Các phương tiện cứu sinh

Một phần của tài liệu an toàn cho người và tàu cá (Trang 99 - 103)

Chương 6: AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC CỨU SINH, CỨU THỦNG,

6.2. Các phương tiện cứu sinh

Xuồng cứu sinh là một phương tiện cấp cứu tập thể dùng trên các tàu biển nhằm duy trì sự sống của cán bộ thuyền viên khi tàu bị chìm và chờ đợi tàu cứu.

Xuồng cứu sinh cũng được dùng làm phương tiện đi lại cho cán bộ thuyền viên trên mặt nước, từ tàu này sang tàu khác hay từ tàu vào bờ. Xuồng cứu sinh có nhiều loại khác nhau về sức chở, nguyên liệu và kết cấu.

Xuồng cứu sinh trên các tàu biển được treo trên các giá đỡ với đầy đủ các trang thiết bị cần thiết ở tư thế sẵn sàng làm việc. Các giá đỡ này cùng với hệ thống tời và palăng giúp cho việc nâng hạ xuồng được dễ dàng. Do cấu tạo và hoạt động của các giá cứu sinh khác nhau mà ta có các phương pháp thả khác nhau.

6.2.2. Qui trình an toàn trong việc hạ và thu xuồng cứu sinh trên biển 6.2.2.1. Hạ xuồng cứu sinh trên biển

- Tàu phải giảm tốc độ, đổi hướng cho tàu chịu gió ở bên mạn sao cho xuồng cứu sinh chuẩn bị hạ nằm ở mạn dưới gió. Nếu cần thiết thì thả dầu ép sóng.

- Dùng đệm đệm kỹ bên mạn để đề phòng tàu đập vỡ xuồng. Thuyền viên phải giữ

chặt dây an toàn.

- Chọn thời điểm thích hợp để hạ xuồng. Nói chung thường sau chừng 2, 3 con sóng lớn, tàu bớt lắc thì lập tức hạ xuồng xuống nước. Khi thả xuồng nếu tàu chạy tới thì phải thả dây sau lái trước, sau đó thả dây mũi. Khi tàu chạy lùi thì làm ngược lại.

Lưu ý: Khi thả xuồng cứu sinh phải thả dây và xuống xuồng cho đều, dây cố định cần cố định chặt chẽ, phải có phần dây dự trữ để khi thả xuống nước có sóng lớn không làm xuồng ghì lại.

- Ngay sau khi xuồng đến mặt nước, lập tức tháo móc hãm mũi và lái xuồng (tốt nhất là có hệ thống móc trượt tự động). Nếu không kịp mở đồng thời hai móc thì nên tháo móc lái trước tiên, sau đó tháo móc mũi. Nếu không thể tháo được thì dùng rìu chặt đứt dây.

- Sau khi tháo móc cần giữ một khoảng cách nhất định với tàu, đầu tiên dùng bánh lái làm cho xuồng tách ra xa tàu, sau đó chuẩn bị chèo, mở dây mũi tiến tới (chú ý khi sóng gió lớn nên cố gắng bắt dây mũi thật dài, bắt ở mũi tàu lớn).

- Đối với xuồng máy thì khi xuồng còn đang lơ lửng nên khởi động cho máy chạy không tải, sao cho khi xuồng vừa chạm mặt nước lập tức chạy ngay cho xuồng nhanh chóng rời tàu.

6.2.2.2. Thu xuồng cứu sinh

- Tàu phải giảm tốc độ, bẻ lái về phía trên gió của xuồng cứu sinh sao cho xuồng cứu sinh nằm ở dưới gió, sau đó dừng máy giữ nguyên hướng ném dây ném cho xuồng.

- Chuẩn bị dây cẩu xuồng, móc, hạ xuống nước ở độ cao thích hợp. Dùng dây keó cho xuồng gần đến móc xuồng.

- Bộ phận thao tác trên tàu chuẩn bị sẵn sàng ngay khi người ở trên xuồng cứu sinh bắt chặt hai móc thì phải lập tức kéo xuồng lên khỏi mặt nước. Khi cẩu xuồng lên nếu tàu chạy tới thì kéo dây mũi trước rồi kéo dây lái sau, nếu tàu chạy lùi thì làm ngược lại.

- Đề phòng xuồng va đập vào mạn tàu cần phải có hai người lo điều chỉnh dây mũi và dây lái của xuồng, hai người khác dùng đệm đệm va mạn xuồng. Nếu cần, dừng kéo xuồng đợi xuồng ổn định sau đó tiếp tục kéo.

- Tháo nút lỗ thoát nước cho nước trong xuồng thoát ra ngoài sau khi xuồng đã được treo vào vị trí cũ.

Để bảo đảm an toàn trước khi thả xuồng phải khẳng định chỗ thả xuồng không có bất kỳ một chướng ngại vật nào. Mỗi thuyền viên phải biết rõ nhiệm vụ của mình khi có báo động cứu sinh, phải biết chèo và sử dụng xuồng cứu sinh. Nghiêm cấm chở người và hàng hoá vượt quá mức tải trọng cho phép. Trên xuồng phải ghi rõ mức tải trọng và phạm vi sử dụng ở đầu mũi xuồng.

- Khi ở trên xuồng cấm đứng, ngồi hoặc đi lại trên be giả, di chuyển vị trí khi chưa có lệnh của người chỉ huy xuồng.

- Không được sủ dụng xuồng khi không có dấu của đăng kiểm, không cho phép người chưa có kinh nghiệm, không nắm được kỹ thuật nâng hạ xuồng cứu sinh.

Hình 6.1: Xuồng cứu sinh 6.2.2.3. Công tác bảo quản xuồng cứu sinh

- Tất cả các xuồng cứu sinh trên tàu phải được che đậy cẩn thận và có dây chằng, móc bảo hiểm để tránh cho xuồng khỏi bị va đập khi tàu lắc.

- Thường xuyên kiểm tra độ kín nước của vỏ xuồng, nếu là xuồng vỏ sắt thì phải định kỳ sơn chống gỉ.

- Sau mỗi lần hạ thuỷ hoặc trời mưa mà có nước vào thì phải tháo nút lỗ thoát nước để chống mục xuồng (đối với xuồng bằng gỗ) hoặc chống gỉ (đối với xuồng bằng sắt). Sau đó đóng nút cẩn thận.

- Thường xuyên bôi mỡ dây cáp, các hệ thống bánh răng, kiểm tra hệ thống dây chằng, palăng.

- Đối với xuồng máy định kỳ chạy thử máy, kiểm tra dầu mỡ, phát hiện kịp thời hư hỏng tiến hành sửa chữa.

- Các dây treo cứ 6 tháng đổi đầu dây một lần, sau một năm phải thay dây mới.

- Định kỳ kiểm tra: Hàng tháng kiểm tra toàn bộ xuồng cứu sinh một lần. Sửa chữa những chỗ hư hỏng và bổ sung những thứ còn thiếu hụt. Thường xuyên thay nước ngọt, 6 tháng kiểm tra lương khô một lần để xem có bị biến chất hay không. Định kỳ kiểm tra nắp két lương khô, két nước ngọt, két dụng cụ. Thời tiết tốt nên đem phơi buồm, dây và các thứ dễ bị ẩm ướt.

6.2.3. Bè cứu sinh bơm hơi tự thổi (Inflatable Liferaft) 6.2.3.1. Giới thiệu chung

Bè tự thổi làm bằng ny lon tráng cao su có mái che, nổi bằng cách tự bơm khí sau khi ném xuống nước. Bè được ép và xếp lại trong hộp bằng chất dẻo trong đó chứa tất cả dụng cụ cần thiết kể cả bình khí nén dùng để bơm vào bè. Bè được đặt ở nơi qui định trên boong tàu.

Bè cứu sinh bơm hơi là một phương tiện cấp cứu tập thể. số lượng người mà bè có thể chở được là 6,8,10 hay 20 người nhưng số lượng tổng cộng của người cùng với bè và trang thiết bị không được vượt quá 180 KG. Số lượng người thấp nhất cũng không nhỏ hơn 6 người.

Hình 6.2: Bè cứu sinh bơm hơi tự thổi 6.2.3.2. Cách thả bè tự thổi xuống nước

* Trường hợp 1: Hộp bè tự thổi được đặt trên giá đỡ gần mạn tàu, giá có độ nghiêng nhất định, muốn thả xuống nước chỉ cần đạp móc trượt, hộp bè sẽ tự lăn xuống nước. Trong bè có một đường dây, một đầu dây đưa ra ngoài buộc vào giá bè còn đầu kia nối với van bình khí nén (CO2). Khi hộp bè rơi xuống nước nhờ dây kéo đã buộc cố định trên tàu làm cho van bình khí nén mở ra, dung dịch CO2 trong buồng khí nén bốc hơi từ thể lỏng sang thể khí tự động bơm vào trong bè làm cho bè căng ra vỏ bè tự tách, bè nổi trên mặt nước với mái che có sẵn và đầy đủ dụng cụ trong đó.

* Trường hợp 2: Cũng có trường hợp vì tàu bị nghiêng, sau khi tháo móc trượt bè không thể tự lăn xuống nước thì phải khiêng bè ném xuống nước. Sau khi tháo dây bảo hiểm (2) xong thì hai thủy thủ có sức khỏe nhất nâng toàn bộ khối phao (cả vỏ và phao) ném xuống nước như một cái thùng thả nổi.

- Giật dây: Khi khối vỏ và phao xuống nước thì vỏ bảo vệ tự tách ra nhờ lực tác dụng của nước lên vỏ hộp và động năng rơi của vỏ hộp. Khi độ dài dây xông ra được 80 feet = 27,84m thì ta cầm dây giật mạnh van bơm hơi mở và phao bè được tự động bơm căng. Thời gian bơm căng phao khoảng 30 giây.

- Khi phao bè được bơm căng và mui che căng lên thì với độ căng xác định ta có thể nhảy xuống bè, nếu không thì nhảy xuống nước sau đó bơi tiếp cận phao bè và trèo lên thang dây ở cửa bè.

- Khi phao bè đã tự nổi thì van an toàn ở trên đó cũng được tự động mở ra đồng thời còi tín hiệu báo động kêu lên báo động cấp cứu. Cuối cùng khi thuyền viên lên hết trên phao thì dùng con dao dự trữ chặt dây liên kết (3) và cho phao bè rời tàu.

- Nếu trong trường hợp bè đã được thổi khí mà bề bị lật ngược thì cần một người bơi tiếp cận ở phía cuối gió đạp lên dây bè cho một phần bè dìm xuống nước sau đó kéo mạnh dây bè phía mép trên gió nhờ sức gió đẩy làm cho bè lật ngược lại.

6.2.3.3.Công tác bảo quản

Phao bè tự thổi là phương tiện cứu sinh ở trên tàu, do đó phải thực hiện nghiêm túc qui định về an toàn và bảo quản.

- Nghiêm cấm việc xê dịch vị trí phao bè cũng như gây chấn động và va chạm mạnh vào phao bè.

- Không được mở ra tuỳ tiện và thay đổi vị trí các dây đai, bảo đảm thao tác đúng kỹ thuật.

- Chú ý an toàn tính mạng thuyền viên khi sử dụng phao bè đặc biệt là đối với bình khí nén ở trong phao có áp lực cao (5KG/cm2) sẽ ảnh hưởng xấu đến tính mạng con người.

Cấm không được mở phao để lấy đồ đạc trong đó.

Một phần của tài liệu an toàn cho người và tàu cá (Trang 99 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(129 trang)