạnh, đặc biệt trong các ngành như thực phẩm, nhiên liệu sinh học, công nghiệp hóa chất hoặc một số ngành công nghiệp khác.
Năng lượng mặt trời cũng là một dạng tài nguyên thiên nhiên đang được con người khai thác, thông qua việc phát triển những công nghệ để biến đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng điện phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người.
Môi trường công nghệ
Sự ra đời, đổi mới của công nghệ vừa tạo ra những cơ hội vừa tạo ra những áp lực cho doanh nghiệp, tăng cường hay nguy cơ tính cạnh tranh doanh nghiệp.
Chính vì vậy, bên cạnh việc bảo vệ bản quyền sáng chế hay bảo vệ bí mật công nghệ, nhiều doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D - Research & Development) và ứng