An toàn trong đánh bắt của nghề lưới rê

Một phần của tài liệu an toàn cho người và tàu cá (Trang 120 - 128)

Chương 7: AN TOÀN TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN

7.4. An toàn trong đánh bắt của nghề lưới rê

Lưới rê (hay còn được gọi là lưới cản) là một trong những ngư cụ phổ biến của nghề cá Việt Nam, nó được khai thác ở mọi vùng nước. Lưới rê được thả chặn ngang đường di chuyển của cá, khi gặp lưới cá bị vướng và bị giữ lại.

7.4.1. Thả lưới

Để tránh sự cố lưới quấn chân vịt, tàu không thể điều khiển được dẫn đến tai nạn chìm tàu gây tổn thất về người và tài sản, việc thả lưới rê được thả theo nguyên tắc tàu cuối gió, lưới cuối nước có nghĩa là lưới sau khi xuống nước phải nhanh chóng được tách ra xa tàu. Tuy nhiên, việc thả lưới còn phụ thuộc vào hướng nước, hướng gió và cường độ của chúng mà thuyền trưởng có sự quyết định cho phù hợp.

Thông thường khi đến ngư trường, trong trường hợp sóng gió êm, thuyền trưởng chọn hướng thả lưới cắt ngang dòng chảy, bởi vì đó là hướng thường vuông góc với hướng di chuyển của cá. Nếu có gió và dòng chảy thì việc thả lưới thuyền trưởng phải căn cứ theo hướng gió và hướng nước.

7.4.1.1. Đối với tàu có lưới xếp ở mặt boong phía trước mũi tàu:

Để đảm bảo an toàn thuyền trưởng cho tàu chạy xuôi gió với tốc độ chậm (khoảng 5hải lý/giờ), hướng mũi tàu tạo với hướng gió một góc khoảng 100. Tàu luôn luôn nằm dưới gió để tránh lưới tấp vào chân vịt của tàu. Khi đã xác định được hướng nước và hướng gió, thuyền trưởng thông báo cho thủy thủ chuẩn bị công việc thả lưới. Việc thả lưới gồm các bước thao tác sau đây:

Sau khi thả xong phao đầu buông, hai thuỷ thủ đứng hai đầu giềng phao và giềng chì thả lưới xuống biển, lưới cách phao đầu buông khoảng 15m. Các thuỷ thủ khác phụ kéo lưới ra sát be tàu để thả.

Lưới được thả ra phải có độ chùng nhất định để tránh lưới bị căng quá mức khi nước chảy sẽ làm rách lưới hoặc lưới bị xoắn lại. Nếu thả lưới rê tầng giữa thì cứ cách khoảng 10m, thủy thủ thả một phao ganh. Khi thả hết lưới thì thả tiếp đến phao đầu neo, tất cả phao đầu lưới và phao đầu neo đều có đèn và cờ để làm tiêu xác định lưới kể cả vào ban đêm hay ban ngày.

7.4.1.2. Đối với tàu có boong xếp lưới phía sau

Sau khi chọn xong hướng thả lưới, thuyền trưởng điều khiển tàu vào vị trí thả lưới với tốc độ chậm (khoảng 5 hải lý/giờ). Lưới được thả ra trên mặt biển nhờ tốc độ tàu. Nếu lưới buông ra chậm thì hai thuỷ thủ ở hai bên mạn đuôi tàu phụ kéo lưới ra để tăng tốc độ thả lưới. Khi thả hết lưới thì thả phao tiêu để định vị lưới.

Trong quá trình thả lưới, không được đứng trên đống lưới và đi lại bên mạn thả lưới. Khi thả lưới cần có sự phối hợp giữa tốc độ tàu và tốc độ buông lưới để lưới không quá căng hay bị dồn đống gây rối lưới làm ảnh hưởng đến tuổi thọ của lưới.

Khi thả lưới tất cả thủy thủ làm nhiệm vụ phải ăn mặc gọn gàng để tránh vướng lưới rơi xuống biển.

7.4.2. Trôi lưới

Khi thả lưới xong, cho lưới trôi tự do trên biển. Nếu sóng gió êm, khi kết thúc quá trình thả lưới, phao đầu neo được liên kết với lưới. Dây liên kết giữa phao đầu neo với tàu khoảng 50m, ở giữa buộc một vật nặng khoảng 30 - 50kg để cho dây chùng xuống, tránh trường hợp khi có sóng gió, lưới không bị giật đột ngột gây đứt lưới.

Sau khi buộc xong dây liên kết giữa tàu với lưới, thuyền trưởng cho tắt máy tàu, các thuỷ thủ được nghỉ ngơi hoặc câu cá. Thuyền trưởng phân công thủy thủ trực ban theo dõi quá trình trôi lưới đề phòng lưới bị vướng vào tàu khác hoặc bị cắt trộm lưới. Người trực ban theo dõi hoạt động của lưới trên màn hình ra-đa, kiểm tra các phao vô tuyến hoặc các tiêu phản xạ sóng ra-đa để theo dõi hướng trôi của lưới, phát hiện những bất thường để báo cho thuyền trưởng kịp thời xử lý, tránh xảy ra các tai nạn cho người, tàu thuyền và ngư cụ.

Trường hợp có sóng gió lớn, không được dùng dây liên kết giữa tàu với lưới, vì khi tàu trôi nhanh sẽ kéo lưới căng gây hiện tượng đứt lưới. Trong trường hợp này thuyền trưởng điều khiển tàu về phía dưới lưới so với hướng gió, cho thả neo nổi (neo dù) để tàu cùng trôi với lưới và theo dõi tình hình hoạt động của lưới để có biện pháp xử lý sự cố bất trắc xảy ra.

Trong quá trình trôi lưới, có thể điều động tàu đến các vị trí của lưới để kiểm tra và

xử lý sự cố nếu có. Thời gian trôi lưới (ngâm lưới) thường trong khoảng từ 4 đến 5 giờ, tuy nhiên việc thu lưới có thể thực hiện sớm hơn tuỳ thuộc vào tuần trăng. Thông thường thuyền trưởng cho thu lưới khi trăng mọc vì đến lúc trăng sáng cá sẽ ít đóng lưới.

Khi đi lại trên boong hoặc vệ sinh ở mạn tàu lúc có sóng gió phải có dây an toàn để

bám vào, cử người theo dõi để tránh trường hợp sóng đánh rơi xuống biển.

7.4.3. Thu lưới

Đây là công đoạn phức tạp nhất của quá trình sản xuất, kết hợp giữa thu lưới, gỡ cá và bảo quản sản phẩm. Chú ý khi thu lưới không để lưới vướng vào tay vì thu lưới bằng tời thủy lực tốc độ thu lưới rất nhanh dễ gây tai nạn.

Khi hết thời gian trôi lưới, thuyền trưởng thông báo cho toàn tàu biết để chuẩn bị thu lưới. Tất cả thuỷ thủ đứng vào vị trí đã được phân công để thu lưới. Thuyền trưởng điều khiển tàu đến cờ đầu neo để bắt dây lên tàu, đưa lưới vào máy thu lưới. Một người điều khiển tời theo đúng hướng lưới để khi có sóng gió, lưới không tuột ra khỏi tang tời đồng thời kịp tốp máy tời khi có cá đưa lên. Thông thường máy tời thu phần thịt lưới ở phía giềng chì còn phao được thuỷ thủ phụ kéo cùng tời để đưa lên boong tàu.

Khi thu lưới, thuyền trưởng cho máy tiến chậm sao cho hướng mũi tàu tạo với hướng gió một góc khoảng 200, và để tàu ở dưới gió so với lưới. Khi thu lưới lên boong tàu, thuỷ thủ xếp gọn lưới theo thứ tự để tạo điều kiện thuận lợi cho thả mẻ lưới tiếp theo không bị rối lưới.

Những phần lưới có cá mắc vào, những phần lưới bị xoắn đều được xếp riêng để cho thủy thủ gỡ cá và xử lý rối lưới. Việc thu xếp lưới và các loại dây phải gọn gàng theo thứ tự, để đúng vị trí không gây cản trở cho việc đi lại trên boong tàu, tránh trường hợp dây vướng vào chân rơi xuống biển.

Ban đêm phải đảm bảo đủ ánh sáng ở mặt boong thao tác, lối đi lại vận chuyển để làm nhiệm vụ thu lưới, gỡ cá và bảo quản sản phẩm.

7.4.4. Các sự cố thường gặp trong đánh bắt lưới rê và cách xử lý

- Lưới quấn chân vịt: đây là sự cố thường gặp trong đánh bắt lưới rê. Nguyên nhân là do nước chảy nhiều tầng làm lưới trôi vòng uốn lượn. Khi điều động tàu thu lưới, phần lưới chưa thu kịp có thể đã nằm ngay đuôi tàu, nếu thuyền trưởng chưa có kinh nghiệm và sơ ý dễ bị lưới quấn vào chân vịt.

Cách xử lý: khi phát hiện lưới quấn chân vịt thì cho tốp máy tàu ngay lập tức. Sau khi kiểm tra thấy đúng sự thật thì cho tắt hẳn máy tàu đồng thời cử người có khả năng lặn tốt (hoặc lặn có bình hơi) xuống đáy tàu khảo sát để chọn phương án gỡ lưới.

Người lặn xuống nước phải được buộc dây bảo hiểm để phòng ngừa trường hợp có sóng lớn, đập đầu vào tàu gây chấn thương. Khi lặn cắt lưới, chú ý cắt rời phần bị quấn

rồi mới gỡ phần lưới quấn trong chân vịt để lưới không vướng vào người lặn.

Sau khi hoàn thành việc gỡ lưới, tiến hành nổ máy tiếp tục cho tàu thu lưới.

- Lưới bị vướng rạn: nguyên nhân có thể do cá đóng nhiều vào lưới, trọng lượng cá kéo lưới xuống đáy làm cho lưới bị xe quấn vướng vào rạn.

Cách xử lý: cho tàu thu lưới đến phần lưới bị vướng rạn, cuốn chặt bó lưới lợi dụng sóng để trục vớt lưới lên. Nếu không được, có thể dùng máy tiến nhẹ trục vớt lưới. Nếu lưới bị đứt, thu phần lưới còn lại sau đó điều động tàu chạy vòng về phía phao tiêu gần phần lưới bị chìm, vớt phao tiêu kết hợp trục vớt lưới, nếu lưới bị đứt ở đâu thì bỏ phần đó ở lại, tiếp tục thu phần lưới còn lại.

- Lưới bị các phương tiện giao thông khác trên biển vướng mang đi: nguyên nhân là do thuyền trưởng thả lưới vi phạm hành lang của tuyến hàng hải quốc tế của tàu vận tải, một số tàu không phát hiện được lưới hoặc phát hiện được mà không thể tránh được.

Cách xử lý: điều khiển tàu thu phần lưới còn lại theo các tiêu đầu lưới hoặc các phao vô tuyến.

Không được thả lưới trên đường hành trình của tàu vận tải. Các phao cờ lưới, phao vô tuyến cần phải được trang bị đầy đủ; ban đêm cần gắn đèn báo hiệu vị trí hoạt động của lưới.

7.5. An toàn trong đánh bắt của nghề câu

Nghề câu là một ngư cụ dùng để đánh bắt các loại cá nổi nhất là cá ngừ đại dương có mật độ tập trung không dày. Vàng câu gồm một đường dây chính đặt nằm ngang trên mặt nước, trên đó có móc kẹp các dây nhánh (thẻo câu) (hình 7.3) với khoảng cách đều nhau. Mỗi dây nhánh có một lưỡi câu có móc mồi. Một vàng câu gồm hàng ngàn lưỡi câu liên kết với dây chính, trải dài hàng chục km trên đại dương. Vàng câu được trang bị các phao ganh để giữ cho nó khỏi chìm xuống đáy biển.

7.5.1. Chọn vị trí, hướng thả câu

Trước khi tiến hành thả câu thì thuyền trưởng cần phải theo dõi kỹ các hoạt động đang diễn ra trên vùng ngư trường dự kiến thả câu, quan sát mật độ tàu thuyền hành trình, mật độ tàu khai thác trong khu vực, nhiệt độ nước biển, hướng dòng chảy, điểm giao nhau giữa các dòng chảy (vùng nước xoáy), nước trồi, thời tiết, sóng, gió. Hướng thả câu thường song song với các đường đẳng sâu, đường câu phải cắt ngang dòng chảy. Thời gian bắt đầu thả câu tuỳ thuộc thời gian tàu hành trình tới ngư trường.

Sau khi tổng hợp đầy đủ các thông tin nêu trên và xét thấy thuận lợi cho việc thả câu, thuyền trưởng quyết định thả câu tại vùng ngư trường dự định. Tuy nhiên, nếu sản lượng thu được từ mẻ câu đầu tiên không cao, thuyền trưởng chọn lại vị trí và hướng thả câu mới để mẻ câu sau đạt sản lượng cao.

7.5.2. Thả câu

Để việc thả câu được an toàn, nhanh chóng đòi hỏi số thủy thủ thực hiện việc thả câu gồm có một thủy thủ phụ trách móc kẹp vào dây chính, một thủy thủ móc mồi và ném câu, một thủy thủ phụ trách giỏ đựng thẻo câu và mồi, một thủy thủ móc mồi và liên kết phao với dây triên, một thủy thủ xông dây thẻo, một thủy thủ trong hầm tang dây triên.

Mỗi tàu có từ 10 đến 15 thủy thủ được chia làm hai ca hoặc có thể hoán đổi vị trí cho nhau.

Hình 7.1: Khóa kẹp Hình 7.2: Móc khấu cá

6

Hình 7.3: Thu câu Hình 7.4: Móc khấu cá Khi thả câu đòi hỏi tàu phải ở dưới gió, dưới nước để tránh hiện tượng thẻo câu

hoặc triên câu vướng vào chân vịt gây sự cố cho tàu. Sau khi chuẩn bị xong, thủy thủ vào vị trí đã được phân công sẵn sàng đợi lệnh thả câu của thuyền trưởng. Khi thuyền trưởng phát lệnh, việc thả câu mới được bắt đầu.

Dây triên được đưa ra từ các tang chứa dây triên (tang quay trích lực từ máy chính), liên kết phao ganh với dây triên và tiến hành thả phao ganh đầu tiên (phao này được đánh dấu bằng cờ có màu sắc khác nhau so với các phao còn lại), dây triên và phao ganh đầu được ném xuống biển.

Khi dây triên được xông ra, thủy thủ làm nhiệm vụ liên kết dây thẻo với dây triên nhìn thấy chỗ đánh dấu liên kết thì tiến hành móc khóa kẹp của dây thẻo vào dây triên. Khi dây thẻo ra được một nửa thì tiến hành mở khóa xoay và buông dây triên.

Thủy thủ làm nhiệm vụ móc mồi và ném câu sẽ lấy lưỡi câu ra khỏi nẹp câu và lấy mồi, sau đó tiến hành móc mồi vào lưỡi câu. Mồi được mắc xong phải đảm bảo mồi câu như đang bơi tự nhiên, tiến hành ra dây thẻo vài vòng rồi ném mồi. Nếu công đoạn ném mồi không tốt thì có thể làm cho lưỡi câu mắc vào dây chính hoặc thẻo câu mắc vào dây chính gây rối vàng câu.

Thủy thủ móc mồi và liên kết phao với dây triên có nhiệm vụ chuẩn bị mồi sẵn sàng cho người móc mồi. Khi đến vị trí thả phao ganh thì tiến hành móc kẹp dây phao ganh vào phao và đưa cho người liên kết thẻo với dây triên đầu còn lại của dây phao ganh (để biết vị trí thả phao thì thủy thủy cần đếm số lưỡi câu (16 -18 lưỡi) bằng cách nhấc một lưỡi câu ra khỏi nẹp câu làm dấu).

Thủy thủ phụ trách tang có nhiệm vụ điều chỉnh tốc độ của máy tời sao cho dây triên ra đều và thay tang khi hết dây triên. Khi tang gần hết, chuẩn bị tang mới, giảm tốc độ quay của tang và móc khóa liên kết của đầu tang này với cuối tang kia.

Trong quá trình tiến hành thả câu, yêu cầu phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thủy thủ, các thao tác khi thực hiện phải dứt khoát, chính xác, an toàn. Trong công tác thả câu có thể xảy ra rất nhiều sự cố như: tuột dây tang, dây triên móc vào trục tời tang hoặc dây tang quấn vào tay chân vv… Các sự cố xảy ra trong quá trình thả câu gây nguy hiểm cho người lao động, làm ảnh hưởng đến quy trình sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất và phải tốn nhiều công sức để khắc phục sự cố.

7.5.3. Ngâm câu

Sau khi thả xong chiếc phao cuối cùng của vàng câu, thuyền trưởng giảm ga tắt máy chính cho tàu thả trôi tự do trên biển. Nếu sóng gió lớn tàu có thể thả neo nổi (neo dù) để định hướng mũi tàu dọc sóng nhằm giảm độ lắc ngang và tốc độ trôi của tàu so với câu. Vàng câu rời khỏi tàu và trôi tự do trên biển. Đây là thời gian ngâm câu, thời gian này kéo dài khoảng 4 ÷ 5

giờ. Để theo dõi sự trôi dạt của vàng câu theo chiều gió và nước, trên vàng câu được trang bị hệ thống phao vô tuyến (phao radio) hoặc phao có gắn cờ để phòng tránh hiện tượng mất câu.

Trong thời gian này thuyền trưởng bố trí sĩ quan trực ca (nếu là tàu câu công nghiệp), còn thuỷ thủ được nghỉ ngơi. Người sĩ quan trực ca dùng máy vô tuyến tầm phương theo dõi hoạt động của các phao vô tuyến để biết vị trí vàng câu trên biển đồng thời điều động tàu tiếp cận phao phát tín đầu tiên để thu câu khi sắp đến giờ thu câu.

Sau thời gian nghỉ ngơi, một số thuỷ thủ có thể tham gia khắc phục những hư hỏng của vàng câu để chuẩn bị cho mẻ câu sau.

7.5.4. Thu câu

Tàu tiếp cận với phao vô tuyến (hoặc phao cờ) đầu tiên của vàng câu từ phía dưới gió.

Thủy thủ trên tàu dùng sào móc hoặc dùng móc khấu 4 chấu liên kết với dây trên tàu ném qua dây triên, sau đó kéo dây triên, tháo gỡ phao ra khỏi dây triên và từ từ kéo phao lên boong tàu.

Lúc này một thủy thủ mở khóa kẹp, một thủy thủ thu thẻo câu, một thủy thủ tháo lưỡi câu và móc lưỡi vào nẹp, một thủy thủ thu dây phao, phao và cờ hiệu, ba hoặc bốn thủy thủ kéo cá lên, xử lý cá và bảo quản. Các vị trí làm việc cũng được hoán đổi cho nhau.

Dây triên lấy lên boong được luồn qua máy thu và dẫn dây triên tới tang chứa, người phụ trách hầm tang liên kết chặt dây triên vào tang. Tốc độ thu câu và tốc độ của tàu phải tương ứng, do vậy cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa người điều khiển tang và thuyền trưởng. Nếu tốc độ thu câu nhanh, tốc độ tàu chậm hoặc ngược lại thì rất dễ xảy ra sự cố đứt dây triên.

Khi thu câu, người mở khóa kẹp phải điều khiển máy thu dây và kiểm soát tốc độ thu dây triên, tháo khóa kẹp cho các thẻo câu và dây phao ganh, sau đó chuyển dây thẻo cho người thu thẻo và dây phao ganh cho người thu phao. Người tháo khóa kẹp phải chú ý quan sát dây chính từ xa để tránh mất cá và đảm bảo an toàn khi thu câu. Đây là công việc nguy hiểm, nếu sơ ý có thể gây ra tai nạn kẹp tay cho người lao động. Những tàu được trang bị máy thu thẻo câu rất dễ xảy ra tai nạn do lưỡi câu móc vào người.

Việc thu câu tiến hành thuận lợi hay không là do người thuyền trưởng điều khiển con tàu, tốt nhất là cho hướng mũi tàu tạo với đường dây triên một góc từ 300 đến 450.

Trong công đoạn thu câu thường gặp những sự cố như thẻo câu quấn vào dây chính, thẻo câu quấn vào nhau, thẻo câu hoặc dây triên quấn vào chân vịt, dây triên bị đứt... Những sự cố này làm ảnh hưởng đến hoạt động thu câu và dễ gây tai nạn cho người lao động.

Có những trường hợp khi thu câu dây triên bị đứt là do xuất hiện những vết rạn nứt làm cho dây giảm độ bền hoặc có thể do dòng chảy làm đứt dây. Lúc này tàu phải đi tìm vàng câu, nếu không có phao vô tuyến sẽ gặp rất nhiều khó khăn và có thể dẫn đến mất câu.

Một phần của tài liệu an toàn cho người và tàu cá (Trang 120 - 128)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(129 trang)