Chương 2: VỆ SINH LAO ĐỘNG TÀU CÁ
2.8. Công tác vệ sinh trên tàu cá
2.8.1. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ vệ sinh trên tàu
Trên tàu phải làm công tác vệ sinh hàng ngày. Các tổ chức thực hiện và nội dung công tác này trên mỗi tàu có khác nhau đôi chút tùy theo điều kiện đi biển, nhiệm vụ vận tải và số lượng thuyền viên trên tàu.
Hàng ngày phải quét dọn hành lang, buồng ở, buồng công cộng, buồng lái và buồng để hải đồ, các boong thượng tầng kiến trúc khi cần thiết phải rửa boong.
Quét dọn buồng lái buổi sáng thường do thủy thủ đi ca 4 - 8 đảm nhiệm gồm những công việc lau sàn, lau cửa kính, lau chùi và đánh bóng các dụng cụ bằng đồng, lau chùi lan can, cầu thang và bên ngoài các máy móc.
Hàng ngày các cấp dưỡng có nhiệm vụ quét dọn nhà bếp và nhà ăn công cộng. Phục vụ viên có nhiệm vụ quét dọn nhà vệ sinh, hành lang, câu lạc bộ, buồng ở của sĩ quan và buồng tắm giặt.
Sau khi kết thúc công tác bốc xếp hàng hóa, chuẩn bị đi biển thì bơm nước rửa boong chính cho sạch sẽ.
Công tác quét dọn trên tàu khách phức tạp hơn trên tàu hàng. Trước khi tiếp nhận khách lên tàu phải tiến hành tổng vệ sinh, thay tất cả các vải lót giường, chăn, gối, lau sàn , bàn ghế và các dụng cụ cá nhân, phơi chăn gối và thông gió buồng ở. Lau chùi hành lang và các buồng công cộng, buồng tắm giặt, nhà vệ sinh. Hàng ngày trước lúc ăn sáng của khách, nhân viên phục vụ phải quét dọn buồng ở của khách, lau chùi hành lang, quét dọn các buồng công cộng, boong thượng, cầu thang, lan can …
Khi tàu đậu trong cảng không được đổ rác ra ngoài mạn làm bẩn cảng, phải tập trung rác vào thùng rác (thường để ở sau lái). Nếu cần yêu cầu cảng cho ô tô chở rác đến lấy rác đi .
2.8.2. Một số công việc cụ thể vệ sinh trên tàu 2.8.2.1. Vệ sinh boong thượng tầng
Trên các mặt boong sắt thuộc khu vực thượng tầng kiến trúc thường lát một lớp gỗ ván sàn.
Hàng ngày thủy thủ trưởng phân công thủy thủ quét dọn các boong chính thượng tầng. Dùng chổi mềm quét từ trên gió xuống dưới gió cho hết rác bẩn, tập trung rác vào thùng rác, tập trung rác vào thùng rác (để chở ô tô hốt rác cảng tới lấy).
Hàng ngày phải rửa các boong thượng tầng ít nhất một lần, rửa theo thứ tự từ boong cao nhất trở xuống. Trước khi rửa cần quét dọn boong cho hết rác bẩn, lấy nước ngọt làm ướt mặt gỗ một lần, rồi rắc cát mịn lên mặt gỗ, sau đó dùng bàn chải cứng hoặc xơ vỏ dừa cọ dọc theo chiều thớ gỗ. Khi cọ không làm xước mặt gỗ, đổ nước xà phòng hoặc bồ tạt vào chỗ bẩn để khoảng 5 – 7 phút, rồi rắc cát mềm, sau đó dùng bàn chải cứng hoặc xơ dừa để cọ, không nên dùng xút ăn da để cọ, làm cho mặt gỗ bị hỏng nhanh chóng.
Sau khi cọ xong dùng vòi rồng phun nước cho hết cát và rửa sạch boong. Khi kết thúc, quét hết những vũng nước còn lại trên mặt boong.
Sau khi mặt boong gỗ đã được cọ rửa sạch, để kéo dài tuổi thọ mặt gỗ, khi gỗ đã khô cần sơn hai hoặc ba lớp sơn dầu mỏng đã được hâm nóng lên mặt gỗ. Sau khi sơn xong mặt gỗ sẽ ngả sang màu hạt dẻ sẫm và có tính chống ẩm tốt.
Boong gỗ phải giữ được tính kín nước tốt, do đó phải xảm chặt những rãnh hở ở giữa các thành gỗ ván sàn. Công tác xảm boong gỗ thường do xưởng sửa chữa tàu đảm nhiệm, nhưng trong thực tế nhiều khi thuyền viên cũng phải làm công tác này, tuy chỉ xảm từng bộ phận nhỏ.
Nếu những chỗ xảm cũ đã bật lên, mục nát, hoặc lớp hắc ín đã biến chất không còn tác dụng thì phải xảm lại chỗ đó. Tiến hành xảm khi thời tiết khô ráo, sáng sủa và rãnh không bị ẩm ướt.
Trước khi dùng dao cạo gỗ, xới bật những lớp xảm cũ, dùng bàn chải chải sạch rãnh. Lấy dây gai hoặc lanh tẩm dầu chặt ra từng đoạn, rồi giũ tung ra thành từng sợi. Bện qua những sợi này lại thành tao có độ dày và chiều dài của rãnh. Sau đó nhét tao xuống rãnh tới độ sâu nhất định.
Nếu rãnh rộng và sâu, thì không lên bện một tao lớn, mà bện thành 2 hoặc 3 tao rồi nhét xuống rãnh, trải đều tao liên tục trong rãnh, không bị gián đoạn. Những rãnh ở đầu mút của thanh gỗ cần xảm chặt và tỷ mỉ, vì ở đây gỗ rất nhạy cảm với khí ẩm. Sau đó dùng phễu gỗ đổ nước hắc ín nóng vào rãnh. Để sau này hắc ín không bị rạn nứt, cần pha thêm một ít dầu thực vật (1 phần dầu, 2 phần hắc ín). Hắc ín phải đun ở trên bờ, tuyệt đối không
đun trong khoang bếp. Nếu tàu đang chạy trên biển, có thể dùng bếp điện để đun, nhưng phải đặc biệt phòng cháy. Sau khi đổ lần thứ nhất, hắc ín nguội lạnh co lại, làm cho mặt rãnh bị lõm xuống (sau này nước sẽ đọng lại ở đó), do đó phải đổ hắc ín tiếp lần thứ hai để làm bằng mặt rãnh với mặt boong.
Trong quá trình làm việc phải đeo kính bảo vệ mắt và găng tay, để tránh bụi hắc ín ăn mòn. Mặt boong gỗ sau khi xảm sẽ giữ được tính kín nước tốt và không bị mục.
2.8.2.2. Vệ sinh thượng tầng kiến trúc
Trước khi rửa các vách ngoài của thượng tầng kiến trúc, phải đóng tất cả các cửa sổ kín nước (cửa húp lô) của các buồng, các phòng, cửa đi ra boong, cửa nóc buồng máy, bịt miệng các ống gió…Lấy ống rồng phun nước rửa qua một lượt mặt vách, theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trên gió xuống dưới gió. Sau đó lấy một vài xô đựng nước xà phòng (hoặc bồ tạt), dùng bàn chải nhúng nước xà phòng cọ lên mặt vách cho sạch vết bẩn. Để cọ những vách trên cao, có thể dùng bàn đứng. Nếu không có bàn chải thì có thể dùng giẻ nhúng nước xà phòng để cọ. Sau khi cọ xong dùng ống rồng phun nước lại một lần nữa lên mặt vách cho hết xà phòng. Cuối cùng quét sạch hết những vũng nước còn đọng lại trên boong do khi phun nước bị vung vãi ra.
Những vách trên boong của thượng tầng kiến trúc như vách hành lang, vách các buồng, các phòng nếu bẩn cũng rửa cho sạch, dùng giẻ nhúng nước trong xô để rửa qua mặt vách một lượt. Nhân lúc mặt vách còn đang ướt, dùng bàn chải hoặc giẻ nhúng nước xà phòng pha thêm một chút bột (tinh thể) natri các bô nat để cọ mặt vách. Không dùng xút ăn da để rửa, làm cho lớp sơn mặt vách bị hỏng nhanh chóng. Những chỗ nhỏ hẹp hoặc gấp khúc thì dùng giẻ để rửa (những chỗ không dùng được bàn chải). Những chỗ có vết hoen ố của gỉ sắt, thì rắc vào đấy một ít bột ximăng hoặc cát mền, rồi dùng miếng vải bạt cũ cọ cho sạch. Cuối cùng dùng giẻ nhúng nước sạch trong xô rửa lại một lần nữa cho hết xà phòng hoặc cát, xi măng. Khi kết thúc rửa vách phải quét và lau sạch những vũng nước đọng lại ở mặt sàn chân vách.
Kính trên cửa sổ, cửa ra vào và gương soi trên vách đều phải lau sạch, lau kính cả mặt trong lẫn mặt ngoài. Trước hết lấy giẻ nhúng nước ấm lau mặt kính cho hết vết bẩn sau đó dùng khăn khô lau lại cho mặt kính khô và thật sạch. Nếu mặt cửa sổ làm bằng nhựa trong (thay kính) thì không lên dùng giẻ để cọ (để tránh cho mặt nhựa bị xước làm giảm tính trong suốt) mà phải dùng bông nhúng cồn để lau.
Tay vịn cầu thang hoặc lan can, quả đấm ổ khóa cửa, đế đèn và những vật dụng bằng đồng khác đều phải đánh bóng. Trước hết lấy giẻ thấm thuốc đánh đồng (thuốc nước) cọ mạnh mặt đồng cho bật gỉ và các vết bẩn, lấy giẻ khô lau hết chất bẩn đã bật ra. Sau đó
dùng khăn sạch đánh cho mặt đồng sáng bóng. Có khi thuốc đánh đồng được điều chế ở dạng bột nhão, bôi loại thuốc này vào giẻ hoặc nỉ, rồi cọ mạnh vào mặt đồng cho bật gỉ xanh và chất bẩn. Sau đó lau sạch và đánh bóng.
Những sàn bằng vải dầu và chất dẻo, thì rửa bằng nước xà phòng hoặc bồ tạt cho sạch hết vết bẩn. Dùng nước sạch rửa lại cho hết xà phòng hoặc bồ tạt. Lấy giẻ lau khô, cuối cùng dùng tay (hoặc máy đánh bóng sàn) đánh xi (loại xi chuyên dùng đánh bóng sàn) cho mặt sàn sáng bóng.
Mặt sàn bằng gạch tráng men, chậu rửa mặt, chậu tắm bằng sứ tráng men, sàn lát xi măng thì cọ bằng nước xà phòng hay bồ tạt, rồi dùng nước sạch dội cho hết xà phòng, tráng lại bằng nước thuốc sát trùng. Sau đó dùng giẻ nhúng nước sạch rửa lại, cuối cùng lau khô.
Làm vệ sinh toa lét phải dùng bột tẩy trắng (vôi clorua) để cọ rửa. Mùa hè phải cọ rửa nhà toa lét mỗi ngày ít nhất 2 lần.
2.8.2.3. Làm vệ sinh mạn tàu và các cột trên boong
Rửa mạn và cột là những công tác tiến hành trên cao, nếu không cẩn thận rất dễ xảy tai nạn. Do đó trước khi rửa, thủy thủ trưởng phải kiểm tra lại tất cả các dụng cụ, dây an toàn, dây buộc ca bản, mẫu buộc dây trên be mạn, phao cứu sinh…có còn tốt không? Chọn những thủy thủ có kinh nghiệm để làm công tác này.
Khi mạn quá bẩn, hoặc trước khi sơn mạn phải tiến hành rửa mạn. Có thể rửa mạn khi tàu neo hoặc khi cập cảng. Rửa mạn khi tàu cập cầu có thể dùng bàn chải có cán dài và đứng trên cầu cảng để rửa mạn phía cầu, còn mạn kia thì dùng ca bản, thanh dây, phao cứu sinh, dây an toàn, xô đựng nước xà phòng (hay bồ tạt), giẻ lau và bàn chải có cán dài. Phân công một thủy thủ trực tiếp rửa, một thủy thủ làm nhiệm vụ cảnh giới và hỗ trợ. Sau khi kiểm tra thấy dây thực vật (hoặc nilon) còn tốt và đảm bảo, thì buộc dây vào ca bản (dùng nốt buộc ca bản) và đưa ca bản ra ngoài mạn, rồi buộc dây vào những mấu trên be mạn thật chắc chắn, buộc thang dây bên cạnh ca bản. Trên mặt boong, gần nơi làm việc để sẵn một phao cứu sinh ở chỗ dễ lấy nhất, hoặc thả sẵn 1 phao cứu sinh có buộc dây xuống mặt nước.
Thủy thủ thứ nhất buộc thắt lưng vào dây an toàn, xuống thang dây để tới ca bản, thủy thủ thứ hai tay nắm đầu dây an toàn từ từ thả ra theo tốc độ xuống thang của thủy thủ thứ nhất. Khi thủy thủ thứ nhất đã đứng vào ca bản, dây an toàn vừa căng tới (không bị chùng) thì thủy thủ thứ hai buộc đầu dây an toàn vào sừng bò hoặc mấu trên be miệng, nhưng không nên để dây an toàn quá căng làm ảnh hưởng tới công tác của thủy thủ thứ nhất. Thủy thủ thứ hai dùng dây thả xô nước sạch và bàn chải có cán dài xuống gần ca bản (ở độ cao thích hợp) để thủy thủ thứ nhất rửa qua mặt sơn một lượt.
Sau đó thủy thủ thứ hai thả xô nước xà phòng (hay bồ tạt) xuống cho thủy thủ thứ nhất để cọ những chỗ quá bẩn. Cọ xong, thủy thủ thứ nhất dùng nước rửa sạch lại mạn một lần nữa cho thật sạch hết xà phòng. Như vậy là đã rửa xong một diện tích nhất định, cần phải di chuyển ca bản tới vị trí khác. Muốn như vậy thủy thủ thứ nhất leo thang dây lên boong, cả hai thủy thủ thả ca bản xuống thấp hơn hoặc di chuyển ca bản tới địa điểm lân cận (trong trường hợp này di chuyển cả thang dây và phao cứu sinh) để rửa tiếp. Với phương pháp như vậy tiến hành cho tới khi rửa xong toàn bộ mạn tàu. Trong quá trình làm việc như vậy cần chú ý mấy điểm như sau:
- Khi thủy thủ thứ nhất làm việc, thủy thủ thứ hai phải luôn có mặt tại hiện trường.
Nếu thủy thủ thứ nhất gặp tai nạn, thì thủy thủ thứ hai phải kịp thời ứng cứu.
- Khi trên ca bản còn có người không được di chuyển ca bản.
- Nếu hai ca bản cùng làm việc một lúc, không được bố trí cái nọ trên cái kia.
- Ở phần cong đuôi tàu, dùng ca bản để làm việc rất khó khăn, do đó thường dùng ca nô hoặc thuyền để thay cho ca bản.
Rửa cột cũng tương tự như rửa ca bản, tiến hành rửa từ trên xuống dưới. Trước tiên buộc một ròng rọc thật chắc trên cột dùng để kéo thủy thủ lên cao. Thủy thủ thứ nhất đeo thắt lưng và dây an toàn ngồi trên ca bản nhỏ hoặc nút ghế (nút ghế đơn hoặc kép). Thủy thủ thứ hai làm nhiệm vụ cảnh giới và hỗ trợ, kéo dây để nâng thủy thủ thứ nhất lên đến vị trí cần rửa trên cột, rồi buộc dây vào sừng bò chân cột. Khi đó thủy thủ thứ nhất buộc dây bảo hiểm vào mấu (hoặc vật gì tương tự) trên cột. Cách rửa cũng giống như rửa mạn. Rửa xong một diện tích nhất định, thủy thủ thứ hai xông dây để thủy thủ thứ nhất hạ thấp dần.
Cứ như vậy cho tới khi rửa xong cột. Trong quá trình rửa cột cần chú ý mấy điểm như sau:
- Ca bản, dây, ròng rọc…trước khi sử dụng phải kiểm tra thật kỹ.
- Phải dùng xô (hoặc túi bạt) để đưa dụng cụ lên cao, không chuyền, ném dụng cụ hoặc đeo dụng cụ theo người.
- Thủy thủ thứ hai ở mặt boong (chân cột) phải đội mũ an toàn, đề phòng những vật trên cao có thể rơi xuống.
- Chọn thủy thủ lành nghề để rửa cột.
- Không phân công người có bệnh huyết áp hoặc đau tim lên cao để rửa cột.
2.8.2.4. Làm vệ sinh ba lát và két nước
Ba lát thường dùng để đựng nước biển dằn tàu, két dùng để đựng nước ăn, nước lò hoặc nước tắm rửa. Có nhiều tàu dùng một số ba lát nước ít nhất 6 tháng 1 lần, két nước ăn 3 tháng 1 lần, két nước rửa 1 năm 1 lần. Mặt trong của các ba lát hoặc két nước đều được sơn, quét xi măng, hoặc tráng men để chống gỉ.
Nếu sơn thì sơn 3 - 4 lần; nếu quét xi măng thì quét 2 lần. Lần thứ nhất trộn 1 phần xi măng với 1 phần cát mềm, trộn chung với nước để quét. Lần thứ 2 trộn 2 phần ximăng, 1 phần cát mềm rồi hòa chung với nước. Mỗi lần quét 1 lớp ximăng mỏng, không nên quá dày, nếu không thì lúc tàu rung lớp xi măng sẽ bong ra nhanh chóng.
Để tăng thêm chất lượng lớp xi măng, có thể trộn thêm chất keo (sản phẩm phụ của cao su nhân tạo) để tăng thêm tính đàn hồi và tính bền chắc.
Nói chung, tất cả các ba lát két nước phải quét xi măng hoặc sơn mỗi năm một lần.
Làm vệ sinh các ba lát như sau:
- Bơm hết nước trong ba lát ra biển.
- Mở lỗ chui người (tu đom) chuẩn bị đèn pin hoặc đèn điện cầm tay với nguồn điện 12 V hoặc 24 V, đèn và dây điện phải cách điện tốt.
- Phân công một số thủy thủ mang xô xách nước, chổi, xẻng cán ngắn, chui xuống ba lát, tay cầm đèn chiếu sáng.
- Quét sạch ba lát, tập trung bùn thành đống rồi hốt (lấy xẻng xúc) vào xô, xách ra ngoài ba lát.
- Cạo gỉ và lau khô ba lát.
- Sơn lại hoặc quét xi măng lại toàn bộ mặt trong của ba lát.
- Khi mặt sơn hoặc xi măng đã khô thì đóng các lỗ chui người như cũ. Chú ý các đệm cao su kín nước miệng lỗ và phải siết các bu lông cho thật chặt để sau này nước không rò rỉ ra ngoài.
Cách làm vệ sinh các két nước:
- Két nước ăn, sau khi sơn hoặc quét xi măng như trên, thì đổ nước ngọt vào, rồi bơm ra ngoài. Sau đó bơm đầy nước ngọt vào để lâu chừng 24 giờ, bơm bỏ nước này, rồi đựng thức ăn. Nhưng nếu vẫn còn mùi sơn hoặc xi măng thì tiếp tục bơm nước vào rồi lại bơm ra để súc rửa vài lần cho tới khi không còn mùi vị khó chịu. Sau khi sơn hoặc tráng men không nên để két bỏ không (không có nước) quá 30 ngày đêm, vì để quá kỳ hạn trên, sơn hoặc men dễ bị tróc ra và mất tác dụng chống gỉ.
- Két nước rửa, nước lò, sau khi sơn hoặc quét xi măng đã khô, bơm nước ngọt vào để ngâm khoảng 12 giờ.
Những ba lát hoặc két đựng nước biển lâu ngày, có thể có vi sinh vật biển ở trong đó. Bởi vậy trước khi cho người chui vào phải mở lỗ chui người và thông gió một thời gian nhất định.