Chương 7: AN TOÀN TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN
7.2. An toàn trong đánh bắt của nghề lưới kéo
Lưới kéo là loại ngư cụ lọc nước lấy cá, có hình dạng một cái túi bằng lưới. Miệng của túi lưới được mở theo chiều ngang nhờ lực kéo của hai tàu gọi là lưới kéo đôi, hoặc nhờ lực mở ngang của hai ván lưới do một tàu kéo gọi là lưới kéo đơn.
Đối với nghề lưới kéo thì việc thả lưới, dắt lưới, thu lưới là khâu công việc rất quan trọng quyết định đến sản lượng đánh bắt đồng thời cũng dễ xuất hiện các yếu tố
nguy hiểm nếu như người lao động bất cẩn. Do đó, để hạn chế tai nạn xảy ra trong lúc lao động cần phải tập trung tư tưởng làm việc và phải chú ý các khâu sau đây đối với lưới kéo đơn và lưới kéo đôi.
7.2.1. Thả lưới
Sau khi đến ngư trường, thuyền trưởng tiến hành xác định hướng nước và hướng gió để quyết định hướng thả lưới, đo độ sâu để xác định chiều dài dây cáp kéo cần thả ra. Khi đã xác định được hướng nước, hướng gió và độ sâu thì thuyền trưởng quyết định thả lưới.
Thuyền trưởng triệu tập các thủy thủ về vị trí làm việc đã được phân công, liên lạc với tàu phụ, chấp hành đúng theo mệnh lệnh của tàu chính.
Vị trí, số lượng thủy thủ làm việc trên hai tàu chính và phụ phụ thuộc vào kích cỡ và quy mô hoạt động của tàu.
* Đối với tàu chính:
Thuyền trưởng trực tiếp điều khiển tàu;
Một thủy thủ đứng ở máy tời điều khiển cần gạt hộp số;
Hai thủy thủ kéo cáp và dây đỏi;
Các thủy thủ còn lại phục vụ cho việc thả lưới và hỗ trợ cho các vị trí khác.
* Đối với tàu phụ:
Thuyền trưởng trực tiếp điều khiển tàu;
Một thủy thủ đứng ở máy tời điều khiển cần gạt hộp số;
Một thủy thủ chuẩn bị ném dây.
Khi đã ở tư thế sẵn sàng làm việc, thuyền trưởng tàu chính điều khiển tàu theo hướng đã định. Theo nguyên tắc chung là tàu cuối gió, lưới cuối nước, giảm tốc độ tàu và ra lệnh thả lưới.
Thủy thủ tàu chính thả lưới lần lượt từ đụt lưới đến cánh lưới. Lưới thả xong thì cột hai đầu giềng trống vào cọc bích phía sau tàu chính. Thuyền trưởng tàu chính tăng tốc độ tàu để lưới mở ổn định, khi lưới đã mở ổn định thì giảm tốc độ cho máy chạy ở chế độ tiến thấp, đồng thời liên lạc với tàu phụ tiến lại gần và ném dây qua tàu chính. Thủy thủ tàu chính buộc dây vào một đầu giềng trống rồi thả ra cho thủy thủ tàu phụ kéo dây ấy về bên tàu phụ để liên kết vào dây đỏi, đầu cánh còn lại ở tàu chính cũng được lên kết với dây đỏi thông qua ma ní và khóa chữ C.
Cùng lúc đó thuyền trưởng tàu chính ra lệnh cho tàu phụ tiến hành thả dây đỏi đồng thời hai tàu chạy tách xa nhau. Khi đã mở xong dây đỏi, hai tàu chạy chậm lại để kiểm tra lưới đã mở ổn định chưa. Khi lưới đã mở ổn định, hai tàu tăng tốc độ và tiếp tục thả dây cáp kéo, độ dài của dây cáp kéo tùy thuộc vào độ sâu đánh bắt.
Khi đã thả dây cáp kéo đến chiều dài cần thiết thì khóa cáp lại và cho tàu chạy tăng tốc độ dần đến tốc độ kéo lưới mong muốn.
Khi đã đạt tốc độ cần thiết thì giữ nguyên tốc độ và thực hiện công đoạn dắt lưới.
Khoảng cách giữa hai tàu có thể từ 150 đến 200m.
* Một số điểm quy định khi thả lưới:
Tốc độ thả dây đỏi chậm hơn thả dây cáp kéo. Khi thả cáp, thủy thủ phải tăng cường quan sát lưới và ngư cụ để đảm bảo độ chìm cũng như độ ổn định của lưới.
Quá trình thả lưới tàu phải luôn đảm bảo có trớn tới.
Thuyền trưởng cho máy tiến chậm (hoặc dừng máy) để cho thủy thủ thực hiện việc thả lưới an toàn, thủy thủ không được đứng trên lưới hoặc hệ thống dây giềng rất dễ bị ngã rơi xuống biển khi thả lưới.
Không được đi trên be tàu ở mạn thả lưới;
Khi thả giềng chì phải lưu ý không để người đứng đằng sau quăng trúng chân người đằng trước, tư thế đứng phải vững vàng để phòng tránh bị ngã.
Khi có tai nạn về lưới như miệng lưới không mở, lưới quấn chân vịt thì thuyền trưởng tắt máy chính cho tàu dừng hẳn mới cho người lặn xuống để cắt hoặc gỡ lưới.
Người lặn phải có kính và dây an toàn và phải cử người đứng theo dõi trên tàu, người lặn dưới nước phải giữ khoảng cách an toàn với tàu để tránh sóng đập.
Trước khi thả cáp phải kéo sẵn một đoạn dây cáp để dễ dàng mắc vào ván, các mối liên kết phải kiểm tra để bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật.
Người đứng tời, đứng cẩu hoặc làm việc với ván phải có sự phối hợp nhịp nhàng với thuyền trưởng để tránh xảy ra sự cố.
Đối với lưới kéo đôi: thao tác giữa hai tàu phải nhịp nhàng, việc ném dây phải dứt khoát và hai tàu phải luôn luôn giữ khoảng cách an toàn nếu không rất dễ gây tai nạn nhất là khi sóng to gió lớn. Thủy thủ không được nhảy từ tàu này sang tàu kia khi hai tàu chưa ổn định, mặt boong trơn ướt dễ gây tai nạn.
7.2.2. Dắt lưới
Trong quá trình dắt lưới, tàu phụ hoàn toàn chịu sự chỉ huy của tàu chính, cả hai tàu dắt lưới theo hướng và tốc độ quy định. Cần chú ý giữ hướng dắt lưới và vị trí giữa hai tàu để giữ cho độ mở ngang của lưới và tàu làm việc độ ổn định. Ở giai đoạn này, thuyền trưởng hai tàu luôn trao đổi thông tin với nhau, quan sát sự hoạt động của các tàu bạn, chướng ngại vật…
Khoảng cách giữa hai tàu trong quá trình dắt lưới luôn giữ ở vị trí tương đối ổn định (150 200m). Kỹ thuật giữ khoảng cách giữa hai tàu căn cứ vào kinh nghiệm của thuyền
trưởng tàu chính để điều chỉnh khoảng cách cho phù hợp.
Thời gian dắt lưới và tốc độ dắt lưới tùy thuộc vào kinh nghiệm của thuyền trưởng, thông thường từ 4 5 giờ/mẻ, tốc độ từ 2 3,5 hải lý/giờ.
Nếu có cá nhiều, lực cản của tàu sẽ tăng làm cho tàu giảm tốc độ dắt lưới (có thể biết được thông qua máy định vị vệ tinh lắp đặt trên tàu), khi đó tiến hành thu lưới. Trường hợp cá ít thì khi đã đạt thời gian dắt lưới theo quy định vẫn tiến hành thu lưới.
* Một số điểm cần chú ý khi dắt lưới:
Đối với tàu lưới kéo có tăng gông, hai đầu tăng gông chịu lực rất lớn cho nên thủy thủ không được ngồi phía sau tăng gông để tránh trường hợp lưới gặp chướng ngại vật, tốc độ tàu thay đổi đột ngột hoặc hai đầu tăng gông chịu lực không tốt, tăng gông có thể bị gãy đánh bật về phía sau gây tai nạn.
Khi đi lại trên boong, làm vệ sinh ở be tàu lúc sóng gió lớn phải có dây an toàn và phải cử người theo dõi để tránh trường hợp sóng đánh rơi xuống biển.
7.2.3. Thu lưới
Quá trình thu lưới ngược lại với quá trình thả lưới: Thu cáp kéo - Dây đỏi - Giềng trống - Cánh lưới - Thân lưới - Đụt lưới.
Khi thời gian dắt lưới đúng theo quy định hoặc cá trong đụt nhiều thì tiến hành thu lưới. Thuyền trưởng tàu chính báo cho thuyền trưởng tàu phụ chuẩn bị thu lưới và báo cho các thủy thủ vào vị trí làm việc.
Giai đoạn thu lưới gồm các bước sau:
Nhấc dây cáp kéo ra khỏi puli hướng cáp ở sau đuôi tàu. Thuyền trưởng hai tàu cho tàu chạy chậm và bẻ lái sang mạn phải sao cho tàu quay ngược 1800 so với hướng dắt lưới ban đầu rồi tiến hành thu lưới.
Thu dây cáp và dây đỏi: Vị trí làm việc trong quá trình thu dây cáp và dây đỏi:
Một người giữ cần gạt hộp số;
Một người điều khiển cáp và dây đỏi vào tang thành cao theo từng lớp cho đều.
Trong quá trình thu cáp và dây đỏi hai tàu phải tiến hành thu với tốc độ như nhau. Sau khi thu dây cáp và dây đỏi xong, thì tàu phụ ném dây mồi sang tàu chính để thu đầu dây giềng trống ở tàu phụ về bên tàu chính và tiến hành thu phần lưới.
Tiến hành thu lưới từ cánh lưới đến thân lưới và đụt lưới. Nếu tiếp tục đánh bắt thì chỉ cần thu dây kéo đụt để kéo đụt cá vào và thu đụt cá lên tàu, còn phần cánh và thân lưới vẫn để dưới nước. Sau khi cẩu đụt cá lên, tiến hành tháo nút đụt để đổ cá ra boong, kiểm tra đụt và tiếp tục thực hiện quá trình thả lưới tiếp theo.
7.2.4. Các sự cố trong quá trình đánh bắt và cách xử lý
- Đụt lưới vướng vào đầu cánh lưới: hiện tượng xảy ra không bình thường khi dây kéo bên căng bên chùng, hướng di chuyển bị lệch nhiều so với phương dắt lưới ban đầu, phương dòng chảy và lưới bị cuốn vào giềng phao, giềng chì. Nguyên nhân chính của sự cố này là do thủy thủ không chú ý quan sát khi thực hiện việc thả lưới.
Cách xử lý: dừng máy chính, thu lưới lên boong, gỡ lưới và thực hiện lại việc thả lưới.
- Đứt dây cáp kéo: có hiện tượng gây ra tiếng nổ nhỏ, một dây cáp căng, một dây cáp chùng. Nguyên nhân là do không kiểm tra và bảo quản kỹ cáp, không phát hiện nơi chịu tải kém.
Cách xử lý: dừng máy và từ từ kéo lưới lên.
- Đứt giềng phao, giềng chì: do tải trọng kéo của tàu thay đổi đột ngột, hướng dắt lưới thay đổi.
Nguyên nhân là do không kiểm tra kỹ giềng phao, giềng chì trước khi thả hoặc do giềng phao, giềng chì bị vướng chướng ngại vật dưới đáy biển.
Cách xử lý: dừng máy và từ từ kéo lưới lên, thu dây kéo đụt để thu đụt lưới.
- Vướng chướng ngại vật: hiện tượng tàu đang dắt lưới bị dừng lại đột ngột, quay vòng tại chỗ và thay đổi hướng. Nguyên nhân là do lưới bị vướng chướng ngại vật dưới nước hoặc bị sục bùn.
Cách xử lý: dừng tàu để thu lưới hoặc cho tàu lùi, tiến để trục lưới lên.
- Dây thắt đụt bị đứt, đụt bị rách: hiện tượng tàu đang dắt lưới thì đột ngột tăng tốc độ.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do không kiểm tra dây thắt đụt lưới trước khi đánh bắt.
Cách xử lý: dừng tàu kéo lưới lên và sửa chữa lại.
* Một số điểm chú ý khi thu lưới, lựa cá và bảo quản sản phẩm
Khi thuyền trưởng cho tàu giảm hết tốc độ mới tiến hành thu lưới. Khi thu lưới phải đứng cách xa puli để tránh đứt cáp. Hầu hết máy tời dùng để thu cáp, thu dây đỏi chưa có cơ cấu gạt cáp để xếp cáp vào tang thành cao, việc dùng cây gỗ để hướng cáp vào tang sẽ rất nguy hiểm, cây gỗ dễ bị gãy và đập vào người.
Đối với một số tàu nhỏ, việc thu dây kéo được tiến hành bằng tay, người lao động khi thực hiện động tác thu dây phải chú ý không cho tời quay ngược lại tay quay dễ đập vào người gây tai nạn. Khi cẩu cá lên boong tàu không được cẩu quá tải trọng cho phép.
Nếu sản lượng trong mẻ lưới lớn có thể chia đụt cá ra làm nhiều phần rồi tiền hành cẩu lên boong từng phần một. Khi phân chia đụt cá, người làm công việc này phải mang ủng hoặc giày, không được đi chân trần giẫm lên đụt cá vì dễ bị vật nhọn trong đụt gây tổn thương bàn chân.
Khi làm việc phải có dây an toàn, khi có người đứng trên boong mới tiến hành thu đụt cá, chú ý độ nghiêng của tàu không trùng với hướng gió để tránh lật tàu.
Khi cẩu cá lên boong không được đứng dưới trụ cẩu để nắm dây thắt đụt nhằm tránh trường hợp như đứt dây cẩu, tuột cẩu, rơi móc, rơi ròng rọc khi cẩu đang chịu tải trọng lớn rất nguy hiểm. Người mở dây đụt phải đứng ở vị trí không trùng với hướng dao động của đụt để tránh bị đụt đánh ngã xuống nước khi sóng gió lớn.
Không được cho tời hoạt động khi có người đang thao tác ván lưới như đang treo ván, lắp ván vào giá ván, xích ván vào giá ván hoặc ván chưa được buộc chặt.
Không được sử dụng cáp thép đã giảm độ bền quá mức, có nhiều sợi bung, không được dùng dây thép để quấn bên ngoài dây đỏi nhằm tăng độ bền cho cáp và chắp nối các đoạn dây cáp, dây đỏi một cách tùy tiện, vì như thế sẽ gây tai nạn cho người đứng tời, người điều chỉnh cáp và dây đỏi vào tang thành cao.
Ban đêm phải đảm bảo đủ ánh sáng ở mặt boong thao tác để làm nhiệm vụ thu lưới, cẩu đụt cá, lựa cá và bảo quản sản phẩm.
Không đứng gần vị trí sắp đổ cá lên boong. Thủy thủ phải có phương tiện bảo vệ cá nhân để đề phòng các yếu tố nguy hiểm dễ gây thương tích cho người.
Khi lựa cá, thủy thủ phải sử dụng bàn cào cá; việc đi lại trên boong lúc này phải cẩn thận vì mặt boong rất trơn do nhớt cá tiết ra dễ bị trượt ngã.
Khi tàu chạy không được dùng gàu, xô múc nước biển để làm vệ sinh mặt boong hoặc rửa cá vì dưới tốc độ chạy tàu dế kéo người rơi xuống biển.
Khi tiến hành thả mẻ lưới tiếp theo, người phụ trách công việc lựa cá hoặc bảo quản cá phải đứng ở mạn không thả lưới, còn người thả lưới phải làm việc an toàn đối với sóng.
Người làm việc dưới hầm lạnh phải mang ủng, găng tay, áo quần chống lạnh, khoang hầm phải đủ ánh sáng. Khi bước xuống hầm phải lưu ý các bậc thang ở hai bên vách hầm đề phòng trượt ngã hoặc bậc thang bị gãy gây tai nạn.
Không ném các khay, két nhựa đựng cá trên mặt boong để tránh dập tay chân người khác. Khi chuyển cá xuống hầm bảo quản phải tiến hành nhẹ nhàng, cẩn thận tránh bị hụt tay làm rớt két nhựa hoặc các túi đựng cá gây nguy hiểm cho người dưới hầm. Việc vận chuyển đi lại trên boong không được giẫm chân lên nắp hầm dễ bị trật chân.
Trước khi đậy nắp hầm phải kiểm tra lần cuối xem có còn người ở dưới hầm hay không.
Thu xếp lưới và các loại dây gọn gàng theo thứ tự, để đúng vị trí không gây cản trở cho việc đi lại trên boong tàu. Khi kết thúc công việc tiến hành vệ sinh sạch sẽ mặt boong không để cá rơi vãi ươn thối gây ô nhiễm nơi làm việc.